THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 61 - Chương 65

Chương 61: Hồi mười (4)

Tên mập như tên tử tù được ân xá, vội vội vàng vàng kéo xác đồng bọn tông cửa trốn. Lúc ra đến cửa, hắn mới nghiến răng nói thầm:

“ Chúng mày tưởng thế mà ngon á? Đợi tao gọi thêm người vào đây thì ba thầy trò mày đi đời là chắc. Ôi, chỉ tiếc thanh đao Lĩnh Nam. ”

Gã mập chợt ngừng lại một chút. Im ắng quá. Việc hắn nghe rõ mồn một tiếng bản thân nói thầm chứng tỏ có cái gì đó không ổn. Đồng bọn hắn hắn biết. Rặt một lũ mồm năm miệng mười chẳng mấy khi ngớt nói. Cho dù có thắng cũng phải vào chính điện ba hoa om sòm một trận.

Tên này ngẩng đầu quan sát thật kỹ mới nhận ra cả căn miếu đã trở nên đìu hiu quạnh quẽ hơn cả chùa bà đanh từ bao giờ. Biết là có biến, hắn vội vàng tìm cách trèo tường lẩn ra, lại quăng luôn xác tên gầy xuống đất cho tiện tay. Nhưng nay võ công đã bị phế bỏ, hình thể lại béo mập nên hắn cứ cố mãi mà không leo lên nổi đầu tường đặng.

Hết cách, hắn đành mạo hiểm đánh liều băng qua sân miếu. Cái bộ dáng lấm la lấm lét của y hiện giờ trông đến là thảm hại.

Cũng may là cửa miếu đã bị đạp sập từ lâu, nên hắn có thể dễ dàng lẻn ra ngoài.

Thoát thân rồi, tên mập mới chui vội vào một nhà dân, kéo ghế ngồi thở dốc. Thấy công phu khổ luyện mấy năm bị người ta phế sạch, y không khỏi căm Quận Gió ghê gớm, thầm nghĩ:

“ Quần hùng yến ở thành Tây Đô chẳng mấy nữa sẽ diễn ra, đến lúc đó mình trà trộn trong đám người, tìm cơ hội. Mẹ kiếp! Hôm nay Đào Xuân Tùng ta thề phải trả bằng được mối thù này, dù sau này thịt nát xương tan cũng chịu. ”

Giông bão chiến trường vừa qua đi, sóng gió giang hồ lại muốn dâng cao ngút trời. Thiên hạ… không yên.

Quận Gió đuổi tên đệ tử phái Long Đỗ xong, đột nhiên trợn mắt nhìn hai đứa nhóc.

“ Hai cái đứa này ra giang hồ chưa được mấy ngày, cái hay không học được tí nào, thói xấu thì ôm về cả một sàng! Giỏi quá nhỉ? Thầy dạy chúng mày tự cao tự đại thế hả? Nhất là thằng Cẩu! Mới học được môn võ chó đúng không, oai như cóc nên chẳng coi ai ra gì đúng không? Thầy dạy mày đánh hùng hục như trâu húc mả thế hả Cẩu? Chúng nó đông gấp ba mày, đánh thắng một tên mà đứt cả hơi thế thì giải quyết được cái gì? Cả Phiêu Hương nữa. Hai đứa cùng một thầy dạy, mắt nhìn đối thủ thì tai thỉnh thoảng cũng phải nghe xem Cẩu nó thế nào chứ? Nhỡ Cẩu thua mà mày chưa chế trụ được thằng béo kia, hai đứa giáp công một trước một sau thì có mà đi đời cả nút. Quá thất vọng! ”

Vừa nói, ông vừa lấy hai ngón tay cốc lên đầu chúng nó. Tất nhiên là Quận ra tay rất có chừng mực, không tổn hại gì đến bọn nó cả. Ngược lại, nội lực từ cái cốc đầu của ông cũng nhẹ nhàng giải khai hết đống huyệt đạo bị điểm của cả hai. Hai đứa bị đau, vừa lấy tay xoa tới xoa lui đỉnh đầu mình vừa xuýt xoa.

Phiêu Hương mở to mắt nhìn Quận, làm nũng:

“ Uuuu… thầy ác thế, đứng ngoài xem từ đầu mà cứ núp kín mít một chỗ chẳng chịu ra tay gì cả. Chúng con vừa rồi sợ muốn chết đấy thầy biết không? Chẳng may tên gầy lúc đó tự nhiên ngứa tay ngứa chân, bẻ cổ Cẩu đánh cạch một cái, thì thôi lá xanh rụng trước lá vàng rồi còn gì? ”

Quận Gió nguýt cô bé một cái dài hàng dặm đường, nói:

“ Gớm, cô cậu gian như lươn như lẹo, người ta không sợ thì thôi chứ biết sợ cái gì?? ”

“ Con… sợ ma. ”

Tạng Cẩu lí nhí, cúi thấp đầu vẻ xấu hổ. Phiêu Hương thấy vậy bèn nhào đến, đôi tay bắt lấy hai bên má nó hết nhéo lại nhào, nói:

“ Cả ông thầy đại bợm của bọn con nữa. ”

Quận trông Tạng Cẩu gật đầu như vái sao thì chỉ biết im lặng. Thực là không biết xử trí hai đứa quỷ sứ này ra làm sao.

Đuổi đám đệ tử phái Long Đỗ đi rồi, ba người Quận Gió mới trở vào trong chính điện. Tạng Cẩu không quên lấy một thùng nước đầy cho Khiếu Hoá Tăng. Ông sư ăn xin chẳng biết tìm được một cái chum kiệu ở nhà nào, đặt ngay giữa điện thờ. Nước đổ đến lưng chừng chum, ông bèn bảo Huỳnh Bách Việt cởi áo ngoài rồi trèo vào ngồi bên trong. Đoạn, Khiếu Hoá Tăng cũng cởi áo cà sa xuống. Hai bàn tay to bè đặt lên lưng Bách Việt, bắt đầu vận công giúp y bức độc trong cơ thể ra.

“ Y trúng độc không nhẹ, ắt là bị thương bởi Long Đỗ Truy rồi. Độc của lá ngón rất nặng, lão muốn bức ra hết e phải tiêu hao mười năm công lực khổ luyện mà có đấy lão ăn mày ạ. ”
Quận Gió nheo mắt nhìn ra xa, ngữ điệu rất tuỳ ý. Trong lúc ấy, độc lá ngón cũng bắt đầu bị đẩy ra ngoài theo các ngón tay Huỳnh Bách Việt. Nước trong chậu thoắt cái chuyển sang màu đen.

Vầng trán của ông sư ăn xin đã ướt lấm tấm mồ hôi, đôi lần ông còn phải khép mi vì nước chảy vào mắt. Song, ông vẫn cười mà đáp rằng:

“ Biết sao được, cứu một mạng người hơn xây bảy toà tháp cơ mà. ”

Quận Gió không nói tiếp nữa, mà cong ngón tay búng một cái. Một viên ngọc màu đen to cỡ hạt nhãn theo đó bắn vọt vào chum nước. Nước trong chum vốn dĩ đen xì xì, đột nhiên trong veo trở lại. Đến Khiếu Hoá Tăng là danh gia binh khí cũng phải giật mình.

“ Bách Độc Châu của tên họ Hoàng?? Lão bợm già này, lão chôm lúc nào thế? ”

“ Chôm? Ai thèm? Hôm qua tôi mới mò đến đánh nhau với hắn một chầu. Thua thì phải chung tiền thôi. ”

Khiếu Hoá Tăng cười xoà. Có Bách Độc Châu hỗ trợ, chuyện bức độc liền trở nên đơn giản hơn nhiều. Ngọc vốn dĩ đã có tính hút độc. Bách Độc Châu lại càng quý giá hơn, được người đời xưng là ngọc của ngọc quý. Ông không khỏi nhớ đến quy trình chế tác rườm rà vô cùng của Bách Độc Châu.

[ Tương truyền máu nàng Mị Châu hoá thành ngọc trai ở bể Đông. Sau khi lấy lên, không được chà lau bằng vải hay lụa mà phải phơi trong nắng hoàng hôn đến lúc không còn một hạt nước. Trong đúng đêm hôm mò được ngọc, lúc trăng rằm sáng nhất phải rửa qua nước giếng Ngọc - nơi Trọng Thuỷ gieo mình - ở Loa Thành mấy chục nước. May mắn lắm thì một vạn viên có một chuyển thành màu đen. Ấy mới là Bách Độc Châu. Quả là danh bất hư truyền. ]

Khiếu Hoá Tăng lại tưởng tượng đến khuôn mặt của đảo chúa họ Hoàng đảo Bạch Long dài ra thườn thượt vì tiếc của, không nén được phì cười.

Quận Gió thắp chín nén nhang, vái mấy vái rồi cắm lên lư hương chỗ bàn thờ. Trước là tạ ơn thần linh phù hộ độ trì cho mấy đứa nhỏ tai qua nạn khỏi, sau lại xin tạ lỗi vì làm náo loạn chốn linh thiêng.

Nhang thơm cháy hết nửa cây, sắc mặt Huỳnh Bách Việt đã tốt lên nhiều. Y khoanh chân ngồi một góc chính điện điều tức. Liễu Thăng hãy còn ngủ li bì chưa tỉnh, Cẩu và Hương đang tự mình luyện võ ở vườn sau. Trên mái nhà, hai vị tông sư ngồi sóng vai, bên cạnh có hai quả bầu khô. Quận thì hay rượu, nên đi đâu cũng mang một quả bầu khô đựng đầy cái chất cay cay này. Khiếu Hoá không ưa say xỉn, dùng nước vối hầu chuyện ông.

“ Lão ăn mày này. Hồi hôm tôi phát hiện Cẩm Y vệ trong doanh trại quân Minh đấy. ”

“ Thế à? Thế chúng nó qua Đại Việt ta nhằm mục đích gì? ”Khiếu Hoá Tăng uống một ngụm nước vối, lại nhớ lại chuyện năm ngoái. Lần đó Trần Thiêm Bình dẫn quân Minh vào nước nam, đã có một toán Cẩm Y vệ theo cùng. Bề ngoài thì giả như hộ tống họ Trần, kì thực vừa qua biên ải là chúng túa ra khắp nơi, móc nối với bè lũ thương nhân để trà trộn vào các đoàn buôn. Từ đó toả đi khắp các làng trên xóm dưới mấy phủ mấy châu phía bắc liền.

Ông sư ăn xin từng tóm được vài tên, nhưng tra hỏi thế nào cũng không chịu khai ra mục đích, đành phải nhờ Cứu Khổ thần tăng giam lỏng chúng ở thiền viện nam Trúc Lâm trên mạn Đèo Ngang.

Quận móc một vật trong áo ra, nói:

“ Chúng lần mò sang Đại Việt là dựa theo chỉ dẫn của cái này. ”

Nhìn kỹ thì thấy ấy là một cục đồng to bằng quả quất, một đầu loe ra đầu kia hẹp lại. Khiếu Hoá Tăng đón lấy, quan sát cẩn thận hơn mới biết đây là một cái trống thu nhỏ.

“ Vật này… ”

“ Lão hẳn từng đến bản của hổ vương làm khách, tất nhiên sẽ nhận ra nó. Đúng! Nó được phảng chế theo hình dáng của trống đồng Phùng Nguyên (*). Có điều ấy chưa phải thứ trọng yêu. Cái đáng nói ở đây là hoa văn của nó. ”

Quận lần theo mặt trống, lại đưa một tấm kính be bé cho Khiếu Hoá tăng. Nếu Lý Bân ở đây, sẽ phát hiện ấy chính là một thấu kính hội tụ đơn giản thường dùng trong các loại kính lúp sơ khai.

“ Thứ này là của lái buôn tây vực, dùng để nhìn các vật nhỏ bé. Thần kì lắm đấy. ”

Khiếu Hoá nhìn qua kính, quả nhiên thấy hoạ tiết trên mặt trống bắt đầu nổi lên rõ ràng hơn. Hiện lên trong thấu kính không phải cảnh chim bay thú nhảy, lao động hát ca thường thấy trên những cái trống đồng cổ kính treo kín tường trong nhà hổ vương.

Thứ xuất hiện trong mắt lão sư ăn xin là một hình trôn ốc có chín vòng. Bên dưới là đồ án một cụ rùa thần cắn cổ con gà trắng. Phía trên có hình sóng nước lượn quanh, núi cao rợp mắt. Mé tả lại là hình chiếc nón tu lờ úp lên gậy tầm xích, cánh hữu khắc một khóm tre ngà.

“ Lẽ nào là chốn ấy? Không đúng! Loa thành hiện giờ chỉ còn ba lớp tường. Nếu thứ được khắc hoạ trên mặt cái trống đồng này là thành Quỷ Long huyền thoại thì đáng lí không thể vẽ như vậy. Lại còn dòng sông dãy núi, nón gậy rặng tre này đại diện cho cái gì? ”

Khiếu Hoá lướt qua từng hình khắc trên mặt trống, trong đầu cứ hiện lên từng câu từng câu hỏi, xoay mòng mòng như một đàn muỗi. Nghi vấn trùng trùng điệp điệp, càng gỡ lại càng thêm rối.

“ Vậy mới khó. Tôi đoán ấy rất có thể là manh mối duy nhất còn sót lại về nơi cất giấu thần kiếm Thuận Thiên. Bí ẩn sáu vòng thành mất tích của Cổ Loa, ắt phải dựa vào những hình khắc trên mặt trống này mới phá giải được.

Đang buổi chiến tranh loạn lạc, thay triều hoán đại. Nếu bây giờ công khai tuyên bố đi tìm Thuận Thiên kiếm, thì tôi e võ lâm sẽ lại xào xáo lên một lần nữa. Công lao của thiền sư Tuệ Tĩnh cũng sẽ phải đổ sông đổ bể. Nên mong lão giữ kín giúp cho. ”

Quận Gió vuốt râu thở dài, ánh mắt hướng về phương xa:

“ Tôi có nghe hai đứa nhóc kể qua mọi chuyện rồi. Chắc là Liễu Thăng không may bị cuốn vào tranh chấp giữa Khỉ Lông Xanh với phái Long Đỗ, nên mới bị thương. ”

Khiếu Hoá nhún vai, nói:

“ Các cụ dạy đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Bác gió đã lưu dấu chân từ năm chí bắc, hiểu biết hơn người. Ở đây có bức mật thư Huỳnh Bách Việt đưa, nói là Trương Phụ gửi cho trang chủ Bách Điểu sơn trang. Tôi cố giải mãi mà không được đây. Bác ngó qua thử xem sao. ”

Quận đón bức mật thư, lướt mắt qua một lần. Những ký tự ghi chi chít trên giấy chẳng phải Hán tự, cũng không phải chữ Nôm, rất kì lạ.

Chương 62: Hồi mười (5)

Nhìn mặt chữ một lúc, Quận Gió bèn liếm môi, ngón tay khẽ day hai bên thái dương:

“ Đây là kiểu chữ tượng hình của Ai Lao, rất khó đọc. Tôi cũng chỉ biết mặt chữ thôi. Tên Trương Phụ dùng chiêu này, nghĩ rằng dù mật thư có lọt vào tay người Đại Việt thì ta cũng đành chịu chết không dịch nổi. Hà, thông minh vẫn bị thông minh hại. Hai anh em họ Đậu ở mạn Cổ Loa biết đọc thứ tiếng này! Tìm được họ, thì mười cái mật thư ta cũng đọc được tuốt! ”

Khiếu Hoá nói:

“ Hai người này được đích thân Thiên Cơ lão đạo mời tới Tây Đô dự anh hùng yến. Thế nên chắc chắn đang chạy tới thành Tây Đô. Thời hạn ba tháng cũng chỉ còn có mấy ngày, ta nhanh lên đường đi còn kịp. ”

Quận Gió thấy lời Khiếu Hoá Tăng nói cực kì có lí, bèn nhảy xuống khỏi mái điện.

Doanh trại quân Minh…

Trương Phụ và Mộc Thạnh ngồi cùng bàn, mặt mũi sa sầm cả lại như nhà nghèo chết trâu.

“ Quân ta đã thắng trận, về lí mà nói thì Liễu Thăng phải quay lại rồi mới phải. Khỉ thật! Liệu nó có bị hai chị em Tạng Cẩu bắt cóc không? ”

Mộc Thạnh mở lời, hỏi.

“ Cái chân gãy của nó chưa khỏi hẳn, song võ nghệ thằng Cẩu kém xa nó. Con bé con hỉ mũi chưa sạch kia không tính vào cũng được. Thám báo của ta cho hay lúc vừa xuất doanh chưa được bao xa thì bị ai đấy đánh ngất, quẳng chỏng chơ giữa đường giữa xá. Ta e ấy mới là kẻ muốn ra tay với Liễu Thăng. ”

Trương Phụ từ tốn đáp, sắc mặt ảm trầm nay có thêm một chút giận dữ.

Mộc Thạnh đập bàn bằng cánh tay còn lại, rít:

“ Thế thì phải làm sao? Bệ hạ mà biết hai ta chiếu cố Liễu Thăng không chu toàn, không khéo mất đầu. ”

“ Bình tĩnh! Ta đã cử Cẩm Y vệ ra ngoài dò la tin tức, ắt sẽ sớm biết nơi hạ lạc của Liễu Thăng thôi. Cái thằng… chẳng biết có phải vạ đào hoa của đế vương không mà có đãi ngộ ấy. ”

Họ Trương gằn giọng.

Nhóm người Khiếu Hoá Tăng - Quận Gió chia tay Huỳnh Bách Việt, mỗi người một ngả. Họ Huỳnh gây thù chuốc oán với sơn trang Bách Điểu, quyết định xuôi nam tìm một làng quê nào đấy để mai danh ẩn tích, cuốc đất trồng cây mà sống qua ngày. Chỉ có rút khỏi chốn giang hồ đầy hung hiểm mới tránh khỏi bị sơn trang truy sát.

Quận xách hai đứa Cẩu, Hương. Khiếu Hoá thì cõng Liễu Thăng. Hai vị tông sư cùng thi triển khinh công chạy đi như bay, cứ chọn đường ngắn đường nhỏ mà đi. Tốc độ so với cưỡi ngựa còn phải nhanh hơn vài phần. Hai người đi cả ngày trời, dù cổ khô ran vì khát và bụng cồn cào đói meo nhưng càng chạy lại càng hăng. Chỉ khi ánh nắng cuối cùng vụt tắt nhường chỗ cho bóng tối hai ông mới dừng lại đốt lửa nghỉ ngơi.

Trong lúc hai tông sư dưỡng thần hồi khí thì ba đứa nhỏ lui cui phụ giúp bắc nồi thổi cơm. Xong xuôi thì luận bàn võ nghệ với nhau. Chân Liễu Thăng còn đau, nên ngồi làm trọng tài quan sát, chỉ điểm lỗi sai cho hai đứa còn lại.

Thế nhưng vừa trông thấy ngón võ mới học quái lạ mà không kém phần cao thâm của Tạng Cẩu, Liễu Thăng chỉ biết trợn tròn mắt. Thằng em kết nghĩa của nó học võ ngày một nhanh, mỗi đêm đều tiến bộ thần tốc. Trông hai người Cẩu, Hương so chiêu mà Liễu Thăng thấy hơi hổ thẹn vì bộ Nhạc gia thương pháp bản không đầy đủ của mình.

Đánh một chặp mệt lử, ba đứa mới lăn kềnh ra nằm sát nhau dưới gốc cây, Cẩu nằm giữa chen giữa đôi oan gia hở ra là cãi nhau này.

Nằm một lúc, nó mới giật mình quay qua trái. Thì ra là Hương đang kéo kéo áo nó. Cô bé mở to đôi mắt nhìn Tạng Cẩu, hỏi:

“ Mà này, hồi sáng Cẩu muốn cho tớ cái gì đấy cơ mà. Còn chạy vội ra sân đền lấy lá với que vào đầy một nắm nữa. Thấy tớ quên, định trốn nợ hả? ”

Thằng bé nghĩ một lúc, mới sực nhớ ra. Hai đứa nó luận bàn một phen, rồi trải qua đủ thứ việc khiến nó bẵng đi mất. Nó mó vội vào trong áo tìm nguyên liệu thì que đã gãy rụp đường que, lá đã nát vụn đường lá.

“ Hứ, biết thế lúc ấy cứ mặc xác Cẩu, để người xấu bóp cổ cho rồi. ”

Thấy nó loay hoay đến nỗi luýnh quýnh cả lên, Phiêu Hương lại nổi tính trẻ con lên, bèn doạ nó chơi.

Tạng Cẩu không nói gì, đi nhặt mấy cái que với vài phiến lá mang đến gần đống lửa cho sáng. Đôi tay nó làm liến thoắng, từng thao tác nối tiếp nhau trơn tru như nước chảy mây trôi. Hai đứa Thăng, Hương nhìn mà giạt mình kinh ngạc. Dù chẳng rõ thằng nhóc muốn làm thứ gì, nhưng xem chừng Tạng Cẩu thạo việc. Bẻ bẻ xé xé một hồi, Tạng Cẩu đã ngừng tay. Nó đem thứ mình vừa làm đến đưa cho Phiêu Hương, nói:

“ Cho cậu này. Ở quê nhà, đám trẻ chăn trâu bạn tớ hay chơi cái này lắm. ”

Thì ra thứ nó làm là một con trâu lá.

Anh nhặt lại lá đa

Mùa rụng về bỏ ngỏ

Những đứa trẻ gom lá đa nhóm lửa

Đốm mắt mình kỉ niệm rít trong tro

Nhặt lại lá đa

Làm con trâu lá

Những đứa trẻ hồn nhiên nói nhỏ

" Trâu lá bây giờ ai chơi nữa chú ơi "

Nhặt chiếc lá vò nát trong tay

Lá vụn ứa đau mùi nhựa trắng lá ứ nhựa trong lòng tay nóng

Chát một thời ta không có cho ta

***

Con trâu lá

Cô bé nghèo

Áo rách

Thuở cơ hàn

anh bụi lấm tóc xanh

Con trâu lá

Sừng cong khúc đồng dao

Trâu cày ruộng cạn

Quần áo hoen đất vàng

Chúng mình

Bát cơm không đầy khoai trộn nửa

Chén nước chấm muối hòa cùng nước lã

Chúng mình

Đói lòng tìm mâm cỗ trong mơ

Cô bé ơi

Cầu vồng tuổi thơ

Môi em rạn gió lạnh về ứa máu

Anh chằng chịt mảnh vá áo

Da xạm màu ***

Tuổi thơ về đâu

Lá đa mấy mùa anh nhặt lai

Con trâu nhỏ trên tay đứa trẻ hỏi

" Cho cháu lá này nhóm lửa có được không "

Thả về hư không

Con trâu quặn mình theo tàn đổ

Cuộc đời là ngọn lửa

Đã vô tình đốt cháy tuổi thơ.

( Trâu Lá Đa - Thơ Hoàng Trần)

Không tìm được rơm để buộc, Tạng Cẩu bèn bện dây tơ hồng nó tìm được trên thân cây bàng lại dùng thay. Đáng lí phải dùng lá đa, nhưng nó tìm không được nên lấy tạm lá bàng. Đang độ đông về, nên cây bàng thay áo lá, nhuộm đỏ cả một thảm rừng. Con trâu của Tạng Cẩu vì thế trông vừa rực rỡ màu lá, vừa duyên dáng tơ hồng.

“ Xem kìa Khiếu Hoá, tí tuổi đầu đã biết tậu trâu hỏi vợ rồi. ”

Quận Gió thoáng mở mắt, nhìn ba đứa nhỏ mà thì thầm với lão sư ăn xin ngồi cạnh.

Phiêu Hương khẽ kéo dây tơ hồng, thì đầu con trâu lá bàng cũng gật gù theo. Cô bé cười khúc khích, thích lắm. Trong cung Hương chẳng thiếu những món đồ chơi bằng sứ trơn láng, bằng bạc trắng tinh. Nhưng bao nhiêu thứ sơn son thiếp vàng sáng loá ấy còn chẳng thú vị bằng con trâu lá Tạng Cẩu tặng. Chỉ bằng cái lá be bé, mấy sợi dây tơ hồng và vài cái que nhặt đại bên đường cũng được cả đống mà có thể làm thành một món đồ chơi.

Tạng Cẩu thấy Liễu Thăng cũng nhìn con trâu lá trên tay Hương trân trân, bèn mỉm cười xục xạo đống vật liệu làm thêm một con nữa cho cậu. Hai người mỗi người có một con. Nhưng tay Tạng Cẩu xé là không đều, nên con của Liễu Thăng trông có vẻ hơi to đầu bé đít chứ không được cân đối như của Hương.

Chờ hai đứa đùa chán với trâu của chúng, Cẩu bèn mỉm cười:

“ Con trâu này còn chọi nhau được nữa nhé. Đây! Đặt trâu vào gần nhau như thế. Xem đầu ai rụng trước là thua. ”

Vừa nói, Tạng Cẩu vừa hướng dẫn hai đứa nhóc còn lại chọi trâu lá. Cả hai đều thấy háo hức muốn thử trò vui mới. Con của Liễu Thăng đầu hơi lệch, nên thua. Phiêu Hương thắng được sới đầu thích lắm, reo lên ầm ĩ.

“ Cẩu! Làm ngay cho anh một con to vào, để anh cho con nhãi láo xược này biết thế nào là lễ độ. ”

Ba tên nhóc lăn tròn vào một đống, chơi chọi trâu với nhau. Quận và Khiếu Hoá ngồi đằng xa quan sát, ký ức về tuổi thơ bên đồng ruộng như hiện lên trước mắt.

Tiếc nhìn bãi bể nương dâu, buồn trông sao dời vật đổi. Thời gian trôi qua như sông Đà bắc tiến, chớp mắt nửa đời người. Cảnh xưa người cũ nay đâu?

Nhìn ba đứa nhỏ vô tư cười đùa, ông bèn cười đắng cay. Trong lòng ông hiện lên một dự cảm mơ hồ, không rõ là điềm lành hay dữ.

“ Cẩu… nếu như ta được một phần như con thì tốt rồi… ”

Trăng kéo sao lên sáng cả rừng…

Tạng Cẩu đang thiu thiu ngủ, thì bất giác một bàn tay gầy gò vỗ nhẹ từng cái vào mặt đánh thức nó khỏi cơn mơ. Bừng tỉnh, nó dáo dác nhìn quanh, thầm tự rủa bản thân mất cảnh giác.

Bình thường chẳng mấy khi nó ngủ sâu, lúc nào cũng phải nơm nớp lo sợ. Nhưng vài ngày gần đây mọi thứ quanh nó có vẻ bình yên hơn trước. Lại thêm có Quận Gió, Khiếu Hoá Tăng ở bên khiến nó an tâm đánh một giấc thẳng cẳng.

“ Thầy??!! ”

Quận Gió đang nhìn nó, sắc mặt ôn hậu bình thường thoắt cái trở nên nghiêm khắc. Mắt ông đen và sáng lên, xoáy sâu vào tâm hồn nó. Tạng Cẩu khẽ nuốt nước bọt, tự hỏi nó đã làm gì để thầy nó nổi cơn thịnh nộ.

Quận Gió trầm giọng, hỏi:

“ Mày đã quên mối thù mày đang gánh trên vai rồi đúng không?? CẨU???? ”

Tạng Cẩu giật mình đánh thót, chỉ kịp kêu “ Á ” một tiếng rồi ngồi thộn ra như tượng. Ánh nhìn của Quận Gió ác liệt chẳng thua dao bén, lão lại vận công vào tay áo khiến kình phong phạt vào mặt làm nó chỉ có thể mở hé đôi mắt. Hiện giờ đến thở mạnh nó còn không dám huống chi là nói dối.

Nó mở miệng toan đáp, song lại ngập ngừng. Quả vậy, những ngày qua, cùng học võ với Quận Gió, chơi đùa với Liễu Thăng và Phiêu Hương khiến nó thay đổi. Lòng Tạng Cẩu thanh thản hơn, tim nó nhẹ đi. Việc trả thù như biến khỏi đầu óc nó vậy. Nhưng nay Quận Gió vừa nhắc tới món nợ máu, thảm cảnh thôn Điếu Ngư lại hiển hiện khiến trong lòng nó bất chợt có một thứ cảm xúc lẫn lộn. Căm, ghét, khinh bỉ. Nó thù không chỉ kẻ ác đã thảm sát thôn dân, mà còn ghê tởm chính bản thân nó nữa.

“ Con… con… phụ lòng thầy. ”

Nó không dám phản bác, chỉ cúi đầu lí nhí. Mối thù sâu nặng đến là vầy, ấy thế mà không phải lúc nào cũng hiện hữu trong nó… Điều ấy nó cho rằng đáng hổ thẹn.

Chương 63: Hồi mười (6)

“ Làm tốt lắm. ”

Quận chợt ôm nó, ghì sát đầu Tạng Cẩu vào mình. Ông vỗ mấy cái vào lưng nó, trong thanh âm run rẩy không còn che giấu nổi sự tán thưởng nữa. Còn thằng bé, kẻ đang được khen và mái tóc đang đón lấy những giọt nước lã chã rơi, thì lại nghệt mặt ra lần thứ hai chỉ trong chưa đầy một khắc.

“ Thầy… không trách… con?? ”

“ Trách?? Không! Ta mong được như con còn không được ấy. ”

Quận Gió nheo mắt, lấy tay áo quệt nhanh qua mặt.

Chưa bao giờ Tạng Cẩu thấy thầy mình gần gũi đến thế. Trước đây, lần nào nó cũng phải ngước lên nhìn bóng Quận bay xa dần sau những ngọn cây. Chưa bao giờ nó có cái ý nghĩ, rằng Quận cũng biết buồn đau, cũng rơi nước mắt.

“ Đời là gì? Ôi. Kẻ sống uổng mới sáu chục năm như ta cũng chẳng thể cắt nghĩa được. Nó là tất cả con ạ. Mọi màu sắc con nhìn, âm thanh con nghe, hương vị con nếm đều chỉ chiếm một góc nhỏ của nó mà thôi.

Nếu thù hận nhấn chìm con, thì con chỉ nhìn thấy màu đen u tối, nghe toàn những tiếng quỷ khóc ma gào, trong miệng chỉ độc vị chát xít và lưỡi co rụt vì đắng ngoe đắng ngoét quanh năm suốt tháng. Thế là con sống được có một nửa mà thôi.

Con rất giống một người ta quen, Cẩu ạ. Cũng như con, gia đình hắn bị người ta bắt đi. Cũng như con, hắn bị cướp đi thứ duy nhất hắn hằng trân trọng trong suốt cuộc đời vô dụng của mình. Song, hắn không thể làm được như con, ấy là biến thù hận thành động lực. Không… ôi, không! Kẻ ngu si ấy để mối thù hắn mang trở thành chính con người hắn. Việc trả thù trở thành cuộc sống của hắn. ”

Quận Gió kể tới đây, bèn lấy cặp guốc luôn đeo bên mình ra. Giờ Tạng Cẩu mới để ý, rằng đôi guốc này có hai cái cùng một bên. Mặt dưới nứt một đường dài, cháy đen thùi một mảnh to.

“ Và rồi hắn đã phải trả giá! Ah ha ha. Ông trời có mắt lắm mà. Hắn lùng sục, hắn lần tới tận nhà kẻ đã ra tay với vợ con hắn. Và hắn giết tất cả. Đoạn, hắn thiêu trụi căn nhà và chờ kẻ chủ mưu quay lại, đinh ninh thi thể người đàn bà và cô bé con hắn thấy treo ngoài sân là vợ con hắn.

Chẳng bao lâu sau, gã chủ mưu quay về. Thấy hắn lăm lăm thanh đao, sau lưnh là ngôi nhà cháy rừng rực, y bèn giơ hai tay lên tỏ vẻ chẳng buồn phản kháng.”

Không cần nghe tiếp, Tạng Cẩu cũng biết Quận Gió đang nói về chuyện cũ của chính ông chứ chẳng ai khác. Nó thầm nghĩ:

[ Nếu mình không lúc nào ngừng nghĩ về việc báo oán, có lẽ sẽ trở nên giống như thầy. ]

Quận kể tiếp. Giọng ông khàn khàn đục đục, thoảng qua chút nghẹn ngào.

“ Gã chủ mưu khinh khỉnh nhìn hắn, rồi cười sặc sụa. Hắn nói: “ Lâm ơi là Lâm, chẳng lẽ mày không nghe thấy tiếng ai đập cửa tủ đùng đùng, nỉ non kêu cứu à? ”. Tên ngu si kia bèn đáp: “ Chẳng liên quan tới ta. ”. Hắn nghĩ: vợ con mình còn chết cả, cứu kẻ không can hệ tới bản thân mà làm gì?

Nếu khi ấy, hắn có một chút vị tha trong lòng thì bi kịch của đời hắn đã không xảy đến. Nhưng, cặp mắt, đôi tai hắn đều đã bị hận thù bịt kín thì nghe gì nổi, nhìn gì được? Kẻ chủ mưu khi ấy bèn tiết lộ: “ Vợ con mày tao giấu trong tủ áo. Còn hai cái xác, chẳng lẽ mày không nhận ra là ai? ”

Đến lúc này, tên ngu xuẩn kia mới điếng người. Sợ hãi, hối hận, đau khổ như nuốt chửng, kéo hắn tuột thẳng địa ngục A Tỳ. ”

Tạng Cẩu nghe ông kể mà rùng mình. Nó tự hỏi lòng mình, nếu như đặt nó vào hoàn cảnh của ông thì nó sẽ phản ứng như thế nào. Liệu nó có giữ được bình tĩnh không? Hay cũng sẽ như điên loạn như ông để rồi…

Cảm giác được ban cho một tia hi vọng mong manh rồi lập tức bị vùi dập của hai mẹ con sẽ đau đớn đến mức nào? Nỗi đau của người cha người chồng khi biết chân tướng sẽ quằn quại tới đâu? Nó không tưởng tượng nổi, cũng không dám tưởng tượng nữa.

“ Con thấy người ấy đáng thương hơn đáng trách. ”

Cuối cùng, Tạng Cẩu vẫn thấp giọng, an ủi.

Quận vận hết sức bình sinh đấm mạnh vào thân cây bên cạnh. Ầm một cái. Thân cây to lớn gãy rạp chẳng khác gì một que củi yếu ớt.“ Đáng thương?? Đáng thương ư??? Đáng đời hắn thì có! Con biết hai thi thể kia, một thiếu phụ mà một bé gái do đâu mà có không?? Là do hắn! Chính hắn mà ra chứ chẳng ai khác!

Hắn vốn là một tên đao phủ, chuyên chém phạm nhân. Lưỡi đao của hắn vấy máu của chẳng biết bao nhiêu người. Những người ấy có tội hay bị oan, ác độc hay thiện lương hắn cũng mặc xác. Triều đình nói thì hắn làm, như con chó ngoan vẫy đuôi liếm chân của nhà chủ hòng chiếm miếng thịt thừa, đòi mẩu xương thối. Thế nhưng, ấy còn chưa phải tội tày đình nhất!

Tên đao phủ ấy nhận lệnh chém một gã tử tù, hình như là người Minh giáo. Vợ người tử tù nọ hay tin, bèn đến van lơn hắn cho được gặp chồng một lần cuối. Thấy nàng có chút nhan sắc, hắn mới động lòng… ”

Quận kể đến chỗ này, thì nội lực trong cơ thể không tự chủ được nữa mà dâng trào, khiến ông loạng choạng ngã xuống đất. Nón tre rơi khỏi mái đầu, tóc ông loà xoà phủ xuống mặt. Từng lọn từng lọn tóc trắng như cước bị nội lực của ông đạn cho xổ tung ra, lơ phơ như chùm rễ si già.

“ Hắn… thằng khốn nạn ấy đưa cô vợ trẻ đến trước mặt chồng cô ta trong địa lao mà hành dâm. Tiếng van lơn đứt quãng mà khẩn khoản của người phụ nữ, từng tràng hú liên hồi thấm đượm nỗi thê lương của tử tù càng khiến con súc sinh mặt người ấy hưng phấn hơn. Hắn nghĩ tử tù kia đằng nào cũng phải chết, nên đã tính đến chuyện cướp vợ của người khác.

Con nói xem, ông trời có mắt hay không? Tên mặt người dạ thú ấy nào có ngờ được đêm đó lại có một kiếm thủ Bồng Lai chạy vào trong cung, huyên náo loạn lên. Đồng bọn của gã tử tù nhân lúc rối loạn, cứu hắn thoát khốn.

Kẻ tử tù trở về nhà, thì vợ hắn đã xấu hổ quá mà tự vẫn. Thi thể đã không còn hơi ấm của con gái lớn thì hắn tìm thấy ở sau nhà. ”

Tạng Cẩu nhìn ông trân trân, không dám hó hé lấy một lời. Có những thứ nó không hiểu trong câu chuyện của ông. Nhưng cứ nhìn phản ứng của Quận Gió, thì chúng ắt phải là những điều tệ hại lắm. Rốt cuộc Quận là người tốt hay kẻ xấu? Nó cũng không biết nữa. Chỉ rõ ràng một điều, rằng từ bấy tới giờ ông vẫn luôn sống trong nỗi ân hận vì những gì mình đã làm ra.

Kể cả hai đứa Thăng, Hương dù đã nghe hết câu chuyện từ đầu chí cuối đều chẳng biết phải nói gì cho phải vào lúc này. Chỉ có Khiếu Hoá Tăng là thở dài thườn thượt.

Quận Gió đâu phải con người mà đám nhóc con có thể hiểu trong một sớm một chiều? Khiếu Hoá cũng chỉ mong có một ngày đám nhóc thôi hiểu lầm vua trộm. Thế nhưng Quận không muốn giải thích, ông sư ăn mày cũng chẳng tiện xen vào.

Sớm hôm sau, đoàn người lại khởi hành. Lần này bầu không khí đã trầm xuống, vắng hẳn tiếng cười nói vui đùa của đám trẻ. Năm người cứ yên lặng lên đường, chẳng ai nói với ai lời nào. Thỉnh thoảng lắm mới nghe tiếng Khiếu Hoá Tăng ngáp dài ngáp ngắn.

Đi chừng nửa ngày đường, thì đường lớn vẫn vắng bóng dân chạy loạn bắt đầu tấp nập hẳn. Từ các châu các phủ, không biết cơ man nào là người là ngựa tràn về thành Tây Đô theo lời triệu tập của Thiên Cơ lão đạo. Trước là dự anh hùng yến mừng công phù Trần mã đáo thành công. Sau lại họp mặt lãnh tụ đầu lĩnh của các bang các phái trên giang hồ, mở đại hội võ lâm.

Hai vị tông sư không muốn bị chú ý, bèn thả chậm tốc độ lại.
Anh hùng yến do đích thân Thiên Cơ lão đạo làm chủ, thành thử đường cái nhìn đâu cũng thấy nhân sĩ giang hồ. Kẻ độc hành lãng khách thì lưng bối trường đao, eo đeo bảo kiếm. Đệ tử danh môn đại phái lại kết đoàn mà đi. Nhóm nhỏ của Quận Gió và Khiếu Hoá Tăng thoắt cái đã lẫn vào đoàn người như muối chìm đáy bể.

Phiêu Hương lấy con trâu lá Tạng Cẩu tặng, cài lên tóc. Màu đỏ lá bàng hiện lên trên nền đen bóng mượt, như một vầng dương đậu lại trên dòng sông đêm tối. Sự tương phản mà đẹp đến tuyệt diệu.

Tạng Cẩu thò đầu lên từ vai Quận Gió, nhìn ngó khắp nơi. Lần đầu tiên nó thấy nhiều nhân sĩ võ lâm đến thế, không khỏi thấy vô cùng hứng thú. Nó lại nhớ lại đặc điểm của các môn, các phái Quận Gió dạy cho hồi trước mà bắt đầu nhận dạng.

Đi ở góc đường phía trước họ không xa là một đám người ăn vận như ngư phủ. Mỗi người có một tấm lưới vắt trên đôi vai trần rắn rỏi, rám vị mặn mòi của biển. Tạng Cẩu đoán ấy ắt là phái Cửu Cung rồi.

Một mình độc bá hẳn một đoạn đường khiến không ai dám lại gần đúng là đội hình của sơn trang Bách Điểu. Đệ tử sơn trang này phân làm bốn đội, do bốn Tinh cầm đầu. Trong bốn người, cước bộ của Bạch Kê Tinh Mạc Viễn là phù phiếm nhất. Y mới bị Hồ Đỗ dùng man lực đánh cho suýt thì đi đời. Dù may mắn giữ được mạng, nhưng nội thương trong người còn nặng, khó mà hồi phục được trong một sớm một chiều.

Đi hàng trước nhất là một trung niên vận áo đối lĩnh màu trắng. Thời Lí, Trần đàn ông bị cấm tuyệt đối mặc đồ màu trắng. Người này lại dám ngang nhiên mặc cấm phục, chứng tỏ trong mắt hầu như chẳng có triều đình.

Kẻ đứng trên cả bốn Tinh, tất nhiên phải là trang chủ của Bách Điểu sơn trang rồi.

Tạng Cẩu lại đảo mắt nhìn ra một chỗ khác. Chỉ thấy ở hướng đó có một nhóm thanh niên khoan thai bước đi. Đoàn người ai nấy đều bận một bộ áo giao lĩnh phẳng phiu màu tối, đầu búi tóc đóng khăn cẩn thận. Nhìn họ mà Tạng Cẩu nhớ ngày xưa ở thôn Điếu Ngư, lúc tiễn mấy anh học trò hàng xóm trảy kinh đi thi họ cũng ăn mặc thế này.

Thấy kì lạ, nó bèn hỏi Phiêu Hương:

“ Thời buổi này mà còn học trò đi thi ư? ”

Học trò xưa thường là những người quanh năm dùi mài kinh sử, chong đèn đọc sách những mong đỗ đạt hiển vinh, vinh quy bái tổ. Nước nhà đang có loạn, mà học trò còn kết bè kết đội đi lại khơi khơi kể cũng lạ.

“ Suỵt. Be bé mồm thôi. Đấy đều là giám sinh của Quốc Tử Giám đấy. ”

Phiêu Hương ngoắt Tạng Cẩu một cái, nói khẽ.

Liễu Thăng nghe xong, không khỏi thấy không phục, bèn nói:

“ Quốc Tử Giám?? Đấy chẳng phải là nơi các tế tửu, tư nghiệp giảng đạo thánh hiền, khảo nghiệm đức độ của đám học trò ư? Bắc quốc ta ngay nhà Tuỳ đã mở một nơi. Trong ấy toàn là giám sinh trói gà không chặt thì có gì phải sợ? ”

Phiêu Hương bĩu môi, nói:

“ Mỗi nơi mỗi khác, cứ làm như nước Nam này là bản sao của bắc quốc mấy người không bằng! ” - cô bé lại nhìn hướng qua đoàn giám sinh của Quốc Tử Giám, tiếp: “ Quốc Tử Giám có thực lực rất đáng sợ, cao thủ ẩn tàng nhiều vô kể, nội tình sâu không thấy đáy. Bang chủ các bang phái lớn như Bách Điểu sơn trang cũng phải nể mặt tế tửu của Quốc Tử Giám ba phần. ”

“ Đâu chỉ sơn trang Bách Điểu. Bần tăng và bác Quận đến chơi Quốc Tử Giám cũng không dám vô phép. ”

Khiếu Hoá Tăng thấy ba đứa nhỏ bàn tán đến chỗ cao hứng, bèn đế luôn một câu vào.

Liễu Thăng nghe mà giật mình, âm thầm toát mồ hôi lạnh.

[ Nước Đại Việt đúng thực là nơi đầm rồng hang hổ. Bình thường tìm lòi mắt cũng chỉ thấy rặt một đám nông dân khố rách áo ôm, chân lấm tay bùn. Thế mà đụng chuyện một cái, là kì nhân dị sĩ thi nhau túa ra chẳng khác nào kiến càng vỡ tổ. ]

Chương 64: Tiền truyện hồi hai (2)

Ba người đuổi theo con tò vò ra ngoài, lại chạy men theo hồ. Được một lúc, thì đến trước cổng một ngôi chùa lớn dựng trên một hòn đảo ngòi Tây hồ. Ấy chính là chùa Trấn Quốc. Tương truyền, gần một nghìn năm trước Lý Nam Đế đã cho xây chùa này rồi.

Con tò vò lướt thẳng qua cầu, chui tọt vào tam quan. Ba người thấy thế, bèn dừng cả lại không đi tiếp nữa.

“ Chùa là nơi linh thiêng, gây huyên náo ở chốn này thì thực là thất kính. ”

Hồ Xạ nghe Lê Học nói thế, bèn cười khẩy:

“ Con tò vò của nhà ngươi chắc gì đã đúng? Mà coi như chúng thực sự nấp trong chùa, thì đám sư sãi trong này bao che mấy tên sơn trang Bách Điểu, không khéo là cùng một ruột. ”

Phạm Lục Bình nghe xong bèn nạt:

“ Chớ buông lời vô lễ. Chùa Trấn Quốc chứ không phải Thiếu Lâm tự, có khi là chúng lén trốn vào. Hoặc giả chúng lợi dụng lòng từ bi của các sư thầy. ”

Sư sãi trông nom chùa Trấn Quốc không biết võ công, điều ấy phàm là người trong võ lâm đất Nam ai ai cũng biết. Thế nhưng vì Phật pháp họ uyên thâm, nên dù là người võ công cao cỡ mấy cũng vô cùng kính trọng nơi thanh tịnh.

Lê Học nói:

“ Chẳng bằng ta vào chùa thắp nhang, chờ xem. Nếu quả thực những ác đồ kia trốn trong chùa thì tất lát nữa phải lòi đuôi cáo. ”

Ba người cùng cho là phải, bèn kéo nhau vào vãn cảnh.

Giống như các ngôi chùa khác ở đất nam, chùa Trấn Quốc được xây dựng với kiến trúc tuân theo những quy định chặt chẽ của Phật giáo. Nó gồm nhiều lớp nhà với ba ngôi chính là Tiền đường, nhà thiêu hương và thượng điện nối thành hình chữ Công (工).

Tiền đường hướng về phía Tây. Ba người đi tiếp, phát hiện phía sau thượng điện và nhà thiêu hương có hai dãy hành lang. Gác chuông chùa là một ngôi nhà ba gian, mái chồng diêm, nằm trên trục sảnh đường chính ngay sau thượng điện.

Lúc này trong chùa đang tổ chức lễ cầu siêu cho tướng sĩ tử chiến trong trận đánh với Chế Bồng Nga gần đây. Từ thượng điện, tiếng cao tăng tụng kinh vang ra đều đều mà lúc trầm khi bổng. Âm thanh mõ gõ cốc cốc hoà trong mùi nhang thơm nhẹ nhàng thoảng qua mặt hồ.

Ba người nhắm mắt, thấy lòng thoáng nhẹ đi. Trong phút chốc, sự thanh tịnh nơi cửa thiền như tẩy sạch oán giận tích tụ trong người, khiến cả ba trông thanh thoát nhẹ nhàng hơn bao giờ hết.

Lê Học thắp ba nén nhang trầm, trong khi Hồ Xạ và Phạm Lục Bình hỏi mua một phần vàng hương hoá cho anh em chiến hữu đã ngã xuống hôm nào. Làm xong xuôi đâu đấy, thì mặt trời cũng bắt đầu đứng bóng. Nhìn ra hồ, vầng dương đỏ ối chỉ còn một nửa lấp ló giữa những làn nước. Sóng gợn lăn tăn, làm hình ảnh phản chiếu mặt trời in lên hồ cứ lay động hết hợp lại tan.

Lê Học ngồi thừ ra, dưới ánh dương ấm áp chàng chỉ muốn im lặng mà tận hưởng cái thanh thản. Tết. Cái mùa gió về đất kinh kì lạnh tê tê, khiến người ta hơi có chút hoài niệm về nhà cũ làng xưa, về thân nhân bên mâm cỗ Tết. Lê Học vươn vai, giờ mà có chén bánh chay nóng hổi vừa ăn vừa ngắm hoàng hôn thì thú phải biết.

Hồ Xạ đi đi lại lại quanh gốc si lâu đời, hết đứng lại ngồi. Lo lắm. Y nhìn quanh nhìn quất, ngó nghiêng ngó dọc mãi mà chẳng thấy bóng kẻ thù đâu. Phạm Lục Bình đứng bên cạnh cứ phải khuyên y bình tĩnh mãi.

“ Bình tĩnh nào. Đâu khắc có đó. ”

“ Bình tĩnh thế quái nào được?? Chuyện của thằng Đỗ còn chưa xong, ai mà yên tâm cho nổi? ”

Hồ Xạ nghiến răng, nhưng cũng không dám lớn tiếng nơi thanh tịnh, thành ra chỉ gằn giọng lên.

Phạm Lục Bình đang tìm lời khuyên giải, thì bỗng ở sau chùa bật lên tiếng gào thê thảm:

“ Aaaaa! ”

“ Đến rồi đấy! ”

Lê Học cười, chỉ tay về phía âm thanh thảm thiết. Sư thầy đang ngồi tụng kinh cầu siêu cũng phải giật mình đứng dậy.

Chẳng cần chờ lâu, chỉ mấy hơi thở sau đã có một người tông cửa chạy vào sân chùa, hai tay còn khua loạn trên đầu. Không phải Đồng Kê Gia Tín thì còn ai vào đây nữa? Y vừa trốn, vừa hét lên:

“ Cút đi! Cút đi! ”

Con tò vò Lê Học thả đuổi sát đằng sau, trông hung hãn hơn bao giờ hết. Nó cứ sà xuống chích Gia Tín túi bụi hết phát này tới phát khác.

Chạy được nửa chừng, Đồng Kê đã vấp phải một đoạn rễ gồ lên, ngã sõng soài ra. Nhưng con vật nào có tha? Nó cứ châu vào mà đốt y tối tăm mặt mũi.Gia Tín lồm cồm bò, kêu cha khóc mẹ inh ỏi, lại dùng chưởng kình cố gắng đập cho kì được. Nhưng nào có ăn thua? Tò vò đã nhỏ lại nhanh, nay còn bị cái gì đó kích thích nên càng hung dữ hơn.

Lê Học giờ mới phát hiện con tò vò của mình khác thường, nhưng chính chàng cũng không rõ nguyên nhân. Chỉ thấy Gia Tín đột nhiên xuội lơ, nằm lăn quay ra đất. Tay chân y co lên từng cơn, miệng thì sùi bọt mép trắng ởn. Nhìn là biết y bị sốc nọc.

[ Không cứu thì y chết chắc! Nhưng tên này táng tận lương tâm, làm hại cả người già. Đúng là đáng chết. ]

Lê Học nghĩ một lúc, đang tính buông tay mặc kệ, thì lại nghĩ: [ Sư phụ từng dạy người học nghề thuốc phải lấy cái nhân làm gốc. Cứ ai mà có bệnh, bản thân mình cứu được thì cũng đều nên ra sức. Không thể vì bệnh nhân sang hèn thiện ác mà chọn cứu chữa hay bỏ mặc. Bằng không phải tổn tới cái y đức. Ôi! Nên cứu hay không cứu? ]

Chặc lưỡi một cái, Lê Học cũng vẫn chạy đến chỗ Đồng Kê xem thế nào. Thế nhưng vừa đi mấy bước, chàng đã biết ngay có điềm lạ, bèn lục áo Gia Tín xem thế nào. Quả nhiên lấy ra được một cái gói con bọc bằng bảy tám lớp lá chuối.

Con tò vò chàng mang thấy cái bọc, bèn đậu lên ngay. Chứng tỏ trong ấy phải có thứ gì thu hút nó.

Lê Học giở gói lá, thì phát hiện bên trong lúc nhúc toàn nhện là nhện. Con nào con nấy to bằng hai ngón tay, chân thì lông lá, bụng thì xanh xanh đỏ đỏ. Rõ là cái thứ trên người có kịch độc vô cùng.

Phạm Lục Bình cũng dẫn Hồ Xạ xông tới, trông thấy thứ hãi hùng bên trong lá chuối thì không khỏi giật mình.

“ Thầy Lê, chuyện này là thế nào? ”

Lê Học hít sâu một cái, rồi giải thích suy đoán của mình cho hai người.

Thì ra tên này căm anh em Lục Bình từ sáng, bèn cất công tìm bao nhiêu là nhện độc về toan chế thuốc. Đến tối, sẽ thả vào trong đồ ăn của ba người cho độc chết luôn. Y chẳng nói ra, Lê Học cũng đoán trúng bảy tám phần.

Tò vò thường hay bắt nhện rồi đẻ trứng vào người chúng. Sau này ấu trùng phá xác nhện ra, lấy đó mà ăn. Ấy là tập tính của tò vò vậy.

“ Đúng là đáng chết lắm! ”

Hồ Xạ nghiến răng, hả hê đạp cho Gia Tín một cú.

Sư trụ trì nhìn nhện độc bò lồm ngồm trong sân chùa, vấy bẩn cả chốn sâm nghiêm thanh tịnh thì chỉ biết lắc đầu ngao ngán. Ông chắp tay như niệm phật, than:

“ Than ôi, đúng là ác có ác báo, nhân quả tuần hoàn. Thí chủ đây, cửa chùa đã nhận anh em ngài, cớ gì lại mang những thứ ác độc đây về làm bẩn cả cảnh chùa thanh tịnh, mới chuốc phải hoạ vào thân. ”
Rồi lại nhìn Lê Học, nài:

“ Đây là nơi cửa thiền, vuốt mặt thầy chùa cũng phải nể mũi Phật. Vị thí chủ đây biết thủ pháp độc môn của thiền sư Tuệ Tĩnh, không biết có thể từ bi hỉ xả mà ra tay cứu người này một mạng? ”

Lê Học nói:

“ Y rất xấu xa, hại chết người vô tội. Nhưng nếu sư thầy đã nói, kẻ hèn cũng xin cố hết sức. ”

Đồng Kê nằm quằn quại, nghe kẻ thù chịu cứu mình thì cứ ngỡ là nằm mơ. Rồi hắn nhớ lại. Hai bên xích mích nhau té ra chỉ vì đôi ba lời lẽ ngông nghênh hắn nói, để rồi gây thù chuốc oán đến bây giờ.

Lê Học cúi xuống toan lấy châm khử nọc tò vò cho, thì bất ngờ có tiếng quát:

“ Đừng hòng hại thằng Tín!! ”

Lời vừa dứt, thì một vật đã lao nhanh tới đập trúng cánh tay Lê Học. Ám khí đánh bất ngờ, khiến chàng không kịp phản ứng. Chỉ nghe chát một tiếng, một cái bao kiếm bằng gỗ đã đánh trẹo luôn cánh tay Lê Học.

Thì ra ba người còn lại của sơn trang Bách Điểu là Ngân Kê, Kim Kê và Thọ Cú đều đã chạy đến. Lần này Thọ còn mời được thêm cả một viện binh đến trợ trận. Kẻ vừa ra tay ném bao kiếm đúng là y.

Phạm Lục Bình và Hồ Xạ liếc xéo qua, thì phát hiện một chàng trai đứng bên cạnh nhóm ba người Bách Điểu sơn trang. Người này vận áo tứ thân, đầu đóng khăn như anh học trò. Thế mà trong tay lại có một thanh kiếm lưỡi sắc tuốt trần, thân kiếm còn có một vệt máu đỏ ngầu.

Hắn chính là lãng tử gần đây danh tiếng nổi đình nổi đám kinh thành. Vì y dùng thanh kiếm Huyết Ẩm, nên cũng được người ta gọi là Huyết Kiếm Thiên Công luôn.

“ Khốn nạn thật! Chết người rồi!! ”

Lê Học nghiến răng, văng tục một câu. Vừa nãy đúng lúc quan trọng thì đối thủ lại ra tay ngăn chàng lại. Để bây giờ chậm mất ba hơi thở, nọc tò vò đã nhiều còn lan khắp người. Gia Tín bình thường chưa bị con này đốt bao giờ, thành ra mới bị sốc nọc. Nay đã sốc quá nặng, chẳng cứu được nữa.

“ Gớm! Các người mà có lòng tốt cứu chữa em tao ấy à? Vừa rồi lấy châm ra, chẳng phải muốn tra tấn nó hay sao? Nay em tao chết, ba thằng chúng mày cũng đừng hòng mà sống được! ”

Kim Kê Gia Nghĩa cười gằn, quát.

Kẻ thù lấy dạ tiểu nhân đo lòng quân tử, Lê Học cũng đành chịu. Giải thích chỉ thêm phí lời. Đáng tiếc là nay một tay chàng đã trúng thương, nên sợ rằng ba người họ đánh không lại bốn người bên kia.

Hồ Xạ chợt rút luôn mấy mũi tên ra, quát:

“ Tiếp chiêu! ”

Bốn người bên Bách Điểu sơn trang vừa kịp thấy trước mắt có ánh thép lập loè thì bốn mũi tên đã phân ra bốn hướng bắn tới. So với mười tám năm sau, thủ pháp của Hồ Xạ hiện giờ còn non kém, nội lực cũng chẳng thâm sâu gì. Tuy nhiên thắng ở tính bất ngờ.

Bốn người kia chỉ có Thọ Cú và gã thanh niên nọ phản ứng lại kịp. Huyết Kiếm Thiên Công búng mình toan vung kiếm chém rụng mấy mũi tên, thì Thọ đã dành trước một bước. Hắn lật bàn tay, song thủ vỗ ra liên tiếp mấy chưởng vào tên của Hồ Xạ. Động tác của y nhìn nhẹ như bông, người ngoài trông mà cứ tưởng y đang vuốt ve mấy mũi tên.

Thế mà, mấy mũi tên lại bắt đầu chuyển hướng. Thọ Cú hít một hơi, rồi vận khí tung chưởng vỗ mạnh vào đuôi tên. Nói thì chậm nhưng mọi thứ diễn ra chỉ trong một cái chớp mắt. Chỉ nghe vút một cái, bốn mũi tên đã quay đầu phản chủ.

Phập! Phập!

Lưng và vai Xạ trúng liên tiếp hai mũi. Cũng may là chỉ bắn sượt qua chứ không cắm sâu vào thịt. Bằng không lát nữa muốn rút đầu tên ra ngoài thì phải mổ phanh vết thương.

“ Thì ra là hắn. ”

Phạm Lục Bình phát hiện chưởng pháp Thọ Cú mới dùng chính là chiêu đã đánh bật Hùng kiếm vào mặt mình, thì thầm chặc lưỡi than khổ. Kim Kê và Ngân Kê bị thương coi như không nói, nhưng lộ quái chưởng của Thọ Cú rất là lợi hại. Lại thêm một Huyết Kiếm Thiên Công chẳng phải hạng dễ đối phó gì. Cứ nhìn cách hắn lấy vỏ kiếm đánh trật khớp tay Lê Học là biết.

[ Anh Xạ đang bị thương nhẹ, thầy Lê thì vừa trật khớp tay. Cả hai khó đánh hết sức được. Một mình mình chống lại hai tên lành lặn của chúng, không biết có nổi không. ]

Chương 65: Hồi mười (7)

Giờ lại kể chuyện mấy ngày trước.

Ngày mồng bốn tháng năm dương lịch, quân Hồ đại bại trận Hàm Tử, bị nhà Minh đuổi đánh rất rát, bại thế như núi đổ. Thành thử kinh đô Tây Đô một thời phồn hoa cũng náo loạn cả lên. Hoàng Hối Khanh được lệnh Hồ Hán Thương, bèn gom một phần ba dân Việt di cư vào khẩn hoang vùng Thăng Hoa chiếm của Chiêm Thành khi trước với quân địa phương thành một nhánh quân “ cần vương ” giao cho Nguyễn Lỗ. Hoàng tử cũ của Chiêm Thành, tức con trai của Chế Bồng Nga - Chế Ma Nô Đà Nan được phong tước “ quận vương ” để vỗ về dân Chiêm ở đây.

Về phần Hồ Hán Thương đã cho quân về thủ ở Lỗi Giang. Trận thua ở Hàm Tử có hai vạn quân đầu hàng, một vạn tử trận, tính ra hãy còn bốn vạn tàn binh. Song những người này phần nhiều đã đào ngũ đi nương nhờ vào các hào trưởng địa chủ địa phương, thành thử bảy vạn hùng binh chỉ có chưa đầy hai vạn quân đến chờ xa giá của vua về Tây Đô. Mùng mười về tới Tây Đô, trông thấy cảnh sĩ tốt khôi giáp tả tơi rách rưới, thương mác gãy rụng tả tơi mà bất giác chạnh lòng.

[ Chỉ vì một phút tự cho là thông minh, mà nay nguy cơ mất nước đã kề cận. ]

Y bèn cho người vào thành đón thái thượng hoàng Hồ Quý Li, rồi toan cùng nhau rút về Thăng Hoa thì quân Minh đã đánh ập tới. Hồ Hán Thương không kịp nghĩ nhiều, vội phất cờ hiệu cho đại quân kéo vào thành, dựa vào tường cao hào sâu chống giặc.

Trống nổi, cờ giương, hai cánh quân bắt đầu thả mình vào chiến trận.

Pháo gầm, tên rít, ngàn thanh kiếm thi nhau rơi cắm dưới chân thành.

Trương Phụ nắm cương, thúc ngựa chạy lên trước nhất. Lão vác thanh quan đao trên vai, hiên ngang nhập trận. Ánh dương dát vàng rực sáng sau lưng. Y giục ngựa chạy dưới chân thành mấy vòng, cười nhạo quân Hồ nhát chết. Hồ Hán Thương cho dùng nỏ cứng bắn xuống, Thạnh vung đao gạt hết tên rồi thúc ngựa chạy khỏi tầm bắn của quân Đại Ngu.

Hồ Hán Thương thấy sĩ tốt dưới tay mình uể oải như người mất hồn, bèn cắn chặt răng. Cứ theo binh pháp, thì điều quân Đại Ngu cần hiện giờ là một trận thắng để xốc lại lòng quân.

Y đang muốn tìm Hồ Nguyên Trừng để bàn kế thủ thành lâu dài, thì hay tin kho lương trong thành đã bị vét rỗng tuếch. Một hạt thóc cũng không còn.

Thì ra sau khi thắng trận ở Tây Đô, Mạc Thuý đã lựa khoảng một toán chục con tuấn mã, ngày đêm thúc ngựa chạy về phủ Thiên Xương. Y vừa chạy vừa loan tin quân Hồ thảm bại ở Hàm Tử, khiến từ làng trên đến xóm dưới phải xôn xao một bận. Nhưng cho đến khi ấy mới chỉ có một vài hộ, phần lớn là nhà quan lại với đám địa chủ, là gom người gom của đi chạy nạn.

Phải đến mấy ngày sau, tàn binh đào ngũ từ Hàm Tử tìm được về nhà, sự hoảng loạn mới bắt đầu truyền khắp dân gian. Dân chúng như đám bèo trên ao, sóng đánh tới thì mạnh ai nấy trôi.

Thậm chí ở thành Tây Đô, còn xảy ra bạo loạn. Một đám nhân sĩ võ lâm phối hợp với dân đen cả thành, nhân lúc đêm tối không trăng đánh vào kho vũ khí. Trước vũ trang cho bản thân, sau ghé thăm kho lương vét cho đến hạt thóc cuối cùng để chia nhau. Xong xuôi đâu đấy mới cướp cửa thành mà chạy.

Phần lớn binh mã đã theo Hồ Hán Thương đến Hàm Tử, lính lác cả thành chỉ còn chưa đến một ngàn, mà hầu hết là nam đinh mới tòng quân chưa được quân huấn kĩ càng. Thành ra lúc bạo loạn xảy ra, cả đám cứ loạn lên như lũ gà mất đầu vậy.

Chính ra đám gia nhân gia đinh của các nhà quan lớn phú hào cũng là một lực lượng dân binh không yếu, thế nhưng mấy tên này lại là những kẻ bỏ chạy trước tiên.

Hoàng cung cũng chẳng ngoại lệ. Vừa hay tin quân Hồ thua thảm là đám thái giám, phi tần cung nữ đã chia nhau vét cho kì hết kim ngân châu báu rồi bỏ trốn khỏi cung. Thái thượng hoàng Hồ Quý Li tự nhốt mình trong tẩm cung, thế nên chẳng cản ngăn cũng không trừng phạt được.

Thành Tây Đô bỗng trở thành một toà thành ma.

Lương cạn, song Khai Đại dế chỉ còn biết cắn răng giấu sĩ tốt dưới trướng. Quân lính đã chẳng còn tinh thần chiến đấu thì chớ, giờ lại hay tin Tây Đô cạn lương thảo hết khí giới thì khéo có hơn nửa ra hàng.

“ Cái kim trong bọc lâu ngày cũng phải lòi ra. Lương thảo mang theo được chỉ còn đủ dùng ít ngày, không sớm thì muộn lính cũng bị đói. Chẳng bằng chia binh hai ngả, Trừng dẫn một phần đại quân cản hậu cho hoàng huynh rút về Thăng Hoa. ”

Hồ Nguyên Trừng thấy Hán Thương bắt đầu bế tắc, bèn lên tiếng khuyên.

Khai Đại hẵng còn lấn cấn mãi chưa chịu quyết. Y nói:

“ Tây Đô là kinh đô, cũng là trái tim của Đại Ngu. Mất thành rồi, sĩ khí quân ta sẽ ra sao? ”
“ Nhà Trần hai lần để Thăng Long thất thủ, nhưng vẫn có thể chuyển bại thành thắng. Hàm Tử ta thua đau, nhưng so với trận thua ở Bình Lệ Nguyên năm xưa thì có là gì? Hoàng huynh xin chớ bỏ cuộc. ”

Hồ Nguyên Trừng cố gắng khuyên can, nhưng ngữ khí đã bắt đầu chất chứa sự mệt mỏi.

[ Đến hoàng đế cũng không muốn đánh, thì tướng sĩ lấy đâu ra tinh thần mà liều mạng? Hoàng huynh không sánh được với tiên đế Trần Nhân Tông năm xưa. ]

Những lúc thế này, chàng rất muốn hỏi ý kiến lão Bộc. Tiếc là vừa vào thành Tây Đô không lâu thì lão mất tăm biệt tích luôn. Hồ Nguyên Trừng đã cho quân lính đi tìm, nhưng tạm thời không có chút tin tức gì của lão hết.

Đúng lúc này, thì phía nội thành truyền đến tiếng chân người dồn dập. Một đội quân nhỏ cỡ hai trăm người lao nhanh trên đường lớn, tốc độ còn hơn cả tuấn mã. Trên người họ vận giáp da nhẹ, tay mỗi người cầm một thanh gươm bén với hộ thủ chạm theo hình con Nhai Xải.

Đi đầu không ai khác, chính là Hồ Quý Li. Chòm râu trắng như cước rủ xuống giáp ngực, mái tóc bạc tựa mây búi gọn ẩn trong mũ trụ. Ông vác một thanh quái phủ bản rộng, đầu gắn lưỡi thương dài nhọn hoắt. Cứ nhìn cách con thiên lí mã chạy thì thanh rìu pha thương ấy phải nặng độ ba chục cân là ít. Sau lưng ông cắm lá cờ thêu tám chữ “ văn võ toàn tài, quân thần đồng đức ” do chính Trần Nhuệ Tông ban cho.

“ Phụ hoàng… ”

“ Thái thượng hoàng… ”

Hồ Hán Thương và các tướng sĩ thấy ông xuất hiện, bèn quỳ xuống hành lễ. Quý Li phất tay cho mọi người đứng hết dậy. Đội ưuaan sau lưng ông rõ ràng đã nhìn thấy Hồ Hán Thương, nhưng cũng chỉ hơi cúi đầu hành lễ, ngoài ra không có vẻ gì là quy phục hết. Hồ Quý Li đứng lên đầu thành nói. Tiếng ông rung chuyển như thiên quân xuất chiến, vạn mã bôn đằng, Trương Phụ cưỡi ngựa cách Tây Đô vài dặm cũng nghe thấy.

“ Đại Việt ta nay có nạn, vận nước như chỉ mành treo chuông. Nay Quý Li xin nhờ sức của các vị Thánh Dực dũng nghĩa đánh một trận với giặc Minh, cho chúng thấy bản lĩnh nam nhi nước Nam ta. ”

Thấy hai trăm tráng sĩ vẫn im như cục đá, ông bèn chặc lưỡi, tiếp:

“ Thánh Dực quân xin hãy nghe ta nói một lời.

Hồ Quý Li này phế Trần lập Hồ, là tội thứ nhất! Mộ lính gắt gao, ban hành tiền giấy khiến dân chúng lầm than, là tội thứ hai! Ta xin nhận hết!Nhưng… ”

Nói đến đây, bất giác ông nhìn sang Hồ Nguyên Trừng. Tả tướng quốc của Đại Ngu vốn đang vì sĩ khí của ba quân mà chán chường thì nay bỗng tỉnh ngộ.

“ Thằng ranh con Trần Thiêm Bình rước quân Minh vào bờ cõi nước Nam, ấy là tội phản quốc.

Giặc bắc vào nước ta, đầu tiên là gây cảnh máu chảy thành sông xương chất thành đồng, ấy là tội hại dân.

Hồ Quý Li này có tội với nhà Trần, đúng! Nhưng thử hỏi ta có tội gì với Đại Việt?

Bất trung với triều Trần so với bất trung với tổ quốc thì bên nào đáng chết? Hà khắc với trăm họ so với tài hại cả đồng bào thì tội ai nặng hơn?”

Thánh Dực quân đáp:

“ Chỉ bằng một Thiêm Bình không thể đánh giá cả vương triều nhà Trần. ”

“ Vậy thì một Hồ Quý Li cũng đâu thể đại diện cho cả Đại Ngu ta? ”

Im lặng…

“ Chỉ có người Việt khổ

Quyết không có Việt nô!

Thà làm ma Đại Việt

Hơn làm chó Nam Kinh!! ”

Dũng Nghĩa quân chẳng ai bảo ai, đột nhiên rống lên, rõ ràng từng chữ. Giữa một toà thành trống không, tiếng người bỗng cất lên nghe lồng lộng, đâm thủng xé nát bầu không khí lặng yên chết chóc.

“ Chỉ có người Việt khổ!! ”

Hồ Nguyên Trừng thấy vậy, bèn chum tay vào hét lên. Hồ Hán Thương và các tướng cũng vội vàng học theo.

“ QUYẾT KHÔNG CÓ VIỆT NÔ!!! ”

Tiếng rống của đại quân nhà Hồ làm át cả tiếng cửa thành đang nặng nề mở tung.

Khai chiến!

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau