TRIỀU THIÊN NHẤT CÔN [LUẬN ANH HÙNG]

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Triều thiên nhất côn [luận anh hùng] - Chương 86 - Chương 90

Chương 86: Minh đầu đến minh đầu đánh, ám đầu đến ám đầu đánh

Đêm hôm đó, trước khi đi tới “rừng đen”, Tam Cô đại sư nói với mọi người:

- Mọi người cẩn thận, nơi này rất tối, lão nạp mở đường cho chư vị, nhưng vẫn xin lưu ý trước mặt.

Lương A Ngưu nghe vậy liền lầu bầu:

- Cái gì lưu ý trước mặt, chúng ta cả tám trăm dặm đều lo lắng đề phòng, một cái rừng đen có là gì.

Ôn Nhu cũng theo ánh trăng chỉ về phía xa, cười hỏi:

- Rừng đen, là một mảng rừng rậm lớn phía trước sườn núi kia sao? Có vẻ hơi dày đặc, thoạt nhìn cũng không có gì. Chúng ta núi đao biển lửa cũng đã xông qua, cũng không cảm thấy đao quá sắc, lửa quá nóng, cánh rừng đen này cũng không thể nhuộm người sáng láng thành bồ đề đen chứ.

Nói xong liền cười lên yêu kiều.

Tam Cô đại sư biết bọn họ cũng không thèm để ý, liền nói:

- Lão nạp vẫn khuyên chư vị cẩn thận là hơn.

Tuổi tác của y không lớn lắm, còn chưa biết là nam hay nữ, lại thường thích tự xưng là “lão nạp”. Mọi người đều rất không đồng ý cái danh hiệu này của y.

Vương Tiểu Thạch thấy thế liền cười nói:

- Tại khu vực này “rừng đen” cũng có chút tiếng tăm, ở trên giang hồ cũng có thành tựu.

Phương Hận Thiếu cũng nghe được một số tin đồn, vì vậy phối hợp với đề tài của Vương Tiểu Thạch, nói:

- Đúng, từng có không ít nhân vật nổi tiếng trong võ lâm ngã xuống ở đây.

Ôn Nhu vẫn không lưu tâm, chỉ ngạc nhiên hỏi:

- Rắn sâu chuột kiến, độc vật mãnh thú trong rừng này lợi hại như vậy sao?

Vương Tiểu Thạch nói:

- Nơi này địa hình kỳ quái, nơi ao đầm chướng khí rất nặng, không cẩn thận rất dễ sa chân, không thể không đề phòng. Hơn nữa trong rừng này mỗi cây mỗi lá, mỗi cọng cỏ, mỗi hòn đá đều có màu đen, bùn cũng màu đen, cây dày và đặc, rắc rối phức tạp, đường xá khó phân. Buổi tối vào rừng, lần mò trong đêm, có thể nói là đưa tay không thấy năm ngón, phải cẩn thận bị người khác thừa cơ hội.

Lương A Ngưu vẫn không để trong lòng:

- Hoàn cảnh hiểm ác, ai chưa từng qua? Một cánh rừng, bà nội nó nhiều nhất chỉ có thể biến ra một đám ma quỷ. Họ Lương ta còn muốn bắt quỷ đây.

Nói đến chuyện ma quỷ, Ôn Nhu lại có vẻ biến sắc.

Nàng không sợ trời, không sợ đất, nhưng sợ nhất là chuyện về ma quỷ và cái từ quỷ này.

Vì vậy nàng lại bắt đầu oán trách:

- Nếu nơi này có nguy hiểm, sao phải buổi tối mới vào rừng? Trời sáng ban ngày, không phải bình an hơn sao. Đây không phải là rãnh rỗi không chuyện gì, tự mình tìm khổ sao.

Vương Tiểu Thạch khéo léo nói:

- Cô có điều không biết. Nơi này nếu đi qua vào ban ngày, mặt trời vừa chiếu, khí trời chuyển nóng, chướng khí sẽ mạnh, độc khí mờ mịt. Có lẽ ngoại trừ ma núi, cương thi không hô hấp, không ai có thể qua được cánh rừng lớn như thế này. Cho nên không chờ đến ban đêm thì thật sự không qua nổi khu rừng này.

Vương Tiểu Thạch vừa nhắc tới ma núi, cương thi, Ôn Nhu vừa nhíu mày vừa nhăn mặt, giậm chân cắn môi nói:

- Bảo ngươi đừng nhắc tới cái đó… cái đó, ngươi còn nói!

Vương Tiểu Thạch cười bồi nói:

- Tam Khô đại sư muốn vào rừng buổi tối, cũng là do bất đắc dĩ, muốn tốt cho mọi người, mọi người vẫn nên cẩn thận một chút thì hơn. Ta thấy mấy ngày qua y lúc đi lúc dừng, lúc chậm lúc nhanh, có lúc ngày đêm đi gấp, có lúc ngày nghỉ đêm đi, chính là muốn chọn thời cơ tốt nhất vượt qua mấy cửa khẩu quan trọng này.

Tam Khô nghe vậy liền nhìn Vương Tiểu Thạch một cái, trong mắt có lòng biết ơn vô hạn.

Y biết y không uổng công, bởi vì dù sao cũng có người hiểu rõ nỗi khổ tâm của y.

Vương Tiểu Thạch cũng sâu sắc nhìn Tam Khô một cái, trong mắt cũng có ý cảm tạ không nói hết.

Hắn hiểu rõ tất cả mọi thứ đối phương làm cho bọn họ, thậm chí biết không thể dùng lời cảm ơn để biểu đạt.

Hai người khẽ gật đầu, giống như vái chào.

Ôn Nhu lại nhìn không vừa mắt.

Nàng hậm hực nói:

- Quỷ thì quỷ, âm thì âm, cái gì rừng đen hay không rừng đen, Ôn Nhu ta tay chân cứng tay cứng xông qua cửa ải của nó, không cần liếc ngang liếc dọc.

Tam Khô vội nói:

- Trên đường chúng ta dừng dừng đi đi, quả thật là phải chọn đúng thời cơ, đi qua bốn cửa ải lớn phía trước. “Rừng đen” chính là cửa thứ nhất. Ta chọn tối nay có ánh trăng chiếu sáng, thừa dịp này vượt qua, có thể đề phòng trong tối có biến. Đáng tiếc trời có gió mây bất trắc, tối nay gió lớn, mây dày nổi lên, chỉ sợ mây trôi che trăng, đây là chuyện không ai có thể dự đoán được. Lúc có ánh trăng dễ đi một chút, lúc không có ánh trăng chỉ có xông xáo. Tốt nhất mọi người nên nối đuôi nhau mà đi, đầu đuôi phối hợp, để Đường cự hiệp đi chính giữa.

Mọi người thấy y nói rất nghiêm túc, cũng không dám xem thường.

Bọn họ do Tam Khô đại sư mở đường, Vương Tiểu Thạch đoạn hậu, Đường Thất Muội và Lương A Ngưu một trước một sau kèm Đường Bảo Ngưu ở giữa.

Đường Bảo Ngưu cũng lặng lẽ đi ở chính giữa đoàn người này.

Nếu đổi lại là ngày thường, hắn nhất định sẽ cho rằng để hắn đi ở giữa là được người khác bảo vệ, là sỉ nhục lớn lao, là khinh thường năng lực của hắn, hắn tuyệt đối sẽ không chấp nhận.

Hắn hiện nay lại không kêu một tiếng, không nói lời nào, chỉ đi theo mọi người.

Hắn là nhẫn nhục chịu đựng?

Hay là không tranh khí thế?

Hay là căn bản không có cảm giác, đã mất đi cảm giác?

Một đại hán dũng mãnh như thiên thần, hiện nay lại thường lặng lẽ rơi lệ, tâm thần chán nản, rốt cuộc là mất đi đấu chí, hay là không còn tình cảm?
Trăng chiếu xuống đầu.

Rừng đen dưới ánh trăng đặc biệt sáng.

Nhưng nếu một người trong lòng uất ức, âm u, trăng có sáng, trời có sáng, cũng chiếu không vào đầm sâu không đáy trong lòng hắn.

Không phải sao?

- Không phải sao?

Ôn Nhu phát hiện, trong rừng mặc dù từng cọng cây ngọn cỏ đều có màu đen, nhưng bởi vì luôn có ánh trăng từ giữa lá giữa cây chiếu vào, đi lại trong lòng cũng bình yên hơn nhiều, liền nói:

- Nơi này cũng chẳng có gì mà.

Phương Hận Thiếu cố ý hỏi nàng:

- Không có cái gì?

Ôn Nhu liền dứt khoát nói ra hết:

- Không hề đáng sợ chút nào, ta còn tưởng là địa phủ minh cung gì chứ, hóa ra chỉ là một cánh rừng hơi tối một chút.

Nàng nói đến đây, chợt nghe cú đêm hay là thứ gì kêu lên mấy tiếng, còn có thứ gì dùng sức vỗ cánh hay ngực, hơn nữa còn lướt qua giữa mấy gốc cây phía sau nàng, phát ra một tiếng “vèo”. Trong một lùm cỏ dày trước người không xa còn vang lên mấy tiếng rên rỉ giống như người sắp chết kêu gào.

Ôn Nhu nghe được mặt mày thất sắc, cũng không nói chuyện nữa. Chỉ nghe Tam Khô đại sư ở phía trước vẫn đang nói:

- Lưu ý dưới chân, chú ý trước mặt.

Ôn Nhu bị dọa đến trong lòng rộn ràng như nai đạp, chỉ mong sao không để ý đến thứ gì thì tốt hơn. Lúc đầu nàng cảm thấy mình càng đi càng nhanh, nhưng đến chỗ cánh rừng hơi có khoảng trống, vừa nhìn mới biết, hóa ra không phải mình đi nhanh, mà là trăng đi nhanh; lại đi thêm một đoạn, lúc này lại giác ngộ cũng không phải trăng đi nhanh, mà là đám mây theo gió lang thang cuồn cuộn bay nhanh.

Lần này mới hiểu rõ dụng ý của Tam Khô đại sư khi chọn buổi tối có có ánh trăng chiếu khắp để đi qua khi rừng rậm này, nếu là mùng một đến mùng năm, hoàn cảnh hiểm ác, muốn vượt qua cánh rừng này e rằng không phải là chuyện dễ dàng.

Có điều hiện giờ đã đi hơn một nửa cánh rừng, trông thấy không hung không hiểm, nhưng cái đám bằng hữu ham ăn biếng làm đáng ghét nhất thế gian bên cạnh mình, ngày thường luôn nói mình nhát gan, lần này phải uy phong một chút cho bọn hắn xem thử, mới coi như không uổng cái danh hiệu “Ôn nữ hiệp” này.

Làm sao để uy phong?

Phải tìm một người dọa cho hắn hết hồn mới được!

Ôn Nhu nghĩ tới đây, người đầu tiên nghĩ đến dĩ nhiên không ai khác ngoài La Bạch Ái.

Hà hà hà hà hà, La Bặc Cao, xem bản cô nương lần này không dọa chết ngươi cũng phải dọa cho ngươi đái ra quần mới được!

Do đó nàng khẽ nhón chân, lặng lẽ rời đội đi về phía trước, nhẹ nhàng bước đến phía sau La Bạch Ái, dùng sức vỗ vào cánh tay hắn, hét lên một tiếng:

- A ha!

Sau đó nàng vui mừng phấn khởi, suy nghĩ chủ quan, tưởng tượng đến cảnh La Bạch Ái bị nàng dọa đến ba hồn không thấy bảy phách, phân chó trở thành rác rưởi.

Có câu là “hi vọng càng cao, thất vọng càng lớn”, tình hình chính là như vậy.

La Bạch Ái cũng không phải không bị dọa, mà là hắn bị Ôn Nhu dùng sức vỗ một cái, lại lớn tiếng gọi, hắn lập tức xoay người, lộ ra biểu tình kinh sợ trong bảy loại biếu tình, hơn nữa còn nói rõ ràng:

- Ai, da! Ta, dọa, chết, ta, rồi, dọa, chết, ta, rồi, thật, bị, cô, dọa, chết, rồi!

Mọi người nghe vậy cũng không nhịn được ầm lên, sự khẩn trượng suốt đêm đi trong rừng rậm cũng giảm đi không ít.

Tên ranh con này làm sao lại sớm đề phòng ta sẽ tới dọa hắn?
Thật là quá đáng.

Lần này dọa hắn không chết, lần tới phải dọa cho hắn mất hồn mất vía nửa điên nửa khùng mới tiêu tan mối hận trong lòng này!

Ôn Nhu trăm điều không thể lý giải, nàng lại quên mất trên đời có một thứ gọi là cái bóng.

Có ánh trăng thì sẽ có bóng.

Ánh trăng tuy dịu, nhưng cũng là ánh sáng.

Dưới ánh trăng đương nhiên cũng có bóng, cái bóng này còn có một tên gọi rất đẹp, đó là “bóng trăng”.

Lúc Ôn Nhu đến gần dọa người, La Bạch Ái luôn luôn nhạy bén linh hoạt, phản ứng còn cao hơn võ công thực lực, đương nhiên đã sớm phát hiện ra.

Ôn Nhu muốn dọa hắn.

Làm sao đây?

Lại không thể tránh.

Bởi vì cô gái nhỏ này rất biến thái, một khi dọa không được, sau này cho dù có tắt thở, chỉ sợ nàng cũng phải lôi tử thi ra khỏi hòm dọa cho không chết không thôi mới cam tâm.

Cũng chỉ đành để cho nàng dọa.

Do đó La Bạch Ái liền giả vờ lộ ra biểu tình kia.

Chẳng ngờ Ôn Nhu vẫn không hài lòng, còn hết sức không hài lòng.

Nàng cho rằng La Bạch Ái cố ý nhạo báng nàng, cho nên càng bất phẫn bất bình.

Lúc này, Tam Khô ở phía trước lại tận tình khuyên bảo dặn dò:

- Cẩn thận dưới chân, đừng rời hàng ngũ, lưu ý trước mặt, đừng khinh đừng lơ.

Vương Tiểu Thạch ở phía sau cũng nhắc nhở:

- Lúc này cũng đừng chơi đùa nữa, vẫn nên đề phòng…

Ôn Nhu nghe vậy, trong lòng càng không vui.

Lải nhải như vậy, chẳng vui vẻ chút nào!

Nghiêm túc đi như vậy, giống như cái gì? Coi là cái gì? Chẳng khác nào đội ngũ cản thi (điều khiển thi thể) của Tương Tây.

Nghĩ đến “cản thi”, trong đầu Ôn Nhu hiện lên một hình ảnh, liền cảm thấy sợ hãi. Đi được mấy bước, dưới chân nàng bỗng mềm nhũn, trước mắt tối sầm, mọi thứ đều giống như bị một túi vải lớn màu đen che lại, không nhìn thấy thứ gì, tất cả đều biến mất, tối đen.

Ôn Nhu muốn giãy dụa, nhưng trước mắt đều là màu đen, nàng lại lệch khỏi đội ngũ, lại khổ vì hét không ra tiếng, chỉ cảm thấy trong một chùm nước đen u ám giống như có ma quỷ yêu phách, đang quấn lấy tay chân của mình, kéo vào trong lòng đất.

Nàng giãy không ra, cũng vùng không thoát.

Nàng gọi không ra, cũng hét không được.

Giống như một cơn ác mộng, một ác mộng màu đen trong đêm tối.

Nàng hoảng sợ, trong lòng vẫn luôn kêu la: “Chết rồi chết rồi chết rồi chết rồi, lần này gặp quỷ rồi, lần này chết chắc rồi…”

Cho đến khi trong tai nghe được một tiếng kêu:

- Minh đầu đến minh đầu đánh, ám đầu đến ám đầu đánh! Bốn phương tám hướng đến toàn phong đánh, hư không đến liên giá đánh, đánh đánh đánh đánh đánh! (1)

Tiếng kêu đánh liên tục này giống như một tiếng sét đánh vào nàng, khiến nàng tỉnh lại.

Lúc này nàng mới nhìn thấy một chút ánh sáng.

Ánh trăng.

Còn có một chút ánh sáng khác.

Một thanh phương tiện sạn (vũ khí giống như của Sa Tăng) làm bằng thép tinh bay múa dưới ánh trăng, miệng sạn phản chiếu ánh trăng tỏa ra ánh sáng lạnh.

Lúc này Ôn Nhu mới xem như là “tỉnh” lại, cũng đứng lên.

Tiếp đó, nàng phát hiện không phải mình “đứng” lên, mà là được người ta “đỡ” lên.

Người đỡ nàng là Vương Tiểu Thạch.

Trước mắt lại có người đang liên tục hét lên, giao thủ, chiến đấu.

Người ra tay là Tam Khô đại sư, y (hay là nàng?) trước người, sau người, trái người, phải người đều có mấy điểm đen bóng đen, giống như yêu mị trong đêm tối nhìn chằm chằm vào đại sư vung vẩy phương tiện sạn này. Ôn Nhu chỉ liếc mắt nhìn, liền phát hiện mấy cái bóng đen đáng sợ kia chính là “sự vật” vừa rồi dính lấy mình, mặc dù nàng còn không biết vừa rồi đã xảy ra chuyện gì, hiện giờ rốt cuộc là chuyện gì xảy ra?

Chú thích:

(1) Ý của câu này muốn nói, khi ý niệm của thanh minh xuất hiện, ta sẽ đoạt quán chiếu của thanh minh, không lưu vết tích. Nếu phát giác được vô niệm, ta cũng đoạt giác tri của vô niệm này. Liên giá là một công cụ dùng để tuốt lúa thời xưa, ý là hễ có phát hiện tác ý vết tích nhỏ bé của tâm niệm, đều khiến nó rơi ra, cho đến vô tướng.

Quán chiếu (Contemplation) không khác mấy đối với sự tập trung, mặc dù nó là sự tập trung, nhưng ở đây sự chú tâm của hành giả thật kiên cố và chặt chẽ. Do đó, quán chiếu là giai đoạn phát triển toàn diện của sự tập trung. Quán chiếu mở lối cho trí tuệ trực giác và nhiều năng lực siêu nhiên khác mà người ta thường gọi là những năng lực huyền bí, và chúng ta có thể đạt đến những năng lực này ngay cả trước khi đạt đến trạng thái Niết Bàn.

Giác tri là một loại thể nghiệm, hoàn toàn tập trung sự chú ý vào những kích thích bên trong và bên ngoài cá thể vào giây phút này.

Tác ý (manasikara) là chủ động ý chí khi tiếp chạm đối tượng. Ví dụ khi thấy sự ác, mình chủ động ý chí loại trừ nó ra khỏi tâm trí. Vì việc diệt niệm ác khởi lên trong tâm thuận theo giáo lý của Đức Phật, thuận theo sự tiến hóa tâm linh đưa đến giải thoát nên gọi là “như lý tác ý” hay “theo lý tác ý” cũng được. Ngược lại chấp nhận niệm ác để nó tồn tại và giúp nó phát triển thì gọi là “phi như lý tác ý”.

Chương 87: Diệt lửa trong lòng sẽ mát mẻ

Hóa ra Ôn Nhu thật sự đạp một chân vào trong cạm bẫy.

Cạm bẫy này đương nhiên là do đám người Bạch Cao Hứng, Thái Cảm Động, Ngô Khai Tâm, Hách Âm Công bố trí.

Mục tiêu thiết yếu của bọn họ đương nhiên là Vương Tiểu Thạch.

Lỡ may không trúng Vương Tiểu Thạch, bắt được Ôn Nhu cũng như vậy.

Cho nên bọn họ hành động trong bóng tối.

Bọn họ đương nhiên mai phục không trúng Vương Tiểu Thạch, cho nên đành phải mai phục Ôn Nhu.

Lúc Ôn Nhu trúng phục kích, vừa lúc có mây đen che mờ ánh trăng, trời đất ảm đạm.

Trong khu rừng rậm này không chỉ tối đi, mà là hoàn toàn tối tăm.

Bọn họ lập tức cuốn lấy Ôn Nhu, bắt lấy nàng còn đang kinh hoảng, muốn nhanh chóng mượn địa hình bỏ chạy.

Nhưng lại không đi được.

Đáng tiếc không đi được.

Bởi vì một người đã ngăn cản bọn họ.

Đó là một gã đại sư.

Đại sư vác hai cái bọc hành lý, cầm thiền trượng trong tay, trên thiền trượng có chín vòng tròn, vừa chuyển động liền phát ra tiếng leng keng.

Chiêu thứ nhất của đại sư lại không phải dùng thiền trượng, mà là dùng tay.

Dùng tay tóm một cái.

Cái tóm này đã đoạt lấy Ôn Nhu từ trong tay Đại Tứ Hỉ, bốn người còn định đuổi theo đoạt lại, liền gặp phải thiền trượng của đại sư.

Bốn người đều dùng chiêu thức và thế công thâm độc nhất vây lấy đại sư, nhưng lại không hữu dụng.

Lúc này mây đã tan, trăng đã hiện.

Trăng chiếu mặt đất.

Ôn Nhu đã thoát hiểm.

Vương Tiểu Thạch đã đứng bên cạnh nàng.

Hách Âm Công tấn công đầu của Tam Khô, Tam Khô nhẹ nhàng vung trượng, ngăn cản thế công, lại phản kích vào đầu Hách Âm Công. Bạch Cao Hứng tấn công lưng của Tam Khô, Tam Khô nhẹ nhàng hóa giải, tránh khỏi thế tới, lại đánh vào lưng Bạch Cao Hứng. Ngô Khai Tâm tấn công thân dưới của Tam Khô, Tam Khô lần lượt nhảy tránh, đạp chân bay đá Ngô Khai Tâm. Thái Cảm Động muốn phong tỏa thiền trượng của Tam Khô, Tam Khô tay vung mắt nhìn, bóng trượng như núi, phong tỏa Thái Cảm Động trong trượng pháp của y.

Bốn người tuy như quỷ như mị, nhưng đại sư chỉ cất giọng quát lên:

- Minh đầu đến minh đầu đánh, ám đầu đến ám đầu đánh, bốn phương tám hướng đến toàn phong đánh, hư không đến liên giá đánh, người đến người đánh, yêu đến yêu đánh, thần đến thần đánh, quỷ đến quỷ đánh, không đến không đánh, đến rồi thì đánh, ta thê! Đánh đánh đánh đánh đánh đánh đánh!

Chỉ thấy Hách Âm Công động thủ, Hách Âm Công bị đánh. Thái Cảm Động xuất chiêu, Thái Cảm Động bị đánh. Bạch Cao Hứng tấn công, Bạch Cao Hứng bị đánh. Ngô Khai Tâm muốn công, Ngô Khai Tâm bị đánh.

Bốn người đều bị đánh, nhưng cũng không ai chết, càng không bị thương, cũng không chảy máu.

Hiển nhiên là Tam Khô đại sư đã tha mạng, nương tay.

Bốn người Đại Tứ Hỉ biết không ổn, đánh tiếp cũng chỉ có phần bị đánh. Nếu đối phương muốn giết bọn hắn, bọn hắn đã sớm chết đến rừng đen, rừng trắng, rừng đen trắng rồi, Vì vậy đưa mắt ra hiệu với nhau, đều biết tình thế không ổn, hô lên một tiếng, từng người lăn, trốn, lui, tản, hoàn toàn chạy trốn không thấy bóng dáng, đi không tung tích.

Tam Khô cũng không truy kích, chỉ chống trượng mỉm cười.

Dưới ánh trăng, quần áo của y trắng như tuyết, giống như nhân vật trong tranh.

Nhưng Lương A Ngưu lại đang giống như thế lửa đầu gió, sát ý chưa tiêu, cầm một đôi sừng trâu muốn đuổi theo giết chết bốn người kia.

Vương Tiểu Thạch khuyên nhủ:

- Giặc cùng đường đừng nên đuổi.

Lương A Ngưu vẫn tức giận:

- Mấy tên chó má này đã theo dõi chúng ta một thời gian dài, mấy lần ám toán không được, hôm nay thiếu chút nữa còn bị hại trong tay bọn chúng, lại để cho bọn chúng muốn đi là đi sao?

Tam Khô đại sư đưa tay ngăn cản Lương A Ngưu, nói:

- Khuyên người phải có lòng khoan dung, bọn họ rốt cuộc cũng không đắc thủ, chúng ta cần gì phải giết người?

Lương A Ngưu vẫn không cam lòng:

- Chẳng lẽ phải chờ đến khi bọn chúng đắc thủ giết người của chúng ta rồi mới đánh trả? Ông là người xuất gia, kiêng sát sinh, còn họ Lương ta từ trước đến nay một ngày giết bảy người tám người không nháy mắt, giết bảy mươi tám mươi người không đỏ mắt, giết bảy tám trăm người cũng không nương tay.

Tam Khô chỉ khuyên nhủ:

- Nếu như bọn họ không sợ, không thay đổi, không biết hối cải, sớm muộn gì cũng sẽ trở lại tập kích, khi đó lại giết cũng không muộn, không cần vội vã nhất thời. Cứu người cần nhanh, không nhanh thì không cứu được người; giết người cần chậm, chậm có thể tha thêm một mạng.

Lương A Ngưu khí như chưa tiêu, lửa còn đang cháy:

- Tha cho loại tạp chủng rác rưởi này? Lại để bọn chúng đi hại người sao!

Tam Khô không nhịn được nhíu mày một cái, chỉ nói:

- A Di Đà Phật, chúng ta cũng không thể vì vậy mà danh chính ngôn thuận hại mạng người trước.

Đôi sừng trâu trên tay Lương A Ngưu ma sát một cái, lại phát ra tia lửa. Hóa ta hắn lại khảm lưỡi dao vào bên cạnh sừng trâu, có lẽ là ngại sừng trâu không đủ sắc đủ bén, chỉ sợ đâm xuống người không chết được?

Vương Tiểu Thạch cố ý chuyển đề tài của hắn:

- Binh khí này của ngươi thật đặc biệt, trên giang hồ trừ ngươi ra không ai có thể dùng xứng tay, chẳng những là kỳ môn binh khí, còn là vũ khí ít được chú ý.

Lương A Ngưu nhìn sừng trâu trên tay mình một chút, miệng rộng khép mở mấy cái, nhất thời lại nói không nên lời.

Hà Tiểu Hà hừ một tiếng nói:

- Đó là bảo bối của hắn. Nhà hắn có một con trâu, nuôi mấy chục năm, có cảm tình sâu đậm. Lúc nó chết đi, hắn còn thương tâm hơn so với lão bà chết, từ đó cũng không ăn thịt trâu nữa, còn cắt sừng trâu xuống làm binh khí để dùng, dùng nó giết người, lỡ may không đánh lại, vì tình cảm cũng sẽ dùng nó để tự sát.

Lương A Ngưu có phần cảm kích nhìn Hà Tiểu Hà, nói:

- Nó là con trâu già nhà ta nuôi, ta gọi nó là “A Trung”. Lương gia ta ba đời đều nhìn nó lớn lên, già nua, cuối cùng chết đi. Nó cúc cung tận tụy, đã thông tính người. Nó còn trung hơn cả nô bộc trung thành. Nó chết rồi, ta giữ lại một đôi sừng trâu của nó, đời này đều theo ta sống chết. Có cảm tình mấy chục năm, đó là cắt không đứt, bỏ không được. Con người liệu có mấy lần mấy chục năm? Ngoài ra còn có một chiếc sừng khác, đó là kỷ niệm lần gặp phải một con tê ngưu (tê giác) bệnh chết. Không tới giây phút sống chết, ta sẽ không dùng đến nó. Kỳ quái, ta gọi là A Ngưu, ta thuộc trâu, làm bạn với ta là con trâu, lúc nhỏ cũng ở cũng ở tại Ngưu Giác Đầu, gặp phải một con tê giác có linh tính, binh khí là sừng trâu, tính khí cũng rất trâu.

Hắn lại nói sang chuyện khác, trở về chủ đề căm phẫn bất bình:

- Sừng trâu của ta đã rút ra nơi tay, không dính máu thì không trở về. Nó đã rất lâu không uống máu của kẻ địch rồi.- Vậy thì dễ.

Tam Khô nhân lúc có ánh trăng dẫn đường cho mọi người, vừa đi vừa trò chuyện đã ung dung ra khỏi khu rừng rậm, cũng không gặp ám toán phục kích nữa:

- Để ta cho nó uống chút máu đi!

Nói xong lại vén cao tay áo trái của mình, ngón tay phải nhỏ vung lên, vạch ra một đường tơ máu. Tam Khô dùng ngón tay ấn vào vết thương, khiến cho máu bắn vào trên sừng trâu nhọn. Chợt nghe một tiếng “xèo”, còn bốc lên một làn khói xanh biếc, sừng trâu kia thật sự giống như hút máu. Tam Khô ôn hòa nói:

- Như vậy, nó đã uống máu, ngươi cũng sẽ không canh cánh trong lòng nữa chứ?

Lương A Ngưu không ngờ Tam Khô đại sư lại dùng máu của mình để cho binh khí uống máu, nhất thời ngẩn ra, chỉ nói:

- Chuyện này… nó có khát cũng không uống máu của người mình. Đại sư sao lại khổ như thế chứ!

Tam Khô ngước mắt lên, hòa nhã hỏi ngược lại:

- Máu của người mình và máu của kẻ địch, không phải đều là người, đều là máu sao?

Lương A Ngưu chỉ nói:

- Ta chỉ là trong lòng bốc lửa, muốn giết người để trút giận.

Tam Khô ngưng mắt ôn hòa nói:

- Vậy bây giờ lửa trong lòng ngươi đã dập tắt hay chưa?

Hà Tiểu Hà lại miệt thị:

- Chỉ là trong lòng tức giận, lại thổi cái gì da trâu (nói mạnh miệng, nói khoác), nói cái gì sừng trâu vừa rút ra, không dính máu thì không trở về. Ngày đó bên ao sen của chùa Lục Long, không phải ngươi cũng rút sừng trâu ra, còn chưa dính giọt máu nào đã thu về sao.

Bởi vì Tam Khô nhỏ máu, Lương A Ngưu vốn đã hết giận bảy tám phần, nghe Hà Tiểu Hà trách móc như vậy, trên mặt lại lúc xanh lúc trắng, tức giận nói không nên lời.

Lúc này Phương Hận Thiếu lại đính chính:

- Cô đây là không nghiên cứu sâu rồi. Tục ngữ có nói “văn nhân nói đại thoại, vũ phu thổi đại khí”, có lúc vì tự lên tinh thần, tự trọng bản thân, nói ra mấy câu hào sảng phóng khoáng, chẳng hạn như “ta đây không giết hạng người vô danh”, “đao vừa ra tay, bách phát bách trúng”, “lão phu tung hoành giang hồ bốn mươi năm, chưa gặp được địch thủ”, “ta sẽ khiến cho ngươi hối hận vì sao mẹ ngươi lại sinh ngươi ra”, khó tránh khỏi xuất khẩu thành chương, nói cũng bất giác khoa trương, không nói thì thật sự giống như thiếu đi thứ gì đó.

Hà Tiểu Hà hung dữ nhìn chằm chằm vào Phương Hận Thiếu:

- Ta không nói ngươi, ngươi lại tới xen vào!

Phương Hận Thiếu le lưỡi một cái, đột nhiên mở quạt xếp che mặt, nói:

- Đúng đúng đúng, ta nhiều lời rồi, nói nhiều rồi, nhiều chuyện rồi, ngày mai lúc cắt tóc cắt luôn cả lưỡi. Đại sư, ông còn đang chảy máu, sao không dùng thuốc kim sang cầm máu.

Hà Tiểu Hà vẫn nhìn chằm chằm vào Phương Hận Thiếu:

- Ngươi thì tốt đến đâu? Văn nhân luôn thích ngâm thơ đối đáp, xuyên tạc chơi chữ, có tác dụng quái gì? Vì giết địch, viết mấy chữ là có thể khiến ngựa của người Hồ không qua được núi Âm (1) sao? Vì dân trừ hại, cầm một cây bút là có thể giáo huấn cường đạo ngang ngược sao? Doanh lợi còn có thể nâng cao dân sinh, lao động cũng có thể xúc tiến lợi nhuận, loại văn nhân như ngươi ngoại trừ xổ nho, cười lạnh, kế này mưu nọ, lại không dám đao sáng, thương sáng, quang minh chính đại đi tranh danh đoạt lợi, xem là nhân vật gì? Lại tới phê bình ta, đạp gót chân của ta à!

Lần này Phương Hận Thiếu đã đụng phải miệng núi lửa, chỉ le lưỡi nói:

- Không dám, không dám.

Hắn lại kêu ầm ĩ:

- Đại sư, đại sư, mau băng bó vết thương đi! Ba trăm bữa cơm mới tích trữ được bốn giọt máu, nhất định đừng để hao tổn, chảy uổng phí!

Hà Tiểu Hà vẫn thở hổn hển nói:

- Đồ nhát gan! Thư sinh chết tiệt! Đã tìm tới Lão Thiên Gia ta, lại không dám nói tiếp, coi là thứ gì!

Phương Hận Thiếu đột nhiên lộn một cái, lại nhịn xuống, chỉ lầu bầu nói với Ban Sư:

- Chỉ có tiểu nhân và nữ nhân là khó nuôi! Chỉ có tiểu nhân và nữ nhân là khó nuôi!
Ban Sư thấy trường diện này nói năng bốp chát, nào dám lên tiếng, còn lui lại gần nửa bước.

Nhưng lời nói của Phương Hận Thiếu vẫn bị Hà Tiểu Hà nghe được, lại quay sang hắn trách mắng:

- Cái gì tiểu nhân và nữ nhân khó nuôi, nuôi cái đầu ngươi! Nam nhân các ngươi thì dễ nuôi rồi, lo ăn, còn phải lo uống, ăn uống no say lại muốn nằm. Nam nhân các ngươi và trâu chó có gì khác nhau, chẳng lẽ dễ nuôi? Cho cỏ không ăn, buổi tối còn không biết sủa!

Lương A Ngưu chợt quát lên:

- Đừng mắng trâu! Cô mắng cái khác ta không quan tâm, nhưng đừng mắng trâu!

Hà Tiểu Hà đáp lại một câu:

- Ta cũng biết trâu là cấm kị của ngươi, nhưng ta không kiêng kị cái này. Ngươi không cho nói, ta cứ nói, ngươi làm gì được ta thì làm, không làm gì được thì ta vẫn là Hà Tiểu Hà!

Nàng là một cô gái, liên tục đốt lửa hai nơi, nhưng vẫn thế gió không giảm, thấy trận mắng trận, khắp nơi thêm dầu.

Phương Hận Thiếu chỉ mong sao tìm được nguồn nước khác để dập tắt lửa, hắn quen xướng họa cùng Đường Bảo Ngưu, nhìn thấy liền nói:

- Chúng ta không quản A Ngưu, chỉ hỏi Bảo Ngưu ngươi một câu. Vừa rồi Ôn Nhu ở bên cạnh ngươi trúng bẫy, sao ngươi không ra tay cứu giúp. Ngươi khoanh tay không để ý tới, vậy không đáng làm hiệp sĩ, cũng không đáng làm người.

Thần sắc Đường Bảo Ngưu vẫn đờ đẫn, nhưng rất nhanh lại có phản ứng, trả lời:

- Ta cứu người? Ngay cả bản thân ta cũng không cứu được, chỉ sẽ hại người. Ta không muốn hại cả Ôn Nhu. Ta cứu người nào thì sẽ hại người đó.

Hắn dù đang trả lời, thần sắc vẫn thẫn thờ như trước. Nếu nói có biểu tình, cũng chỉ là trong thẫn thờ mang theo một chút chế nhạo, nhìn vào càng khiến người ta lạnh đi.

Phương Hận Thiếu chỉ là nhiều năm qua náo loạn với Đường Bảo Ngưu đã quen, lúc đối phó với địch cũng bất giác muốn cãi nhau với hắn. Nhưng những ngày qua Đường Bảo Ngưu đều không nhìn không để ý, mười hỏi chín không đáp, đã thành chuyện thường. Lần này Phương Hận Thiếu thấy Hà Tiểu Hà bốc lửa, chọc không được, liền tùy ý hỏi Đường Bảo Ngưu như vậy, không ngờ Đường Bảo Ngưu thật sự trả lời.

Còn trả lời vô tình như vậy:

Đây chẳng phải là thấy chết mà không cứu sao?

Đây còn xem là Đường Bảo Ngưu sao?

Lần này Phương Hận Thiếu lại ngây ra.

Hà Tiểu Hà cùng Lương A Ngưu nghe vậy, cũng không mắng nổi nữa. Con người đã trở nên như vậy, còn có gì để mắng.

Lại nghe Tam Khô đại sư nói:

- Vào nơi tối lại thấy ánh sáng, lãng tử quay đầu quý hơn vàng, vàng thật không sợ thử lửa, hôm nay mọi người đều khó tránh khỏi nóng nảy một chút, cũng đừng thật sự tổn thương hòa khí. Diệt lửa trong lòng sẽ mát mẻ, đường còn dài lắm.

Hắn từ trong túi đeo màu lam đậm móc ra một chiếc lò.

Lò nhỏ bằng đất đỏ.

Lò nhỏ kia mới vừa thấy gió, lập tức tỏa ra mùi thuốc nồng nặc, lại có phần giống như lúc trâu phun ra nhai lại.

La Bạch Ái nhìn thấy, không nhịn được hỏi:

- Trong túi đeo của ông đúng là cái gì cũng có đủ. Đao có, kiếm có, thuốc có, không phải quan tài cũng có một cái chứ?

Tam Khô cười cười nhìn nhìn trời, nhìn nhìn đất:

- Quan tài đã sớm chuẩn bị, không cần vác trên người.

Nói xong y lại vén tay áo lên, đưa cánh tay ngọc trắng như tuyết, đều như ngó sen đến sát lò nhỏ, sau đó dùng lửa nhóm lò, mùi thuốc kia lập tức càng nồng nặc, thơm đến mức giống như người người đều uống vào một bụng canh nấm hương.

Chỉ thấy vừa đến gần khói trên miệng lò nhỏ bằng đất đỏ, vệt máu chưa khô trên cánh tay của y lập tức ngưng tụ thành hạt đỏ tươi, trượt xuống, nhỏ vào trong miệng lò, lại phát ra một tiếng “đinh” trong trẻo, hết sức êm tai.

Rất nhanh, trên cánh tay Tam Khô chỉ còn lại một vệt ngấn, ngay cả miệng vết thương cũng không thấy nữa.

Mọi người hết sức kinh ngạc, kinh nghi hỏi:

- Đây là bảo bối gì? Gặp máu thành châu hay là thấy máu phong hầu. Làm sao thuốc chưa tới đã khỏi bệnh, không cần diệu thủ đã hồi xuân rồi.

Lại thấy châu máu nhỏ xuống miệng lò, lập tức chuyển thành màu trắng, giống hệt như trân châu thật sự. La Bạch Ái không nhịn được lại hỏi:

- Máu kia nhỏ xuống trên lò nhỏ, sao lại biến thành trân châu rồi?

Tam Khô cười một tiếng, nhặt hạt châu trắng kia, bóp thành bụi phấn, bỏ vào trong hố tro dưới lò, chỉ nói:

- Đó có máu gì? Đều hóa thành tuyết rồi. Ai lưu được tuyết? Nước luôn luôn sẽ chảy, sẽ khô.

Chú thích:

(1) Trích từ bải thơ Xuất Tái của Vương Xương Linh.

Tần thời minh nguyệt Hán thời quan

Vạn lý trường chinh nhân vị hoàn

Đản sử Long Thành phi tướng tại

Bất giao Hồ mã độ Âm san.

Dịch nghĩa:

Vầng trăng sáng của đời Tần và quan ải của đời Hán, mà người chinh chiến nơi nghìn dặm vẫn chưa trở về. Nếu như có vị phi tướng* ở tại Long Thành thì sẽ không cho ngựa Hồ vượt qua núi Âm.

*Phi tướng: Viên tướng bay. Ngày xưa người Hung nô gọi Lý Quảng là phi tướng.

Dịch thơ: (Đào Hùng)

Ải Hán, trăng Tần ngời tỏa sáng

Chinh nhân nghìn dặm mãi xa xăm

Long Thành ví giả còn phi tướng

Chẳng để ngựa Hồ vượt núi Âm

Chương 88: Thiên hành kiện

Mọi người đã ra khỏi “rừng đen”, đều cho rằng nơi ấy một khi trời đất tối tăm, hung hiểm khó phòng, nhưng xem ra kẻ địch cũng không tính điều động chủ lực ra tay.

Đường Thất Muội chỉ cười lạnh nói:

- Đây chẳng qua là một cửa ải trong đó mà thôi. Quyết sinh định tử, còn xa lắm.

Lần này đến phiên Ôn Nhu không nhịn được hỏi:

- Ngươi nói còn có hai ba cửa khẩu giống như “rừng đen”, là thật sao?

Tam Cô ôn hoà nói:

- Đương nhiên không giả, muốn đến nơi Tiểu Thạch Đầu chỉ định, ít nhất còn phải đi qua mấy cứ điểm quan trọng như Mãnh Hổ Áp, Đoạt Mệnh Tà, Bãi Mệnh Trực.

Ôn Nhu là “gặp qua quỷ sợ tối”, đã lĩnh giáo sự tối tăm của “rừng đen”, nàng đã sợ sệt bảy tám phần, cho nên cũng không quan tâm người khác chê cười, sợ hãi hỏi:

- Đó là địa phương nào? So với nơi này còn tối hơn sao?

Tam Khô mỉm cười nói:

- Không tối, không tối.

Lúc này Vương Tiểu Thạch chợt đến gần Tam Khô, gần như đến sát bên lỗ tai trắng như tuyết của y nói mấy câu.

Sắc mặt Tam Khô hơi đổi, cũng ở bên tai bên cổ Vương Tiểu Thạch khẽ nói mấy chữ.

Sau đó một người gật đầu, một người lắc đầu, giống như đã hiểu ngầm.

Bọn họ nói gì, Ôn Nhu lại không nghe được.

Có muốn nghe cũng không được.

Ôn Nhu không nghe được, cũng chẳng biết vì sao, trong lòng chợt khó chịu, thầm nghĩ: “May mắn cả hai đều là nam nhân, nếu không nói chuyện thân mật, thần thần bí bí như vậy, sợ người ta nghe thấy, chẳng phải…”

Lại hồi tâm suy nghĩ: “Tam Cô chết tiệt này âm dương quái khí, ai biết nàng (y) là nam hay nữ?”

Vừa suy nghĩ như vậy thì càng nóng nảy, dù trước mắt có thêm mấy cửa ải rừng đen, rừng trắng, rừng đỏ, nàng cũng không cần người bên cạnh, một mình xông qua.

Lúc Ôn Nhu đang nóng nảy, Vương Tiểu Thạch và Tam Khô đang thì thầm nói chuyện, có hai người khác cũng đang tại châu đầu ghé tai, trao đổi một chút cảm tưởng ý kiến.

La Bạch Ái thấp giọng nói trước:

- Sư phụ, ông có phát hiện không, vị Tam Cô này lại biết đủ trò ảo thuật.

Ban Sư lại trầm giọng nói:

- Ảo thuật? Đừng khinh thường.

La Bạch Ái biết rõ, vị sư phụ này của hắn có lẽ võ công không quá cao, nhưng sự từng trải và ánh mắt lại không thể coi thường, lập tức hỏi:

- Sư phụ có phát hiện gì sao?

Ban Sư Chi nói:

- Trượng pháp của y.

La Bạch Ái khiêm tốn hỏi:

- Trượng pháp gì? Đó là trượng pháp thiên hạ vô địch, thế gian hiếm có sao?

Ban Sư Chi nói:

- Không phải.

La Bạch Ái càng khiêm tốn:

- Xin sư phụ chỉ giáo!

Ban Sư nói:

- Y căn bản không dùng trượng pháp.

La Bạch Ái nói:

- Không phải vừa rồi y đã thi triển trượng pháp đánh lui bốn tên phục kích sao?

Ban Sư nói:
- Đó là trượng tiện tay xuất thủ, không phải trượng pháp.

La Bạch Ái nói:

- Ông muốn nói, y cố gắng che giấu thực lực của mình sao? Y không thi triển trượng pháp cũng dễ dàng đánh bại Đại Tứ Hỉ sao?

Ban Sư nói:

- Ít nhất, y đã che giấu trượng pháp của mình.

La Bạch Ái hỏi:

- Tại sao?

Sư phụ đáp:

- Thứ nhất, y không muốn để lộ thân phận thật sự của mình. Thứ hau, y không muốn tiết lộ trượng pháp của mình.

Đồ đệ hỏi:

- Y có gì để che giấu? Chúng ta không phải là người một đường sao?

Sư phụ nói:

- Y nhất định có lý do của mình, hơn nữa, ta thấy y tùy ý xuất thủ mấy trượng mấy thức, liền khiến cho ta nghĩ đến…

Đồ đệ hỏi:

- Nghĩ đến cái gì?

Ban Sư đáp:

- Thiên hành kiện.

La Bạch Ái nói:

- Thiên hành kiện?

Ban Sư Chi đáp:

- Đúng, thiên hành kiện.

La Bạch Ái lại hỏi:

- Thiên hành kiện là thứ gì?
Ban Sư Chi thở dài nói:

- Thiên hành kiện cũng không phải là thứ gì, chỉ là từ xưa đã có câu “thiên hành kiện, quân tử phải không ngừng cố gắng” mà thôi.

La Bạch Ái vẫn không rõ nguyên nhân:

- Chẳng lẽ sư phụ cho rằng Tam Cô không phải là quân tử?

- Có lẽ ta nghĩ lầm rồi, có lẽ là ta quá lo lắng;

Ban Sư Chi chợt cười một tiếng nói:

- Dù sao, Tam Khô là một vị đại sư xuất gia đắc đạo mà thôi.

La Bạch Ái trăm điều không thể lý giải, chỉ thầm nói:

- Y đương nhiên không phải là quân tử. Ta thấy y là một nữ nhân, nữ nhân làm sao là quân tử?

Ban Sư Chi biết, lần này đồ đệ thông minh hơn người của hắn bởi vì bị hạn chế học thức, từng trải, cho nên không hiểu lời của hắn.

Đại khái một người có thông minh, nhạy bén, tài hoa có cao, chỉ cần kiến thức, học lực, kinh nghiệm có hạn, dù là thiên tài cũng không cách nào đột phá giới hạn bản thân, siêu thoát thăng hoa đi quan sát phán đoán sự lí thị phi, đây là chuyện rất đáng tiếc.

Ngay cả La Bạch Ái cũng không ngoại lệ.

Có điều, không biết cũng có cái tốt của không biết.

Trên đời có một số chuyện, biết được quá nhiều, quá sâu, quá rõ ràng, ngược lại sẽ không vui vẻ, không thoái mái, không hạnh phúc.

Một cặp nhân vật khác nói chuyện lại rất ngắn gọn.

Phương Hận Thiếu nói:

- Túi đeo màu lam của Tam Khô đại sư, muốn cái gì thi có cái đó, nhưng không biết trong túi đeo màu đỏ của y là gì? Dọc theo đường đi, cũng chừa từng thấy y mở ra, sử dụng.

Đường Thất Muội nói:

- Có người từng dùng một tòa thành trì để đổi một “Tung Kiếm Ma Tinh” Tôn Thanh Hà, có người từng dùng ba mươi vạn lượng đổi một hòn đá trên tay Vương Tiểu Thạch. Còn như túi đeo trên lưng Tam Khô đại sư, chúng ta vẫn là không nên biết thì tốt hơn.

Phương Hận Thiếu nghi hoặc hỏi:

- Tại sao?

Đường Thất Muội nói một cách sâu xa:

- Bởi vì chúng ta đổi không được.

Sau đó hắn lại có ý khác hỏi:

- Ngươi có phát hiện không, đoạn đường này chúng ta đi rồi lại đi, kết quả sẽ đi đến nơi nào?

Phương Hận Thiếu ngẩn người, nói:

- Không phải muốn rời xa kinh sư, trốn khỏi truy bắt sao?

Đường Thất Muội chắp tay nhìn trời, xa xăm nói:

- Vốn là thế. Có điều, còn đi tiếp như vậy, e rằng không lâu nữa sẽ trở lại địa phương ban đầu. Ngươi còn không phát giác sao?

Còn về Vương Tiểu Thạch và Tam Khô đại sư lại ở trước mặt Ôn Nhu trao đổi một câu gì?

Vương Tiểu Thạch nói:

- Ngài nhìn ra rồi chứ, gần đây Tiểu Hà và A Ngưu nóng tính hơn nhiều?

Tam Khô nói:

- Có. Chẳng lẽ là…

Vương Tiểu Thạch trầm trọng gật đầu một cái.

Tam Khô thê lương lắc đầu một cái.

Chương 89: Năm ấy, khi ấy, nơi ấy

Tam Khô đại sư nói chuyện với Ôn Nhu, đề cập tới mấy địa phương như Đoạt Mệnh Tà, Mãnh Hổ Áp, Bãi Mệnh Trực, lại không nói tới Nhận Chân Sạn.

Thực là vấn đề chính là ở đó, Nhận Chân Sạn.

Nhận Chân Sạn là một khách sạn, một khách sạn “nhận chân (nghiêm túc)”.

Nói nó nghiêm túc là bởi vì mỗi sự mỗi vật, từ giường đệm gối chăn đến ăn uống thường ngày, thậm chí là thời gian pha trà, đặt ống bô, mắc màn, cửa sổ giấy bị hư lập tức dán lại, gạch ngói bị vỡ lập tức sửa chữa, tất cả từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ đều hết sức cẩn thận chú trọng.

Tại một nơi phong nhã, nghiêm túc, chú trọng, cẩn thận tỉ mỉ như vậy, Ôn Nhu lại trải qua một tình cảnh còn đen hơn rừng đen, còn ngọt hơn mộng đẹp, còn kinh hiểm hơn trúng phục kích, ở chỗ này, lúc này, cảnh này.

Đương nhiên, sau này cố sự của bọn họ trở thành truyền kỳ, hậu nhân sẽ bàn luận.

Năm ấy, khi ấy, nơi ấy.

Trong Nhận Chân Sạn, Vương Tiểu Thạch và Ôn Nhu, còn có Ôn Lục Trì.

Lão bản của Nhận Chân Sạn họ Ôn, tự là Mễ Thang, danh hiệu là Lục Trì tiên sinh, lâu ngày người trên giang hồ đều gọi là Ôn Lục Trì.

“Lục Trì” trong tên của y vốn có nguyên nhân, y cho rằng trong nửa đời của mình có sáu loại trễ hơn so với người khác.

Một là y kết hôn trễ. Mặc dù y đã có bạn gái thân mật từ rất sớm, nhưng trước giờ việc tốt thường hay trắc trở, biển tình nhiều sóng, mỗi lần sắp nên duyên đều gặp tai hoạ, không phải nam có kiếp nạn trên người, lẩn trốn đi, không muốn làm liên lụy người khác, thì cũng là nữ thay lòng đổi dạ, hoặc gặp chuyện bất ngờ, luôn không thể thành thân thành sự.

Hai là y tuổi tác đã hơn bốn mươi mà vẫn chưa lập gia đình, song thân, người nhà của y phần lớn đã qua đời hoặc xa cách, cho nên y cũng thành gia thất trễ.

Ba là nếu y lập gia đình trễ, đương nhiên sinh con dưỡng cái cũng trễ theo. Đến tận bây giờ y vẫn là một người cô đơn, may mắn là y quen biết rộng rãi, huynh đệ bằng hữu, anh em thân tín lại có không ít.

Bốn là tuy y xông giang hồ từ sớm, nhưng thành danh lại rất trễ. Với tài năng thực lực của y, người khác chưa được ba phần của y đã sớm nổi danh đến nửa tầng trời rồi, nhưng y vẫn dở dở ương ương. Trên giang hồ người nghe được tên của y cũng xem như không ít, nhưng người biết sự lợi hại của y lại hiếm có. Trong võ lâm, dựa theo đạo lý, chiếu theo vai vế, y tuyệt đối nên có một chỗ trên chiếu ngồi. Nhưng y không thích tiệc tùng với người khác, không thích lui tới với người khác, dư luận, tuyên truyền tất cả y đều không tham dự, cho nên uy danh cũng chỉ có thể vang dội trong phạm vi mấy trăm dặm quanh Nhận Chân Sạn mà thôi. Hơn bốn mươi tuổi chỉ có được một chút danh tiếng như vậy, bất kể là hư hay thực thì vẫn luôn là quá trễ.

Năm là y chẳng những thành danh trễ, ngay cả lập nghiệp cũng trễ hơn so với người khác. Y đã từng làm không ít chuyện oanh oanh liệt liệt, cộng lại có lẽ một trăm danh hiệp có tiếng tăm trên giang hồ cũng không bằng được, không làm được. Y dùng sức một người để làm, nhưng người khác lại không biết là do y làm, có biết cũng giả vờ như không biết, ngay cả chính y cũng vậy, thậm chí cũng quên là do một tay mình làm. Cho đến mười năm trước, y mới bắt đầu kiếm được ít tiền, mở cửa hiệu này. Tại cửa hiệu này, dạo chơi nhiều, giúp người cũng nhiều, nhưng cũng không phải là công lao sự nghiệp cái thế gì, càng không phải công danh địa vị, cho dù Nhận Chân Sạn dần có thành tựu đã là chuyện mười năm nay. Đối với Ôn Mễ Thang, đây lại là một sự trễ khác.

Người muốn nổi danh phải nhân lúc còn trẻ, càng sớm càng tốt. Càng sớm thành danh, thành công, thành sự thì càng được hưởng thụ, được hưởng phúc. Già rồi cho dù công thành danh toại, nhưng đã không có phúc hưởng thụ, trong tai chỉ nghe tiếng xương cốt của mình kêu rộn ràng.

Vẫn còn sự trễ thứ sáu.

Sự trễ này là tập tính cá nhân của y, thức dậy trễ.

Y không có thói quen dậy sớm.

Dậy sớm rất vất vả, không có tinh thần. Huống hồ mũi của y nhạy cảm, mỗi buổi sáng đều hắt hơi không ngừng, một lần hắt hơi là hai ba trăm cái, đó là chuyện bình thường.

Mặc dù y tự than số mệnh không tốt, mọi thứ đều trễ hơn người khác, nhưng y có một thúc phụ cùng họ, lại nói với y khi gặp sự tình nghĩ không thông, hãy nhìn theo hướng ngược lại. Nếu như vẫn nghĩ không ra, còn có thể người ngoài cuộc xem xét, người trong cuộc suy nghĩ. Nếu vẫn không nhìn thấu, không giải quyết được, đừng ngại đem “vấn đề” chất thành một đống, xem nó có đổ hay không? Đá một cái, xem nó có phản ứng hay không? Còn có thể đánh nó một quyền, thúc nó một cùi chỏ, cắn nó một cái, dội nó ướt cả người, đốt nó thành khói, xem nó có thể biến hình bỏ trốn, tự động tan biến hay không?

Theo cách nói của vị thúc phụ kia, lục trì thật ra là lục đa (sáu thứ nhiều). Kết hôn trễ, đó là tự do tự tại, khoái hoạt nhiều. Không có con cái, không cần khổ cực vì nuôi con dưỡng cái, đỡ lo nhiều. Thành gia thất quá trễ, có thể nói không hề gò bó, tiêu dao nhiều. Thành danh trễ? Như vậy có thể bớt mệt mỏi vì nổi danh, thuận tiện nhiều. Lập nghiệp quá trễ, thật sự là chuyện tốt, có tài nhưng thành đạt muộn vẫn tốt hơn so với trung niên rách nát, ổn định thiết thực nhiều. Rời giường quá trễ, càng là chuyện tốt, đây gọi là có giấc ngủ ngon, cầu xin mình còn hạnh phúc hơn cầu xin người khác.
Lục Trì tiên sinh nghe vị thúc phụ cùng họ này khuyên như vậy, suy nghĩ một chút cũng cảm thấy có lý. Y lại có một bằng hữu kết giao họ Thích, tình như huynh đệ, cách nói gần giống nhưng càng kỳ quái hơn: “Cho dù là ba chuyện bi thương trong đời người, cũng có thể xem như chuyện vui. Không phải sao? Thiếu niên mất cha, nắm hết quyền hành. Trung niên mất vợ, tiễn cũ đón mới. Tuổi già mất con, để tuyệt hậu hoạn. Lúc này ngươi mới lục trì, có là gì?”

Ôn Lục Trì thấy người bạn thân này từng gặp kiếp nạn cụt tay, khổ vì thất tình, mà đại nghiệp do mình một tay sáng lập lại bị thân tín tri giao hủy hoại trong một đêm, lời nói khó tránh khỏi có phần cực đoan, cho nên không đành lòng trách cứ. Nhưng vị hiệp khách gặp nạn từng hô mưa gọi gió, hiệu lệnh hiệp đạo lục lâm đại bang này lại phất tay áo không có cánh tay của mình, nói: “Ngươi đừng đồng cảm với ta, nhìn ta cụt tay tàn phế. Ta thiếu một cánh tay, vừa lúc có thể luyện ‘Độc Tý kiếm pháp’. Bên cạnh ta không có vợ đẹp, hồng nhan, vừa lúc có thể tận tình phóng túng, hàng đêm hoan lạc. Ta bị chúng bạn xa lánh, nhà tan cửa nát, vừa lúc có thể một thân một mình, tiêu dao khoái hoạt, làm những chuyện mà ta muốn làm, nên làm, thích làm.”

Ôn Lục Trì là một người ôn hòa, y đương nhiên không có tâm tình cực đoan, khí thế sôi nổi, còn có giọng điệu kích động của vị bằng hữu này.

Chí hướng của y rất nhỏ, nhỏ đến mức chỉ hi vọng có thể mở một khách sạn, y đã cảm thấy không uổng cuộc sống này, không uổng cuộc đời này.

Đối với những võ lâm đồng đạo khác tranh giành những thứ như kỳ thư, bảo vật, còn có thiên hạ võ lâm đệ nhất, cái gì nhất thống giang hồ, thiên hạ vô địch, trong lòng y vốn xem thường, trong miệng cũng không nhịn được cười nhạo: “Tranh giành cái này làm gì? Tần Thủy Hoàng cũng tranh thuốc bất tử, kết quả có chết hay không? Ngay cả mạng cũng không giữ được, còn có thứ gì là bảo vật? Học bí kíp thì thế nào? Còn không phải cũng chết. Lỡ may bị người ta ngang ngược cướp đoạt, ngay cả mạng cũng sớm tặng đi. Võ lâm đệ nhất? Có để làm gì. Thiên hạ vô địch? Liên quan gì đến ta. Lúc này còn tranh giành những thứ đó, không bằng kiếm ít bạc để cho mình và mọi người sống khá hơn một chút, như vậy mới có lợi nhất.”

Câu này là y nói cho thân tín một tay bồi dưỡng, huynh đệ, tay chân, bạn thân nghe, gồm có Tôn Hoàng Đậu, Dư Biển Đậu, Hà Tàm Đậu, Lương Lục Đậu, Chiêm Hắc Đậu, Dư Lục Đậu, Trần Đại Đậu, La Tiểu Đậu, Đàm Hồng Đậu.

Những người này đương nhiên không phải từ trong bụng mẹ sinh ra đã gọi là XX họ XX đậu, họ đương nhiên là họ gốc, còn “X đậu” kia chỉ là biệt danh.

Biệt danh là một loại xưng hô thân thiết, giống như ngươi gọi người quen thuộc thân cận bên cạnh là “Lão Trần”, “Tiểu Phương”, “Lão hầu tử”, “Tiểu Thiến”, “A Miêu”, “Trư tiểu đệ”.

Bởi vì quen biết, thân cận, mới có biệt danh, mới có nhũ danh. Người không quen không biết không liên quan, ngươi dám ở trước mặt gọi hắn là đầu to, rùa nhỏ, mông vịt sao.

Cũng bởi vì quen thuộc, cho nên đám huynh đệ này đều rất nguyện ý nghe “Ôn lão bản” nói chuyện.

Nguyên nhân không gì khác, cũng có sáu loại.

Một là lời của y rất có đạo lý, nghe chẳng những có lợi, còn có thể hữu ích.

Hai là lời của y là bàn luận kinh nghiệm, đại khái là lời của người từng trải, nghe có thể tham khảo, ít nhất cũng có thể giảm bớt sai lầm.Ba là Ôn Lục Trì ăn nói không tệ, luôn luôn nói những chuyện nhàm chán một cách rất bùi tai, rất thú vị, không hề nhàm chán chút nào. Bọn họ đều thích nghe.

Bốn là Ôn Lục Trì vốn là lão bản của bọn họ, có lúc vỗ bàn mắng to, bọn họ không muốn nghe cũng không được.

Năm là Ôn Lục Trì và bọn họ kết giao rất chân thật, bọn họ rất vui lòng lắng nghe lời nói của một bằng hữu chân thật, tri kỷ trưởng bối như vậy.

Sáu là trong lòng bọn họ đồng cảm với sự cô đơn của Ôn Lục Trì, để y ăn nói lung tung phát tiết một chút cũng tốt. Hơn nữa đối với lời nói của Ôn Lục Trì, bọn họ ngoại trừ đồng cảm thì phần lớn đều rất đồng ý.

Ôn Lục Trì sau bốn mươi tuổi cũng không có chí lớn, tụ tập những người này, mở cái khách sạn này.

Mở khách sạn này cũng có thể nói là tâm nguyện đã lâu của y.

Nguyên nhân chủ yếu là Ôn Lục Trì năm xưa phiêu lãng giang hồ, xông pha năm tháng, đi qua không ít địa phương, ở qua không ít khách sạn, từ kinh hoa danh lầu đến đầu đường xó chợ, bất kể nghỉ ngơi trên ngựa hay uống gió ăn sương, y đều thử qua.

Y phát hiện lữ khách muốn tìm nơi dừng chân nghỉ ngơi thật sự không dễ dàng, cho dù là khách sạn trong thành lớn, cho dù bên ngoài trang trí công phu, nhưng bên trong lại chưa chắc có thể khiến lữ khách nghỉ ngơi an giấc, ngược lại thường là thứ nên có không có, thứ không nên có lại có đủ.

Có cái gì? Có khi trong khách sạn lại có con gián, con rận, con rết, con chuột, thậm chí vài con rùa và một con mãng xà lớn.

Không nói những thứ khác, cần xà bông thơm thì không có xà bông thơm, chỉ có một cục mủ cao su dính dính quánh quánh còn bốc lên bọt ướt, nghe nói chính là xà bông. Ngươi bảo người ta làm sao dám cầm một thứ không biết là nước mũi năm trước hay là tinh dịch quá kỳ thoa lên người?

Đi nhà xí, không tự mình lấy gạch kê ở bên dưới, ngươi sẽ giống như đặt mông ngồi trên nước phân. Chuyện này còn không quan trọng, còn có ruồi nhặng bay lung tung nơi hầm phân, cái gì đầu xanh, đầu đỏ, đầu lam, đầu vàng đều đến đông đủ, ngay cả giống ruồi mới nhất đầu hoa màu sắc sặc sỡ cũng không hề khách khí, mỗi con mang theo mùi vị và “thức ăn” (của bọn chúng) đậu vào trên mặt, trên môi thậm chí trên mắt của ngươi, ăn ngay tại chỗ.

Như vậy còn chưa hết, điều chết người là cần giấy vệ sinh không có giấy vệ sinh. Trong thời gian cấp bách đó, vào lúc đó, ở nơi đó, tình hình đó, ngươi chỉ có ba lựa chọn.

Một là tìm thứ cần thiết ngay tại chỗ, dùng quần, y phục hay là vớ gì đó.

Hai vẫn là tìm thứ cần thiết ngay tại chỗ, dùng tay giải quyết.

Ba vẫn là tìm thứ cần thiết ngay tại chỗ, chính là dùng “giấy” mà người khác đã dùng.

Tuy nhiên còn có một phương pháp khác, lại không cần “tìm thứ cần thiết ngay tại chỗ”, thậm chí là hoàn toàn “không cần tìm”.

Đó chính là coi như xong.

Không sạch sẽ chỉ là bẩn, một thời ba khắc chỉ là hôi, sẽ không chết người.

Ở loại khách sạn này, có thể tưởng tượng được thảm cảnh của nó.

Ôn Lục Trì lại nếm đủ từng thứ.

Chương 90: Giông tố sắp đến heo đầy lầu (1)

Đương nhiên, cũng có một số nhà trọ, trạm dịch, khách sạn có quản lý, tốt hơn một chút.

Nhưng tốt hơn một chút không có nghĩa là hài lòng. Ôn Lục Trì từng ở một số nhà trọ, nhìn chung cũng có giấy vệ sinh, xà phòng, nhưng uống một ngụm trà đưa lên, mới phát hiện cả miệng đều chua. Mở nắp bình ra nhìn, còn chưa thấy bã trà, đã thấy xác sâu nhỏ nổi đầy một lớp dày.

Cho dù lá trà mới, nước cũng không đủ sôi. Có nơi lá trà tốt, nước cũng đủ sôi, nhưng trong chén trà sứ trắng lại dính từng vòng vết bẩn, dùng móng tay cạo cũng không đi.

Có nơi nước trà tốt hơn một chút, cũng biết khách sợ muỗi đốt, cho nên treo màn. Đến buổi đêm, cho rằng có thể ngủ say một giấc, ai ngờ vừa nhảy lên giường, ván giường bỗng sụp xuống, lão công cùng với con gái và hài tử đều ngã một cái sống dở chết dở. Lúc này mới vén màn lên, ai ngờ giống như thiên la địa võng, bụi bặm cả ba trăm mười hai năm trước đồng loạt rơi vào trên người cả gia đình, khi đó mới biết cái gì gọi là lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt.

Nói đến khó lọt, Ôn Lục Trì còn từng thấy màn che có tướng mạo đường đường, đỏ rực giống như màn tân hôn, vừa mới vừa vững chắc, nhưng vừa buông xuống lại thấy thủng một lỗ lớn bằng cả eo mông. Đến thời cơ thích hợp (ví dụ như người trong màn đã ngủ), muỗi lại từ nơi đó đại quân giết đến, ngươi lật người ngồi dậy, chắn lỗ huyết chiến, tranh nhau từng tấc, một bước không nhường. Chiếc màn kia trải qua nhân thế tang thương hai ba chục năm qua, màu đỏ rực cuối cùng đã biến thành màu xám, nhưng lỗ thủng này lại không vá, khiến cho mỗi đêm, mỗi giường, mỗi đời khách tiếp tục người muỗi đại chiến.

Lỗ thủng này còn không phải chỗ hiểm, chỗ hiểm chính là mái ngói dột nước. Gặp phải đêm mưa (càng không cần phải nói là mưa suốt đêm), khách ngủ há mồm uống một ngụm nước từ trời xuống, khách không há mồm lại gần như bị dìm chết. Hóa ra không gì đặc biệt lại có mưa, trong phòng nước dâng giường cao, bị ngập rồi.

Chuyện này còn không quan trọng. Đồng dạng là “mái dột”, cùng là khách ngủ há mồm, ngày hôm say thức dậy, còn dính một miệng nước tiểu. Đương nhiên không phải của hắn, hắn tự biết tầm bắn không đến mức mạnh như thế, mà là khách thuê phòng trên lầu có trẻ con đái dầm, hay là ống bô bị thủng, hắn là một người kế thừa sự nghiệp, trời hạn gặp mưa mà thôi.

Cho dù là khác sạn hào hoa nơi kinh thành, cũng chưa chắc hoàn toàn tốt đẹp.

Những khách ngủ trễ dậy trễ giống như Ôn Lục Trì, lúc y ngủ đã bắt đầu nghe dưới lầu rao hàng ầm ĩ, một giấc ngủ, một giấc mộng đều là những lời thô tục trong chợ búa. Ngay cả thẩm thẩm kia mua khối vải ba quan, Tam lão bản nói ba quan sáu, A thẩm nói ba quan bốn quá nhiều, ba quan bốn thì không mua, lão bản nói ba quan năm, ba quan năm có thể bán… tất cả đều vào mộng, vào não, cũng vào tâm thần, ngươi bảo hắn ngày hôm sau làm sao có thể làm việc, tính toán sổ sách, đầu óc tỉnh táo?

Lúc ngủ, thậm chí cả mùi hôi trên lầu, mùi khói dưới lầu và mùi người trên đường đều ngửi được rất rõ ràng. Thậm chí chủ tiệm chẳng cần biết có lý hay không, sáng sớm đã gọi người đến đập cửa, ở cách vách thợ thủ công sửa ngói sửa cửa rầm rầm, bảo hắn làm sao ngủ yên giấc được? Vừa cảm thấy buồn ngủ thì đúng là thiên quân vạn mã, máu thịt tung tóe, cả thế giới như một giấc mộng lớn, tỉnh lại cũng không biết nhân sinh mấy độ thu lạnh, hết sức thê lương.

Ôn Lục Trì còn có một hồng phấn tri giao gọi là Trần Trương bát muội, từng ở trọ chung với y. Bởi vì quá thích sạch sẽ, khi đi ngủ bỗng phát hiện trên gối có vệt máu (không biết là máu răng hay là khạc máu), phần dưới khăn trải giường cũng có vết nâu (không biết là kinh huyết hay là xử nữ huyết), chỗ ngồi dính đầy từng khối, từng viên vừa giống như ráy tai lại giống như lão nê (thứ từ lớp da trên thân người tróc ra), lúc lau chùi mới phát hiện lại nhúc nhích cử động.

Vì vậy nàng không ngủ được, đành phải đêm khuya thức dậy quét dọn lau chùi, nhất định phải sạch sẽ mới ngủ. Kết quả nàng dọn giường chiếu xong thì lau bàn, lau bàn xong thì chùi cửa sổ, chùi cửa sổ xong lại đi giặt khăn trải giường, sau khi giặt xong giường đệm thì trời đã sáng rồi.

Nàng không ngủ được, chỉ khổ công một đêm làm việc cho khách sạn kia.

Ngày thứ hai nàng đã rút kinh nghiệm, cũng nghe Ôn Lục Trì khuyên giải, đây là nhà của người ta, nàng dọn dẹp làm gì? Hôm nay quét dọn sạch sẽ, ngày mai lại sẽ bẩn thôi.

Nàng quyết định lần này ngay cả màn che bị rách cũng mặc kệ, nằm xuống thì không động tay động chân nữa, nhưng trên mắt cá chân lại bị một con bọ đốt.

Bị bọ cắn cũng không thể khoanh tay phớt lờ chứ? Huống hồ thứ bị hút là máu quý giá hàng thật giá thật của nàng. Hóa ra đó là một con vật mập mập trắng trắng giống như con giòi, hút vào giống như căng máu.

Cho nên nàng có buồn ngủ cũng chỉ đành ổn định tinh thần, khêu đèn đánh đêm, vén chăn gõ phách, quả nhiên phát hiện con bọ này có đội ngũ. Đuổi theo đến bên tường, lại phát hiện ngoại trừ hàng bọ còn có một hàng kiến, từ tường bên này một đường thông đến phòng cách vách. Thế là Trần Trương bát muội lại đành phải “thu dọn” khắp nơi (nửa đêm muốn tìm được những bột, nước, thuốc giết sâu bọ này thật không dễ dàng), lật tường cạy gạch, thật vất vả mới cắt đứt đường đến của rắn sâu chuột kiến (nàng đã tiến bộ, lần này mặc kệ đường đi của bọn chúng), kéo màn xuống, nhìn chung cũng không rách không hư. Nàng cho rằng có thể ngủ say đến sau khi gà gáy khoảng chừng một canh giờ, đột nhiên liếc nhìn qua màn lưới, trông thấy sau rèm cửa sổ bị rách có một đôi mắt đang rình xem.

Nàng lập tức thét lên.

Cho dù chủ nhân của cặp mắt kia rốt cuộc là người hay gì khác, tại khoảnh khắc tiếng thét chói tai vang lên, cuối cùng đã biến mất, không còn thấy nữa, không thể nào truy cứu. Nhưng từ đó về sau, Trần Trương bát muội lại sợ hai chữ khách sạn này.

Ôn Lục Trì thì không.

Y là một lữ khách, lãng tử.

Mặc dù y là một lãng tử “quá tuổi” hay “cao tuổi”, nhưng lãng tử dù sao cũng là lãng tử, y vẫn thích khách sạn, dịch trạm, quán rượu (có một số “quán rượu” chưa chắc đã bán rượu, nhưng có thể cho người ở trọ). Cho dù tên gọi có khác nhau, nhưng đều chung một ý nghĩa, đó là để lữ khác có một chỗ dừng chân.Ôn Lục Trì cho rằng trong này có ý cảnh, hơn nữa ý cảnh rất đẹp.

Đáng tiếc bầu không khí của những khách sạn lữ quán này lại chẳng tốt đẹp bao nhiêu, dù có chỗ đẹp cũng bị người không giỏi kinh doanh một tay phá hỏng hoàn toàn.

Lữ quán nhỏ thì không cần nghi ngờ, đó là một nơi dùng để khảo nghiệm xem con người có thể trở về cuộc sống thời kỳ dã thú, hồng hoang hay không.

Khách sạn tương đối trung bình, ưu tú cũng không nên hi vọng, chỉ cần có thể xem khách là người thì đã là từ bi trắc ẩn rồi. Muốn được xem là khách, trừ khi là có một lượng lớn ngân phiếu. Dĩ nhiên còn phải cẩn thận, sau khi vào đêm một tên đạo tặc che mặt sẽ cho ngươi uống thuốc mê, thổi hương mê, một đao chém cho ngươi đầu mình rơi xuống đất.

Cho dù là khách sạn lừng danh xa gần, trang hoàng lộng lẫy, khí phái phi phàm, cũng không cần chủ quan cho rằng khách như mây kéo đến sẽ được tiếp đãi nhiệt tình. Có khách sạn trứ danh lại ở chỗ xa xôi, nói cách khác, sở dĩ nó nổi danh xa gần là vì ở nơi đó chỉ có nó tốt nhất (hoặc chỉ có một mình nó).

Ôn Lục Trì từng ở một “khách sạn nổi tiếng” trên thảo nguyên, có lần mưa gió sắp đến, gió chưa tới thì đã tới một nhà bướm. Ôn Lục Trì gần như không thể hít thở, thiếu chút nữa đã bị bướm làm sặc chết. Một lần khác là tại trên bãi cát gặp bão, giông tố kéo tới, lần này thứ gần như làm y sặc chết không phải bướm, cũng không phải muỗi, mà là những hạt cát lớn như đậu tằm.

Y cũng có lần ở trọ ban đêm tại một khách sạn nổi danh đã lâu trên đồng bằng, lại gặp phải gió táp mưa sa. Lần này không có rận, bướm hay cát, mà là cả tiệm chất đầy heo. Hóa ra khách sạn nổi tiếng này cũng đồng thời nuôi không ít heo ở phụ cận, sợ heo không chịu nổi mưa rơi gió thổi, trước khi giông tố kéo đến tạm thời lùa tất cả heo lớn heo nhỏ vào trong tiệm, tránh gió tránh mưa.

Lần này heo thì tốt rồi, còn người thì sao?

Cho dù là khách sạn nổi tiếng ở địa phương lớn thì đã sao? Khí phái của nó chỉ khí phái cho khí phái của chính nó xem, nói cách khác, hình dáng và quy mô của nó đúng là hù người, dọa người, nhưng thứ bị hù là khách, thứ bị dọa là túi tiền của khách.

Nó cũng không phải phục vụ cho khách.

Nó có quy mô lớn, không có nghĩa là phục vụ tốt, ngược lại là điều kiện để xem thường khách.

Ở khách sạn nhỏ ngoài sơn dã, kẻ xem thường ngươi chỉ là người phục vụ. Khách sạn bình thường tốt hơn, kẻ xem thường ngươi lại là chủ tiệm. Nhưng trong loại khách sạn lớn hào hoa cao quý này, kẻ coi thường ngươi, xem thường ngươi lại là chủ tiệm, người phục vụ, thậm chí là những người khách khác cùng ở trọ.
Không có cách nào. Một con chó và một con mèo ở cùng với nhau, con mèo phải nhường con chó kia. Một con chó và một con chó khác đi cùng nhau, nhiều nhất chỉ nhìn không vừa mắt. Nhưng một con chó rơi vào trong một bầy chó cao quý, giống tốt, con chó này còn không bằng một mảng lông rụng trên người những con chó tốt kia. Nhưng bất kể nói thế nào, Ôn Lục Trì vẫn thích khách sạn.

Y cho rằng khách sạn là nơi dành cho kẻ lãng tử dừng chân, để lãng khách có một chốn đi về tạm thời. Mỗi khách sạn đều là một đại gia đình ngày ngày biến hóa, đặc sắc, thú vị, mỗi đêm trong mỗi gian phòng đều có cố sự, nhân vật chính và những cuộc gặp gỡ của nó.

Y thích khách sạn, cho nên y mở khách sạn.

Khách sạn của y có đặc sắc, thu phí không mắc, đắt rẻ do người, từ sáng đến tối, từ đêm đến ngày, hoàn toàn cung cấp thực phẩm, nấu nướng, nước trà, hầu hạ. Hơn nữa trong mỗi gian phòng còn có nghiên mực, ấn chương, phong thư, giấy viết. Khách sạn còn có bưu dịch, bảo tiêu, tuần thành, thậm chí giúp bảo vệ vật phẩm quý giá. Còn có những thứ cần thiết do Ôn Lục Trì nhiều năm lang bạt cảm ngộ ra, chẳng hạn như nước lạnh, ấm, nóng cung cấp cả ngày, lúc cần thiết còn có thể từ trong Hồng Triều Tân Trúc bên cạnh cũng do Ôn Lục Trì kinh doanh, chọn một người như hoa như ngọc làm ấm chăn, ấm gối, ấm người.

Y cảm thấy chuyện này không có gì không tốt.

Bản thân y không hứng thú chuyện này, nhưng lại không cho rằng những người khách khác (hơn nữa hơn tám phần là nam tử, mà trong số những người này hơn sáu phần là hán tử độc thân) cũng không hứng thú.

Ngay cả pha trà mỗi ngày y đều coi trọng.

Thậm chí ngay cả gia quyến của khách, y cũng đặc biệt mời người chăm sóc. Cho nên trong thành nổi tiếng đông nam này, không kẻ trộm nào có thể vào Nhận Chân Sạn này cướp bóc trộm cắp, thậm chí ngay cả trẻ con cũng sẽ không bị người khác bắt cóc, lạc đường.

Do đó uy tín rất tốt.

Y một người như thế, ở nơi này mở một khách sạn, dường như là một chuyện không đáng ghi chép lại.

Thế nhưng, không khéo chưa chắc đã không thành sách (sự tình chưa chắc đã vừa khéo). Bởi vì chữ tín viết lên, cuộc sống chính là những cuốn sách đặc sắc. Nhưng không có Ôn Lục Trì này và khách sạn này, tương lai thật sự là không thành sách.

Bởi vì mặc dù y khổ cực hơn nửa đời để kiếm chút bạc, nhưng không giàu có đến mức có thể một mình kinh doanh một khách sạn lớn như thế.

Nhận Chân Sạn này là có người hùn vốn.

Người cùng y hợp tác kinh doanh hoặc giao tiền đầu tư, đương nhiên đều là bằng hữu của y.

Hảo hữu.

Phần trước đã đề cập tới hai vị hảo hữu của y, đó là thúc phụ họ Ôn và bạn thân họ Thích, dĩ nhiên đều có trong đó.

Mà vào ngày này, một nhóm mười người Vương Tiểu Thạch vừa lúc đến ở trọ.

Ở trọ tại khách sạn này.

Chú thích:

(1) Cải biên từ câu “giông tố sắp đến gió đầy lầu”, nghĩa bóng là dấu hiệu trước khi xảy ra một sự kiện nào đó.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau