THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 51 - Chương 55

Chương 51: Hồi chín (9)

Tạng Cẩu bắt đầu dạo vòng quanh Hương mà công kích, đúng như bộ pháp thủ thế của võ chó. Thay vì những đòn đánh trực diện như trước, nay chiêu thức của Tạng Cẩu nhờ bộ pháp mà cứ dồn dập vồ đến từ hai cánh. Nhìn qua, thì giống hệt cách mà loài chó săn đuổi theo, chồm lên người con hươu con nai mà cấu xé.

Phiêu Hương bắt đầu cuống tay cuống chân. Chiêu thức của Tạng Cẩu đã kì lạ hiếm thấy, lại cứ nối nhau liên tiếp khác nào sóng trên sông? Uổng cho cô bé biết rất nhiều chiêu số tinh diệu, nhưng lúc này lại chẳng kịp nghĩ nên dùng chiêu nào làm đối pháp chống lại võ chó của Tạng Cẩu.

Khiếu Hoá Tăng bất ngờ lên tiếng:

“ Ngu! Đao pháp là cứ phải dùng đao mà chém à? ”

Lời ông nói chẳng khác nào tiếng chuông, đánh thức người u mê trong cuộc. Phiêu Hương giật mình, lập tức hai chưởng chụm lại thành đao, bắt đầu dùng đao chiêu phản kích.

Đao của Hương dùng biến hoá để áp chế tinh diệu, dụng động mà phá giải tĩnh, lấy ác liệt chống sự ổn trọng, đem thế vòng mà khắc cái thẳng. Phen này quái chiêu chống kì thức, võ hiếm gặp phải đao lạ. Đúng là kì phùng địch thủ.

[ Đao pháp của con bé này ẩn chứa toàn là nghịch lí, đi ngược hẳn với thường thức võ lâm. Thế mà chiêu nào chiêu nấy đều lợi hại vô cùng, lại ẩn chứa triết lí võ đạo sâu không lường nổi. Kẻ sáng tạo ra đao pháp này vị tất đã yếu hơn ông sư cọ hành khất này. Quái… đất Đại Việt có cao thủ dùng đao từ bao giờ? ]

Tạng Cẩu liên tiếp né hai đòn chém, mồ hôi bắt đầu ứa ra. Sau khi Hương đổi sang đao pháp, áp lực nó phải gánh tăng lên chóng cả mặt. Giờ nó mới hiểu ngày trước, lúc đánh trận Muộn Hải Liễu Thăng đã phải khó khăn đến mức nào mới ép lui được cô bé đối diện nó.

[ Anh Thăng dùng thương pháp, lợi thế về tầm vung. Mình thì tay không tấc sắt, muốn lọt qua được hai bàn tay của Hương thật là quá khó. ]

Tạng Cẩu mới nghĩ có thế thôi mà ở đối diện, Phiêu Hương đã chém liên tiếp ba nhát. Chiêu thức hiểm ác ập đến như là thác nước xối xuống, nó đón đỡ mà rát cả mặt. Đúng lúc này, Phiêu Hương đột nhiên dựng thẳng mũi chân, quét ngang một cái.

“ Hay! ”

Khiếu Hoá Tăng vỗ đùi đánh đét một cái, khen. Thực ra chiêu số cũng chẳng có gì, lão khen là khen ngộ tính của cô bé. Chỉ một lời lão nhắc, mà Phiêu Hương ngộ ra luôn cách dùng chân để phát đao chiêu. Đối với người học võ, chiêu thức chung quy chỉ là vật chết. Muốn thành cao thủ, trước phải học được cái gọi là tuỳ tâm tuỳ sự mà sử dụng. Chứ cứ quy quy củ củ, cứng như khúc gỗ thì chỉ đi làm mộc nhân cho người ta luyện chiêu.

Ai nói chân không phát được đao chiêu? Chém, chẳng phải là quét đấy ư?

Tạng Cẩu bị gạt trúng chân trụ, không giữ được thăng bằng nữa, ngã ngửa ra sau. Phiêu Hương đắc thắng hô:

“ Thua rồi nhé! ”

Nào ngờ, hai chân Tạng Cẩu đột nhiên xoay chuyển, ngọn cước quét mạnh vào Phiêu Hương. Bịch! Bịch! Cô bé giơ vội tay lên đỡ hai cú đá, loạng choạng mấy bước liền. Còn Tạng Cẩu thì thuận thế bật thẳng người dậy.

“ Môn này quái lạ thật, tên gì thế? ”

Đôi mắt Phiêu Hương sáng lên lấp lánh, vui vẻ hỏi ngay.

“ Chó chui gầm chạn… thực ra, hôm qua ông Khiếu Hoá Tăng dạy tớ môn võ chó. ” - Tạng Cẩu thu tay, gãi gãi đầu. Hai đứa đã biết tài nhau, lại đều thấm mệt rồi, nó cũng không muốn đánh tiếp nữa.

“ Tạng Cẩu đánh võ chó, đúng là người sao võ nấy rồi. Ủa, mới học một hôm mà đã thạo thế rồi hả? Cứ đà này chỉ mấy tháng chắc tớ đánh không lại Cẩu. Nè, có bí quyết gì không? ” - Phiêu Hương nhảy chân sáo tới, vỗ vai Tạng Cẩu. Cái cách cô bé vờn quanh Cẩu trông chẳng khác nào con ong vàng cuốn lấy bông hoa.

“ Tớ học trong mơ đấy, tin không? ”

“ Xí! Còn lâu mới tin. Chờ đã, vừa rồi Cẩu đánh chiêu này còn sơ hở này. ”

Trong khi hai đứa bé trò chuyện ngược xuôi về cuộc tỉ võ đã qua thì Khiếu Hoá Tăng xoa xoa cái đầu trọc, hết ngáp ngắn lại ngáp dài.

Bên ngoài miếu…
Một trung niên đang đứng tựa vào tường, sắc mặt trắng nhợt. Nơi khoé miệng, máu len lỏi qua bộ râu rậm rạp chảy xuống đến cằm. Y có vẻ bị thương nặng lắm.

Đôi vai y bị hai thanh ám khí đâm thủng. Phần lộ ra ngoài không khí có màu đỏ như son, dài cỡ ngón tay trỏ, mỏng dẹp như một phiến lá tre. Nó không thẳng mà uốn lượn đều đặn mấy lần liền.

“ Khốn nạn… ”

Quái khách gằn lên, tung mình nhảy vào trong miếu tạm lánh. Y bị người ta truy sát đã nửa ngày nay rồi. Chẳng những mệt mỏi, hầu khô họng cháy mà cơ thịt ở vai y còn đang nóng rừng rực như bị dội dầu sôi. Hiển nhiên là ám khí có bôi độc rồi.

Quái khách đi được mấy bước thì loạng choạng, thổ cả một búng máu to. Y phát hiện càng vận công thì chất độc quái ác phát tác càng nhanh, không cách nào bức nó ra ngoài được.

Tiếng huýt sáo bay bổng gọi nhau lại truyền đến. Lần này còn gần hơn trước. Quái khách chỉ nghe là biết truy binh đã ở ngay ngoài miếu. Y còn lạ gì tiếng huýt sáo ám hiệu của phái Long Đỗ nữa chứ?

“ Chẳng lẽ Khỉ Lông Xanh Huỳnh Bách Việt ta cứ thế mà chết ở đây? ”

Trung niên thầm nghĩ, miệng đắng chát lại. Hắn tự trách mình lớn đầu rồi còn để hỏng việc, khiến việc lớn xôi hỏng bỏng không.

Huỳnh Bách Việt lê thân xác mỏi mệt đến tựa lưng vào cánh cửa chính điện. Hắn thở hào hển, từng cơn từng cơn ngắt quãng dần.

“ Ai mà ngờ, phái Long Đỗ lại cấu kết với sơn trang Bách Điểu bán nước cơ chứ. Ai… võ lâm Kinh Bắc, Thiên Cơ Lão Đạo đều bị mấy con chó qua mặt! Tệ! Tệ hại thật. ”

Bách Việt nói lớn lên, chỉ để trút sự bi phẫn trong lòng ra. Hắn nghĩ ngôi miếu hoang phế thế này, ngoài hắn ra còn có ai được kia chứ? Hắn phải nói, nói cho cái lũ đang kéo bè kéo lũ ngoài kia biết, rằng hắn chết nhưng bí mật của chúng hắn không ôm theo cùng. Trời đấy. Đất này. Thần hoàng thổ công chứng cho hắn. Núi sông này sẽ nhìn rõ bộ mặt đểu cáng của bè lũ tiểu nhân. Hắn chết không hề vô nghĩa.

Bỗng nhiên, kẹt một tiếng…

Cánh cửa sau lưng hắn mở toang ra. Hai đứa bé độ tám chín tuổi, một nam một nữ hò nhau xốc nách hắn đưa vào trong chính điện.

Huỳnh Bách Việt thấy vậy, vỗ trán kêu:
“ Thôi rồi! Chết rồi! ”

Hắn nghĩ mình chết thì cũng đành. Nhưng chỉ vì một khắc bốc đồng, buột mồm nói toạc móng heo cho sướng cái miệng hắn mà làm luỵ đến hai đứa bé con chưa nứt mắt. Thế thì tội hắn phải lớn lắm.

“ Hai đứa mau nhân lúc còn chưa quá muộn, theo cửa sau chạy mau! Một lát nữa kẻ xấu vào đây thì e là không kịp… ”

“ Kẻ xấu nào vào thì không kịp? Ông cứ an tâm nằm nghỉ, để con rút ám khí ra rồi cầm máu lại. ”

Phiêu Hương ỷ có Khiếu Hoá Tăng đang ở trong điện, nên dĩ nhiên chẳng sợ truy binh Huỳnh Bách Việt nhắc tới. Huống hồ chúng nó còn là đệ tử của Quận Gió.

Cô bé toan thò tay rút phắt hai thanh ám khỉ đỏ son ra đặng rịt thuốc vào vết thương thì ông sư già đã vội lên tiếng can:

“ Chớ có tuỳ tiện đụng vào, chết như chơi đấy! ”

“ Đại sư cũng là người trong chốn võ lâm? Vừa rồi gấp gáp, quên lễ phép chào hỏi của bậc con cháu, xin đại sư bỏ quá cho. ”

Huỳnh Bách Việt gượng đau, chắp tay thi lễ. Không phải y không nghĩ qua là mình có may mắn diện kiến Khiếu Hoá Tăng, mà y không cách nào liên hệ một tông sư tiếng tăm như sấm dậy khắp cõi trời nam với một sư cụ trông bê tha nhếch nhác thế này được.

Khiếu Hoá Tăng không đáp, mà chỉ vào hai thanh ám khí, nói:

“ Uốn lượn như rồng, thân đỏ tựa son. Chúng hẳn là Long Đỗ truỷ khét tiếng của phái Long Đỗ rồi. Cũng may đây không phải loại tinh chế của giáo chủ phái này, không thì mạng chú mất từ lâu rồi. ”

Huỳnh Bách Việt nói:

“ Tôi cũng biết Long Đỗ truỷ khét tiếng trên giang hồ, thứ kịch độc bào chế từ lá ngón và nọc ong chỉ cần ba khắc là lấy mạng người. Nhưng việc nghĩa không thể không làm, chỉ đành lấy thân này hiến cho Đại Việt… Đại sư, ông cũng biết mạng ta khó cứu, nhân lúc này mang hai đứa nhóc này đi mau. ”

Rồi y lấy trong áo ra một ống tre dài độ hai gang, một đầu nhét cái nút gỗ. Bách Việt mở nút, lấy từ bên trong ra một tờ giấy, cẩn thận trao cho Khiếu Hoá.

“ Đây là thư Trương Phụ gửi cho trang chủ sơn trang Bách Điểu, ghi lại âm mưu bán nước đổi vinh hoa của chúng. Tôi vốn là môn khách của y. Trong lúc đi đại nghe lén được, tiếc là chỉ mới một nửa. Chừng mươi ngày trước Đại Bàng tinh bắt đầu gặp riêng lần lượt từng môn khách một. Tôi cũng được hắn gặp riêng. Té ra muốn dụ dỗ Huỳnh Bách Việt này đi làm Việt gian bán nước. Lúc ấy tôi giận lắm, nhưng sợ lộ việc nên giấu kín, chỉ nói xin thư cho một hôm suy xét. Rồi đánh liều trộm bức mật thư này về chứ không giải mã nổi.

Chuyện tôi đã kể ra tỏ tường, chết cũng đành vậy. Nhưng bức mật thư xin giao lại cho đại sư bảo quản, nhờ ông chuyển đến tận tay Thiên Đạo Kiếm - Thiên Cơ Lão Đạo giúp cho. ”

Khiếu Hoá Tăng thấy giọng y khẩn khoản, vai lại trúng Long Đỗ truỷ có độc lá ngón, e rằng chẳng còn sống được bao lâu. Ông bèn gật đầu:

“ Thằng Cẩu ra giếng xách một thùng nước về đây. Chú Việt sống được đến bây giờ, ắt nội lực cũng khá, có thể tự ép độc ra được không? ”

“ Đám giặc đuổi sát nút, thực tình không có thời gian mà thở. Đại sư đừng phí tâm tư vào ta. Chỉ cần mật thư lọt được vào tay Thiên Cơ Lão Đạo là được rồi. Mau!! ”

Huỳnh Bách Việt lắc đầu, lại ra hiệu cho ba người chạy mau đi. Y đã nói muốn rã cả họng mà lão sư ăn mày kia vẫn bình chân như vại, thế có tức y không cơ chứ.

Bốn người còn đang mâu thuẫn chuyện đi hay ở thì đã có mấy bóng người đạp tường nhảy vào sân miếu. Gã đi đầu quát to:

“ Huỳnh Bách Việt, tên bán nước nhà ngươi chạy đâu cho thoát? ”

Chương 52: Hồi chín (10)

Khiếu Hoá Tăng mới cười, hỏi vọng từ trong chính điện ra;

“ Ơ hay, anh nói tôi là phường ác ôn theo giặc, tôi lại chửi anh là bè lũ Việt gian. Vậy ai mới thực sự là lũ giặc bán nước? Chi bằng người ngoài miếu vào trong này đối chất, ba mặt một lời chẳng hay hơn ư? ”

Phiêu Hương chui ra sau tượng phật mà nấp, che miệng cười. Huỳnh Bách Việt ban đầu thì hơi khó hiểu, nhưng nghĩ một chút cũng nhận ra:

[ Võ công ông sư này không biết cao hay thấp, nhưng rất có kinh nghiệm đi lại trên giang hồ.

Ngoài sân trống trải, đối phương người đông thế mạnh lại giỏi dùng ám khí, sư ông đương nhiên không bị dở người mà khi không lại thò đầu ra. Ở trong chính điện một là có thể đề phòng đối thủ dùng kế điệu hổ li sơn, hai là nhiều chướng ngại chỗ nấp. Người dùng ám khí trong thiên hạ, kị nhất đúng là kiểu chiến địa này. ]

Gã cầm đầu bang chúng phái Long Đỗ tự nhiên cũng hiểu điều này. Hắn bèn vận công quát:

“ Người ngay có trời chứng đất giám, việc gì phải giải thích với các người? Họ Huỳnh, tao đếm đến mười, nếu mày không ra đây đừng trách tao đốt cái miếu nát này! ”

Khiếu Hoá Tăng nhún vai. Tất nhiên đối phương sẽ phản ứng như thế rồi. Lão không thấy lạ lắm.

“ Đại sư, trăm sự… ”

Huỳnh Bách Việt nghiến răng, vùng dậy đặng xông ra ngoài sống mái. Nào ngờ vai y đã bị một bàn tay của Khiếu Hoá Tăng đặt lên từ bao giờ. Ông sư già khẽ vận lực nhấn một cái, tức thì Hoàng Bách Việt như bị đà tảng đè lên. Cũng may nội lực y không kém, vận công một hồi thì chỉ thấy khó chịu với tức ngực mà thôi,

Y còn chưa hết cảm thán nội lực Khiếu Hoá Tăng thâm hậu thì lão đã vận thêm hai thành công lực xuống bán tay. Tức thì Khỉ Lông Xanh hết đường cục cựa, chẳng khác nào bị Bụt đè cứng.

Khiếu Hoá Tăng nói:

“ Đốt miếu? Ui trời ơi đất hỡi… lẽ nào các người muốn giết người diệt khẩu ư? Thế thì có khác gì cách làm của phường ác ôn? ”

“ Ha ha! Lão này lớn đầu còn dại. Đốt miếu xong, chúng mày chết không đối chứng, bọn tao nói sao mà chẳng được? ”

Đám đệ tử phái Long Đỗ thi nhau cười vang. Mấy đứa nội công thâm hậu còn vận công lên để trong miếu nghe rõ. Vài đứa khác thì làm bộ đấm cây, dậm đất hòng che giấu tiếng chân của đồng bọn đang vòng ra sân sau chính điện, đặng đánh tập hậu mấy người Khiếu Hoá Tăng.

Tiếc thay lão sư ăn mày chẳng phải cao thủ bình thường, mà là một trong bảy người võ công cao bậc nhất nước Nam. Khiếu Hoá một mặt vận công ép Huỳnh Bách Việt, nhưng vẫn để ý mọi động tĩnh bên ngoài. Thấy ngoài hiên có tiếng chân người khinh công rất nhẹ, ông nhếch mép cười nhắc Hương:“ Cô bé, nhóc ra sau vườn với nhóc Chó đi. Một mình nó đi ta không yên tâm. ”

Phiêu Hương nhảy xuống khỏi bàn thờ, kế chạy vội ra vườn sau. Nay trong chính điện chỉ còn hai người Huỳnh Bách Việt với Khiếu Hoá Tăng. Ông sư già rút tay về, trán lấm tấm mồ hôi.

“ Ép được nọc ong ra rồi, còn độc lá ngón thì giã rau muống lấy nước cốt uống vào sẽ giải được. ”

Khiếu Hoá Tăng vươn vai đứng dậy, bẻ bẻ mấy ngón tay nghe răng rắc trong khi ngáp một tiếng dài lượt thượt.

“ Rồi… ra kia chơi một tí nào. ”

Tạng Cẩu múc đẫy một thùng nước, đang lom khom bưng trở vào chính điện. Trông cái dáng nó cong lưng, uốn gối mím môi đến là tội. Âu cũng bởi cái gàu lấy nước giếng đã cũ nên bị sử một miếng bên thành, thành ra nó phải loay hoay nãy giờ mới được đầy thùng.

“ Ớ, còn đứa trẻ con ở đây. ”

“ Chuyện lớn quan trọng, trẻ con người già gì cũng kệ! ”

Tạng Cẩu nghe thấy trên đầu nó vọng xuống tiếng người nói, kèm theo ngay sau là một đòn ưng trảo vạch thẳng xuống đỉnh đầu. Đối thủ cố tình nhắm vào tử huyệt bách hội, cốt để nó chết bất đắc kì tử. Trên đầu tường, hai tên đồng bọn hắn ngồi thò chân xuống đong đưa, khoái trá xem nó bị nạn. Tên bên phải thì béo và lùn, da màu bánh mật. Còn tên ngồi mé tả lại cao lêu nghêu và gầy nhom. Nước da hắn lại có màu trắng ởn như là cả năm giời không ra ngoài nắng vậy, bủng beo và bệnh hoạn. Hai tên ngồi cạnh nhau, trông chẳng khác nào trên bờ tường bỗng có thêm một con sâu bướm mập mạp và con bọ que.Gã nhảy xuống đánh thì có vóc người trung bình, tầm thước. Hắn có vẻ thạo môn ưng trảo công, chỉ cảm nhận kình phong ác liệt cũng đủ khiến tóc sau ót Cẩu dựng đứng hết lên. Nó vội vàng thả gàu nước ra, lăn một vòng dưới đất tránh đi đòn hiểm.

Kẻ ra tay đánh lén ngạc nhiên kinh hô, nhưng lời còn chưa dứt thì bàn chân của Cẩu đà quét thẳng vào má trái của y. Chát! Chiêu “ chó chui gầm trạn ” để lại một dấu bàn chân đỏ chót trên mặt tên đệ tử phái Long Đỗ. Tên kia đưa tay rờ má mình, thấy đã nóng rực lên vì giận và nhục rồi, thế là hắn gầm lên:

“ Thằng chó con, tao phải giết mày!! ”

[ Ế? Hắn biết tên mình? Nhưng mình có nhận ra hắn là ai đâu? ]

Cẩu nghĩ thầm, nhưng tốc độ phát chiêu của đôi tay thì chẳng dám chậm lại tí nào. Chưởng pháp của đối thủ cũng không phải quá cao thâm, nhưng thắng ở nội kình hàm hậu. Trong khi chiêu thức của Tạng Cẩu thì quỷ quái thật đấy, song nội công thằng bé hẵng còn non nớt. Hai đối thủ ở hai thái cực trái ngược nhau, tạm thời cuộc đấu lâm vào trạng thái bình thủ bất phân thắng bại.

Tạng Cẩu lợi dụng thân pháp “ chó ba năm mới nằm ”, liên tiếp né tránh công kích dồn dập của đối thủ. Mỗi cú đấm, phát chưởng xẹt qua mặt là kình phong lại quét nó rát bỏng cả hai má. Tạng Cẩu biết về nội lực mình thiệt hơn, nên không dám chính diện đỡ đòn hay đọ chiêu so chưởng. Nó phải liên tục né mũi nhọn, nên bỏ lỡ cơ man không biết bao nhiêu là sơ hở của đối thủ.

Tất nhiên, phàm là kẻ thiện chiêu thức yếu nội công thì càng đánh lâu càng thiệt thòi. Tạng Cẩu thấy đã đánh năm mươi chiêu mà chưa làm gì được đối thủ, mình thì đã thấm mệt nên lo lắm. Nó biết mình phải tốc chiến tốc thắng mau, không thì nguy cho nó.

Thế là nó lập tức đổi qua dùng chiêu “ chó cắn áo rách ”. Đối phương cứ xuất chiêu nào, là nó nhè ngay điểm yếu của hắn mà đánh tới tấp. Song kẻ kia ỷ mình lớn tuổi, cơ bắp dẻo dai nên chỉ chăm chăm bảo hộ tử huyệt và yếu huyệt, còn các bộ vị khác thì cứ để cho Tạng Cẩu mặc sức mà đánh.

Tạng Cẩu đánh mãi mà đối phương không suy suyển, bắt đầu đâm nản. Đối phương thì kinh nghiệm hơn, nên chỉ chờ có thế là tấn công liền. Tạng Cẩu mới dừng lại lấy hơi thì bàn tay đổi thù đã chộp đến. Chát! Ngực nó trúng một chưởng đau điếng.

Thằng bé loạng choạng lui mấy bước, toàn thân rung lên như muốn ngã về phía sau. Nó vội vàng tìm cách lấy lại thăng bằng, nhưng đối thủ đâu có đứng yên chờ nó làm được điều ấy. Thằng bé vừa mới ổn định được chân trụ, thì ưng trảo của đối thủ đã móc ngược một phát hiểm hóc vô cùng từ dưới lên. Kình phong dữ dội khiến nó hầu như không mở nổi miệng. Biết là trúng đòn sẽ gãy xương quai hàm ngay, nó vội lùi lại tránh.

Thế nhưng đối thủ cũng biến chiêu tập kích theo tắp lự. Ưng trảo tay trái móc trượt, thì tay phải đã vạch ngang một cái. Cú móc này nhắm ngay huyệt thái dương. Nếu như để bị trúng đòn, Tạng Cẩu chết là cái chắc.

Tình thế thì nguy ngập vô cùng, nhưng Tạng Cẩu chợt cảm thấy khoảnh khắc này nó bình tĩnh đến lạ. Cử động của đối thủ như chậm lại, chỉ một chút rất nhỏ thôi, nhưng rõ ràng đã chậm lại, đủ để nó đoán được hướng tấn công của y.

Nó bèn đánh liều dùng ngay chiêu “ chó ngáp phải ruồi ”. Trước hết cúi thấp đầu tránh chiêu, rồi bước chéo lên hai bước. Đối thủ theo đà vồ của ưng trảo cũng tiến lên trước, vừa vặn đứng hở mạng sườn về phía nó. Chẳng kịp nghĩ nhiều, Tạng Cẩu tông cả người vào sơ hở bên sườn của đối thủ. Đây đúng là chiêu “ chó cậy gần nhà ” nhưng được nó biến tấu đi, thay vì chỉ một cánh tay thì dùng cả cơ thể cho dễ vận lực. Nay lực đạo toàn thân của nó được dồn vào cú húc này, đủ biết không hề tầm thường.

Đối thủ của nó không ngờ Tạng Cẩu lại có thể phản kích một cách hoàn hảo đến thế. Nếu như hai bên chỉ đánh giao hữu, thì hắn đã khen hay một tiếng thật to rồi. Hắn thấy đôi chân mình mất đi tiếp xúc với nền gạch, cả người bỗng bay bổng lên. Ruỳnh! Đầu hắn tông mạnh vào tường nhà, trượt xuống để lại một vệt máu dài. Thương nặng là thế nhưng nhìn cánh mũi hắn hãy còn nhấp nhô thì biết không nguy tới tính mạng.

Chương 53: Hồi chín (11)

Lại kể chuyện Hồ Hán Thương.

Vào đêm hôm trước…

Trong soái trướng, Khai Đại nửa nằm trên ghế trải da hổ. Giữa trướng đốt một lò lửa to để thắp sáng điệu múa và dáng người uyển chuyển của cung nữ. Mùi trầm thoang thoảng khắp lều. Hai bên y lại có năm sáu đứa cung nữ túc trực, hầu rượu ca múa làm vui. Rượu trong li không lúc nào vơi, thịt trên đĩa chẳng mấy khi cạn. So với mớ lương khô nhạt toẹt mà binh sĩ phải cố mà ních vào bụng hàng ngày, bữa ăn mà Hồ Hán Thương đang chê lạt miệng chẳng thèm đụng đũa này là ước mơ xa vời của họ.

" Thánh thượng, tiện thiếp để ý từ hôm qua đến giờ người cứ cười suốt thôi. Nếu không phải quân cơ bí mật, không biết có thể nói cho chị em bọn thiếp vui chung được chăng? "

Một đứa cung nữ trong bọn giở giọng, thanh điệu luyến láy ngọt như đưa đường vào tai người khác. Vừa nói, ả lại vừa đưa đôi tay mềm mại trườn lên, cuốn quanh cổ Hồ Hán Thương. Ả kề sát miệng vào bên tai y, hơi thở thơm ngào ngạt, ấm áp mang hơi ẩm quyến rũ đến mân mê màng nhĩ của Khai Đại.

" Không có vấn đề gì lớn, chẳng qua là nhổ được mấy cái gai ngứa mắt, cấp thiết phải loại bỏ thôi. "

" Ồ, chẳng lẽ thánh thượng có tài tiên tri, đoán trước được Trương Phụ hoặc Mộc Thạnh sẽ bỏ mạng lại ở Hàm Tử? "

Cung nữ kia giật mình kinh ngạc trước câu trả lời của Hán Thương. Nàng ta lại nghĩ nước nhà đang lúc chiến chinh, cái gai mà Khai Đại Đế nhắc đến còn ai khác ngoài hai tặc soái hung danh hiển hách Trương, Mộc của địch nữa?

Hồ Hán Thương ngả người ra sau, thản nhiên:

" Cần gì có tài tiên tri? Chỉ cần kế hoạch của ta diễn ra hoàn mĩ là được. Trong suốt chiều dài lịch sử nước Trung Hoa, có mấy lần chúng chiến thắng được quân ngoại bang đâu? (*) "

Cung nữ cúi đầu, cung kính đáp một câu chẳng biết có bao nhiêu phần chân tâm thực ý.

" Thánh thượng thực là vị vua do ông trời phái xuống. "

Đúng lúc này, có một người vén tấm liếp lên mà xông thẳng vào soái trướng, bất chấp binh sĩ canh gác kiệt lực can ngăn. Ấy đúng là một trong đám tàn binh mà Hồ Đỗ bắt gặp trên đường " truy kích " quân Minh.

Y chạy đến sụp lạy trước Hồ Hán Thương, máu rỉ ra từ các chỗ bị kiếm chém tên đâm khắp cả người. Có dăm vết thương vì y hoạt động quá mạnh mà rách rộng ra cả tấc.

" Thánh thượng… "

" To gan! Dám xông vào chỗ của thánh thượng, muốn mưu sát phải không? "

Lúc này trưởng đội cận vệ của Hồ Hán Thương cũng xấn vào trướng. Trông thấy người nọ đang quỳ lạy, máu rỉ cả ra đầy đất, y mới nghiêm mặt lại chờ Hồ Hán Thương quyết định.

Khai Đại đế phất tay bảo cận vệ lui xuống sau lều, cách tên bộ tốt bị thương chừng mười bước chân. Nói đoạn, y cất giọng:

" Nói đi. "

Tên thương binh cắn răng nén đau lại, nói:

" Thánh thượng, quân địch bỏ trại, đang kéo đến đây theo hướng tây. "

" Cái gì? "

Hồ Hán Thương nện mạnh cái li trên tay xuống bàn, đứng phắt dậy. Y bước nhanh mấy bước về phía tên bộ tốt, nâng gã dậy. Máu từ vết thương ở vai của người lính tràn xuống tay Khai Đại, làm y phải cố nín một cái nhăn mặt vì nhớp nháp tanh tưởi.

" Ngươi nói sao? Giặc Minh bỏ doanh tập kích quân ta?? Thế Tông Đỗ, Công Khôi làm gì mà không chặn chúng lại? Chúng có đến bảy phần Thần Cơ Sang Pháo của ta, thêm cả thuyền Cổ Lâu… lẽ nào không cản nổi bước tiến của giặc?? "

Gã thương binh kia ho khan, đòi uống nước. Hồ Hán Thương ra hiệu cho cung nữ rót rượu phục vụ y. Người ấy uống xong ngụm rượu, mới tiếp:
" Trương Phụ chẳng biết bằng cách nào đã biết trước được đường đi nước bước của quân ta, cho quân mai phục sẵn. Quân ta không ngờ giặc dám bỏ doanh trại xông ra, nên người thì chết người thì bỏ chạy. Thuyền Cổ Lâu và pháo Thần Cơ đều rơi vào tay giặc. "

Hồ Hán Thương nghe chưa hết lời đã thẫn thờ, ngơ ngác bước lùi lại hai bước rồi đổ sụp xuống trên nền đất.

" Gian tế! Là tên gian tế ấy đã hại ta! Ta phải tìm ra hắn rồi băm vằm làm mắm!! "

Đội trưởng đội cận vệ thấy Khai Đại đế đã mất bình tĩnh, bèn lên tiếng khuyên can.

" Thánh thượng, trước hết phải lập tức chuẩn bị đối sách chống lại quân của Trương Phụ, Mộc Thạnh đã. Hồ Xạ, Hồ Đỗ tướng quân chắc chắn sẽ dẫn đại binh tới tiếp viện ta. "

" Ta chỉ để lại gần ba ngàn lính, sao mà thủ trại? Đúng rồi! Hồ Đỗ, Hồ Xạ dẫn năm vạn quân đánh thẳng vào trại giặc. Nếu như gặp cảnh vườn không nhà trống, thì ắt phải có đối sách gì chứ? " - Hồ Hán Thương nghe đội trưởng đội cận vệ, cũng là thân tín của hắn nhắc mới sực nhớ đến hai cái gai mình muốn nhổ. Như chết đuối giữa dòng bắt được khúc chuối trôi sông, y bèn tóm lấy vai người lính đang bị thương mà lay, mà lắc. Vừa làm vừa hỏi dồn.

" A… bẩm… thánh thượng. Hồ Xạ Hồ Đỗ tướng quân dẫn quân đánh tập hậu, liều sống chết với giặc. Chính đang mong thánh thượng phát binh đánh thăng vào rừng phía tây, binh chia hai đường nghiền nát quân địch. "

[ Không… không được… Hồ Xạ, Hồ Đỗ nắm trong tay cũng năm vạn quân, cho dù có thêm ba ngàn cũng chỉ như muối bỏ bể. ]

“ Truyền lệnh của ta, toàn quân rút đi trong đêm! Theo đường biển rút về Thiên Xương! ”

“ Thánh thượng… xin người nghĩ lại. Hồ Đỗ, Hồ Xạ tướng quân đang liều mình cự giặc… ”

Tên thương binh nghe mà phát hoảng, vội vàng lên tiếng. Nhưng nói chưa dứt câu thì gã đội trưởng cận vệ binh đã táng cho một cú vỏ kiếm vào ngay mồm. Người nọ vội vàng bụm miệng, ngăn không cho máu và cả răng gãy ra ngoài.

“ Im mồm! Mày chỉ là thằng dân đen ít học! Ở đó mà dạy khôn thánh thượng à? ”

Đoàn viện binh chẹt thành thế gọng kìm mà Hồ Xạ chờ đợi, vì thế vĩnh viễn chẳng đến Hàm Tử.

Ngay trong đêm ấy, Hồ Hán Thương cho binh lính xuống thuyền ra biển, xuôi xuống phía nam. Lúc sóng bắt đầu vỗ mạn thuyền, y vội vàng cho vời anh là Hồ Nguyên Trừng đến.

Vị tả tướng quốc vẫn mặc trang phục chẳng khác nào tù nhân, nhẹ nhàng bước vào buồng ở của vua trên thuyền rồng đóng hồi năm ngoái. Hồ Nguyên Trừng nhìn quanh, thấy nơi này bài trí sao mà xa hoa. Nào những rèm châu chăn gấm, đèn hoa đệm ngọc loá cả mắt mà thấy rầu. Than ôi. Đất nước thì đang buổi rối ren, đánh Chiêm Thành chống Đại Minh, thế mà thuế tô của người dân lại đổ vào những thú chơi này của đấng chí tôn sao? Hồ Hán Thương vội đón chàng, hỏi gặng:“ Trẫm định kéo quân về Thanh Xương ( Thanh Hoá ngày nay), rồi lại dùng Hoá Châu và hai châu Thăng, Hoa chiếm được của Chiêm Thành làm bàn đạp chiêu binh mộ tướng, đắp thành thêm cao đào hào thêm rộng. Liệu như thế có chống được giặc hay không? ”

Hồ Nguyên Trừng nhìn Khai Đại đế, nói:

“ Ngăn được hay không, không phải một lời của Nguyên Trừng nói mà thay đổi được. Thánh thượng cứ làm điều mình cho là đúng thôi. ”

Hồ Hán Thương nhìn bóng lưng chàng khuất dần sau cánh cửa mà lặng người, rồi sụp hẳn xuống ghế. Hắn bưng mặt mình, mắt tối sầm lại. Năm vạn đại quân, liệu thoát thân được bao nhiêu người??

[ Ta sai… sai rồi… Đáng lẽ không nên khinh thường quân giặc mà tự mãn, chim chưa hết cá hãy còn mà đã bẻ ná bỏ lờ. ]

Dưới bầu trời sao, Hồ Nguyên Trừng đưa mắt nhìn về phía Hàm Tử một lần cuối cùng, thở dài.

[ Lửa hồng đã rừng rực lan ra nửa quãng đồng, gió thuận đang ầm ầm nổi lên khắp trời nam, thử hỏi sức người đâu ra mà ngăn cho được? Ôi… lẽ nào " Rồng Không Đuôi " thực là con dao chặt mất đường sống của triều Hồ, của Đại Ngu ta chăng?

Không! Quân Hồ chẳng bại dưới tay nhà Minh, cũng chẳng phải vì con rồng què phượng cụt gì hết. Nước mất nhà tan là do ta tự gây nên… ]

Đêm càng tối hơn, mây đen vần vũ như một con quái thú tham lam nuốt chửng cả vầng trăng và bầy sao trời. Duy chỉ còn một ngôi sao là le lói toả sáng, bất chấp bóng tối mịt mùng xung quanh.

(*) chú thích:

Ở đoạn này, Hồ Hán Thương thực ra có cái lí của y.

Trung Quốc viết rất nhiều sách, truyện miêu tả những tướng quân, mưu sĩ của họ thành những bậc anh hùng siêu thực. Lãng mạn hoá danh nhân, mình thấy ấy là một cách rất hay để “ quảng bá ” văn hoá. Chẳng thế, mà nay dân ta thuộc làu làu tam quốc?

Nhưng, quân phương bắc có thực sự mạnh như thế?

Xuyên suốt lịch sử dựng nước, giữ nước của Trung Hoa thì mình nhận ra… số lần họ thắng được ngoại bang đếm trên đầu ngón tay.

Tần vs Âu Lạc: 1,5 triệu quân Triệu Đà đánh 20 năm chẳng hạ nổi thành Cổ Loa

Hán vs Lĩnh Nam: Mã Viện đánh Lạng Sơn bị vợ chồng Đào Kỳ cầm chân ba năm không tiến được.

Tuỳ - Đường vs Triều Tiên: thua phải sáu bảy lần gì đó.

Nam Hán vs Ngô: thua tan tác

Tống vs Lí: thua

Trung Hoa vs Mông Nguyên: bị nghiền nát

Trung Hoa vs Nhật: thua tanh bành

Có thể thấy, nội tại của Trung Hoa ấy là “ đánh thua ngoại bang ”. Cho nên, đoạn này mình nghĩ khó trách Hồ Hán Thương có phần khinh địch. Và mình cũng xây dựng nhân vật theo cách này luôn.

Thực tế là đến giờ, đọc qua cả Minh thực lục, Đại Việt sử ký và Đại Việt thông sử mà mình vẫn còn thấy những thất bại của nhà Hồ hơi mơ hồ ( trừ trận Đa Bang thua do ngu). Điều đó, cộng thêm sự thiếu kinh nghiệm trận mạc trong chiến trường của thể loại quân sự đã khiến chín hồi truyện trở nên càng thêm rối. Tác thực sự có lời xin lỗi tới bạn đọc xa gần.

Chương 54: Thuận Thiên Kiếm tiền truyện - Hồi một (7)

Thấy cha của Hồ Đỗ thở dài, chàng lại nói:

“ Tình cảm vợ chồng của hai bác thật đẹp, đúng là đáng ngưỡng mộ. ”

Ông tạ từ mấy câu, ba người vừa dùng trà vừa ngắm trăng lặn. Nửa canh giờ qua đi nhanh như một cái chớp mắt. Cha Hồ Đỗ xách cuốc ra sau vườn xem mấy luống khoai, luống sắn. Lê Học và Phạm Lục Bình thì đi cắt thuốc.

Đến nơi thì cửa tiệm lại đóng im ỉm. Đang mùng ba Tết, nên tiệm bán thuốc cũng mở cửa muộn hơn bình thường.

Thấy vậy, hai người bèn lựa một gốc cây to ngồi xuống chờ. Xa xa, phiên chợ sớm đã bắt đầu họp. Nhắm mắt lại, là có thể nghe thấy tiếng người mua kẻ bán, cả giọng rao hàng uyển chuyển vần vè như một bài ca của người đàn bà hàng cá hàng tôm. Chốn kinh kì nước Nam thật là lạ kì, giản dị mà phù hoa, yên tĩnh mà tấp nập. Cái mộc mạc quyện với sự thanh nhã, bịn rịn viết hai chữ Thăng Long lên dòng máu đỏ sông Hồng.

“ Anh Phạm, bỏ quá cho tôi hỏi chuyện này. Hai cha con anh Đỗ anh hình như có khúc mắc khó gỡ. ”

Phạm Lục Bình nhún vai, nói:

“ Đâu chỉ khúc mắc… ài… đằng nào chuyện cũng chả phải bí mật gì, anh hỏi bà con trong xóm cũng biết. Thôi thì để tôi nói. Chẳng là hồi năm ngoái, hai cha con nhà anh Đỗ còn từ mặt nhau. ”

“ Còn có chuyện này à? Hà cớ gì mà lại… ”

“ Bác trai thì muốn anh Đỗ theo nghiệp mình, làm sáo diều nuôi thân.

Nhưng anh Đỗ nhiệt huyết cuồn cuộn trong tim, đâu có chịu yên lặng làm thường dân? Hôm anh ấy báo tin nhập ngũ, cũng là lúc bị cha đuổi khỏi cửa từ mặt.

Thân làm trai chí tại bốn phương, gánh nợ tang bồng là lẽ thường. Con có chí lớn, bậc làm cha mẹ sao lại cản ngăn cơ chứ? ”

Phạm Lục Bình nói đến đây, lại bất giác nhớ lời mẹ. Y đặt tay lên ngực trái, nơi giữ lá thư cha người cha khuất núi của mình gửi gắm.

Lê Học nói:

“ Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh. Tôi với anh nói thì nói vậy, chứ nếu ở trong hoàn cảnh của bác trai, chưa chắc đã không làm chuyện tương tự. Có cha mẹ nào không muốn tốt cho con mình đâu. ”

Nói đến đây, thì cánh cửa tiệm thuốc bắc đã kẽo kẹt muốn mở ra.

Cùng lúc đó, quay lại nhà cha của Hồ Đỗ…

Dăm luống khoai lang ông vun đắp cả năm trời có nửa bị đám chuột gặm đứt lìa cả dây, nhựa thấm ra đầy đất. Mất một lúc mới cuốc được hết đống củ non lên. Ông tặc lưỡi, xếp cả vào thúng. Mấy bữa nữa ra Tết, người khá bắt đầu nuôi lợn trở lại thì ông sẽ đem đống củ hỏng này ra chợ bán rẻ. Âu cũng là một cách để đắp đổi qua ngày.

Ngồi lên hè, nhìn con Mực ngấu nghiến thằng nhãi chuột đồng nó mới tóm được mà ông cười khổ. Chó nhà nghèo bụng lép lưng thô, phải bắt chuột mà ăn thì bán cho ai được? Người ta thích chó già đấy, nhưng Mực ta mà lên đĩa thì liệu được mấy miếng?

Ông tóm con chó, đá vào chân nó một cái. Con Mực đã quen, nên chả lí gì tới lão mà chỉ cắm cúi ăn.

“ Cậu biết mẹ cậu là ai không Mực? ”

Mắt ông nhoè đi, buồng cau cao ngất như càng xa hơn. Hồi ông còn trẻ, vợ còn sống, hai người đã cất tuyệt tác cả đời của vợ ông lên đó. Để bây giờ mỗi khi gió hồ thổi vào căn lều ọp ẹp tiếng sáo lại vang lên réo rắt.

Vi vu thoảng qua, một cơn gió mang theo khói cơm thơm lừng. Giờ này là các bà các cô đã xuống bếp thổi cơm trưa cho chồng rồi đấy. Vườn nhà ông cũng vì đó ngập tràn tiếng sáo trúc réo rắt khi xa khi gần, lúc trầm lúc bổng.

“ Mực này, tao kể chuyện này cho mày đến lần thứ mấy rồi nhỉ? Chà… nhiều quá tao cũng đếch nhớ nữa rồi. Cái về hai kẻ ngu si nhất trần đời ấy.

Mà thôi, nghe hay không kệ xác mày, tao cũng cứ kể lại lần nữa.

Ngày xửa ngày xưa, ở một nơi chẳng xa xôi, có một nàng tiên sinh ra trong hình hài của loài quỷ xấu xí. Tóc nàng bị xóm tiên cười là trắng phớ như khăn tang… ”

Kể tới đây, ông lại lên cơn ho. Khùng khục, khùng khục giật lên từng tiếng.

Nỉ non.

“ Nàng tiên ấy bị xa lánh vì xấu xí, chỉ có một con quỷ đói nhìn thấy trái tim nàng như là đoá sen Tây Hồ. Đúng thật. Sáo nàng thổi vi vu như tiếng gió, giờ vẫn vẳng bên tai con quỷ hàng đêm. Ôi chà, nàng tiên dạy con quỷ thành nhà thơ lúc nào không biết nữa…

Nàng tiên xác quỷ yếu ớt, không thổi hết được một bài. Con quỷ thấy thế, bèn nói với nàng về con diều sáo, dù bản thân hắn chỉ biết câu ếch nuôi thân. Nàng tiên biết có thể dựa vào gió trời thổi sáo thay mình, thích lắm. Nàng tự mày mò học làm diều sáo, rồi chỉ lại cho con quỷ đói. ”

Con Mực ngóc đầu dậy, cọ tai vào bàn tay ông. Mõm nó toàn máu chuột nên nó không dám liếm mặt chia buồn cùng cụ, sợ vây bẩn mặt chủ.

Cha Hồ Đỗ đã chìm vào hồi ức, nên cũng không chú ý tới con Mực.“ Thấy nàng hay đi đêm ra chỗ câu ếch, gần gũi với con quỷ, cha mẹ nàng bèn tống khứ nàng cho hắn luôn. Từ ấy con quỷ gánh hai miệng ăn. Giờ nghĩ lại, chính nó cũng chẳng rõ nó hồi ấy nó xoay sở kiểu gì mà nuôi nổi bản thân nó lẫn nàng tiên.

Rồi nàng tiên cũng tìm được cái nghề, ấy là làm sáo diều. Nhìn nàng vui vẻ trao từng con diều tới đôi tay háo hức của đám trẻ chăn trâu mà con quỷ đói chẳng nỡ nói cho nàng biết một buổi chiều bán nàng lỗ bao nhiêu tiền.

Nhưng rồi nàng tiên cũng nhận ra. Con quỷ đói giấu sao nổi mắt nàng? ”

Con Mực thế mà khôn. Thấy gió nổi to, nó bèn rên lên ư ử, ngâm nga theo tiếng sáo vẳng xuống từ ngọn cau. Cụ thân sinh của Hồ Đỗ vừa nhịp phách theo, vừa kể.

“ Nàng tiên cố hết sức. Chồng rau, chăm gà, bếp núc, kéo tơ… ngặt nỗi đụng việc nào cũng hỏng. Có lần nàng làm khét cả nồi giò tết, bưng mặt bật khóc mà hỏi con quỷ: “ Chẳng lẽ trời sinh ra tôi chỉ để ngồi ăn chờ chết ư? Con gái con đứa xấu người, xấu cả nết thì sống làm gì nữa! ”. Nói rồi vụt chạy định trầm mình xuống nước.

May hôm đó trở trời, con quỷ không đi câu ếch mới ngăn kịp. Ôi, nghĩ lại nếu hôm đó chỉ có mình nàng tiên ở nhà, đúng là không lường trước được chuyện gì. ”

Lão thấy con Mực đã ăn xong, bèn vốc nước rửa mõm cho nó. Cu cậu được gãi cằm, cứ rên lên ư ử lấy lòng.

“ Mày không biết đâu, lạ lắm. Đêm hôm ấy nàng tiên đến chỗ con quỷ đói đang nằm mà nói: “ Thiếp ăn ở nhà chàng, ngủ ở nhà chàng. Tuy chưa có lễ phu thê nhưng đã nên nghĩa chồng vợ. Đáng ra việc nữ công gia chánh, chuyện sửa túi nâng khăn phải do người đàn bà đảm nhiệm, ngặt nỗi thiếp đau ốm dầm dề, vô dụng quanh năm. Là vợ, đã khiến chồng phải cơm bưng nước rót, mà đến cả hầu hạ chồng cũng không biết thì còn sống làm gì? ”. Thế là hôm ấy nàng tiên với con quỷ lấy nước rau ngót thay rượu, làm cái chuyện trai trên gái dưới.

Ôi!! Trước đó con quỷ để nàng tiên ở nhà mình, nhưng tay nàng hắn cũng không dám nắm. Hắn nghĩ nếu tương lai cha mẹ nàng tiên đổi ý nhận lại con, thì nàng hãy còn tấm thân con gái, hắn sẽ không lỡ dở nàng.

Không biết có phải trời trêu người không. Năm ấy vua làm lễ Tịch Điền, nghe tiếng sáo diều bèn cao hứng mở hội thi cho các làng các xóm. Nàng tiên vốn thông minh, bèn nảy ý kết hợp đèn trời với sáo diều, định làm một chiếc để đời. ”

Lão kể đến đây, mắt lại nhìn chiếc diều sáo cất trên ngọn cau.

“ Nàng tiên làm ngày, làm đêm. Con quỷ đói lúc nào ngơi việc là châu vào đỡ nàng một tay. Phần thân diều làm một tháng thì xong.

Nhưng có lẽ do lao lực quá độ, nàng tiên lên cơn đau mắt nặng. Con quỷ không có tiền chạy chữa cho nàng, chỉ còn cách đến quỳ trước cửa cầu cứu cha mẹ nàng tiên. Mực, mày xem có ngu ghê chưa?

Cuối cùng, con quỷ bị người hầu nhà nàng tiên đánh ngất xỉu. Lúc về nhà, thì nàng đã mù hẳn. ”

Lão nói đến chỗ này, thì giật mình nhận ra hai gò má gầy gò đã ướt đẫm tự bao giờ. Con Mực thấy chủ buồn, nhảy vào lòng lão mà dụi đầu vào ngực. Cụ thân sinh của Hồ Đỗ bèn cười. Cười méo xẹo khiến mặt nhăn nheo như con khỉ. Cụ ôm con Mực, tay ghì đầu nò xuống mà dấu dí:

“ Mực ăn như lợn, ngu như lợn. Bố có buồn đâu, bố làm mệt quá đổ mồ hôi đấy chứ. Nghe bố kể chuyện tiếp đây này.

Con quỷ đói thấy nàng tiên buồn, chẳng quản việc nặng cũng cố hoàn thiện con diều. Mỗi ngày hắn làm một tí. Đêm câu ếch cũng cố nhìn ánh trăng mà đẽo sáo. Rồi thì cũng xong. Con diều hình giống như đoá sen, đài sen giấu một ngọn nến để giúp nó bay lên cao như cái đèn trời. Cuống sen thì ghép từ gần hai chục ống sáo.

Đêm rằm tháng Tám, con quỷ đỡ nàng tiên ra thả diều. Nàng tiên đỡ lấy bông sen, trăng nhuộm tóc nàng. Từ ấy mà diều có tên “ tiên nữ hái sen ”. ”
Như bao lần, kể đến chỗ này thì lão không nén nổi nữa mà gục xuống, bật khóc nức nở như một đứa trẻ. Cứ hễ lão khóc, thì cơn ho quái ác lại quay lại hành lão một chặp. Nấc một tiếng là ho một tràng, ho một tràng là khóc một trận. Đến tận khi lão bắt đầu ho ra máu cũng chưa dừng được.

Mặc cho cơn ho, mặc cho tiếng nấc, lão vẫn gằn từng chữ trong cuống họng nay đẫm lệ:

“ Mẹ nó… mẹ nó chết đi bỏ lại tôi… với thằng Đỗ. Nay tôi già cả mắt mờ, ngày có làm được mấy cái diều sáo mà bán đâu? Cũng muốn thằng con theo nghiệp mẹ, để bà dưới suối vàng được yên nghỉ. Thế mà thằng Đỗ… thằng Đỗ nó lại chọn con đường chiến chinh mẹ nó ạ.

Thằng này xưa ngoan là thế, từ sau khi khỏi bệnh là thay tính đổi nết, bướng bỉnh mà lại cẩu thả. Tôi sợ nó ra trận, sẽ chết… thì tôi chả còn mặt mũi nào gặp lại mẹ nó. Nhưng, khuyên rã cổ cũng ngăn không được chân thằng con. Giờ nó lớn rồi, đủ lông cánh rồi, không cần đến tôi nữa. Nó muốn nhập ngũ, là đùng đùng bỏ nhà đi.

Đấy, bà xem tôi đoán có sai đâu! Đầu quân mới được một năm, thế mà đã bị người ta đánh cho dập nát cả gan mật. Mẹ nó chắc sẽ hiểu mà. Nó đau một tôi sót mười… ”

Lão ôm con Mực, nói:

“ Còn có cậu này. Năm ấy mẹ thằng Đỗ mất tôi đưa cậu về, cậu còn chưa mở mắt. Nếu hôm thằng Đỗ bỏ đi, cậu không cắn gấu quần ngăn tôi thì tôi đi chết luôn rồi, tôi đi gặp mẹ thằng Đỗ luôn rồi. ”

Con chó tru lên một tiếng thê lương, rồi dụi đầu vào ngực lão.

“ Đúng rồi. Đúng rồi. Sao mà chết được? Tôi còn phải nhìn thấy cậu chết, lấy xác cậu làm bữa ma chay cả tôi lẫn cậu chứ. ”

Lão đứng dậy toan bước, nào ngờ xảy chân vấp phải hòn đá. Mất đà, cụ thân sinh Hồ Đỗ ngã nhào, vai đụng trúng luôn cây cau. Thân cây rung lên bần bật như dây đàn. Cau chết khô từ bao giờ không rõ. Chỉ biết phải năm năm trước, mà cũng có thể là lâu hơn, thì cây cũng không ra buồng nào nữa để mà xé.

Cây rung lên, dây diều được ông cụ thay mới mỗi rằm Trung Thu bỗng nhiên đứt phựt một cái. Sáo trúc mới cóng vót hồi rằm tháng tám rơi cả xuống đập trúng đầu cụ.

“ Mẹ nó… đón tôi à? ”

Cụ nhoẻn cười, ngây ngô như lần đầu tiên anh bắt ếch ngơ ngác trước nàng tiểu thư tóc trắng đoản mệnh.

Con Mực chạy đến bên chủ, dụi mũi liếm mặt cụ. Nó cố mãi mà chẳng bắt được một hơi thở nào thoát ra từ mũi hay miệng chủ cả.

“ Oẳng! Oẳng! ”

Con Mực sủa thê lương, rồi tông hàng rào phi ra khỏi sân, mất hút trên con đường dẫn ra đê.

Cả ngày hôm ấy, dân chài lưới thành Thăng Long kháo nhau chuyện về một con chó đen. Người nói nó phát rồ, kẻ bảo bị quỷ nhập, có bà chắc nịch nó là yêu tinh, lại có ông cam đoan ấy là thần thánh hiển linh.

Chuyện cứ nhảy cóc từ làng dưới đến thôn trên, dần dà lọt vào cung, truyền đến tai Trần Nghệ Tông. Ông cũng cảm thấy kì lạ, bèn thượng triều hỏi văn võ bá quan.

Ông quan to này nói ấy là điều lành xuất hiện, lão tướng quân kia thì khảng khái đó là điềm hung báo trước. Quan lại chia làm hai phe, cãi nhau ỏm tỏi.

Giữa lúc tranh luận đang kịch liệt, Lê Quý Li bèn lên tiếng:

“ Chi bằng treo thưởng ngàn lạng bạc, vạn quan tiền cho ai bắt được nó về tiến vua. Lành hay dữ, quỷ hay thần đến lúc ấy cũng ắt phải hiện hình trước thánh nhan. ”

Nghệ Tông cho là phải, bèn xuống chiếu. Nhưng tiếc là con chó kia đã đâm đầu xuống sông Hồng mà chết, chỉ vớt được cái xác.

Giữa sân rồng, người ta mới cạy miệng chó cho nước trào ra thì lạ chưa, con chó đen đang ngậm một cái trống đồng con con to bằng nắm đấm.

Lời tác giả:

Hồi một của tiền truyện đã kết thúc. Thú thực lúc đầu đặt bút mình không có ý định viết hồi này đâu.

Thế nhưng sau đó lại nghĩ: chính truyện đặt trong bối cảnh loạn lạc chiến tranh, mà mình lại muốn đem lại cho độc giả một cái nhìn thoáng qua về làng quê xã hội nước ta xưa mà mình xây dựng ( hơi tham quá chăng??). Thế là bắt tay vào gõ tiền truyện.

Trái với chính truyện, thì phần tiền truyện này mình viết theo kiểu “ thả ngón tay chạy rông theo cảm hứng ” nên có phần vấp váp hơn, đôi lúc cũng có những cái lầm lẫn hay sai sót. May sao, đến lúc này thì cũng có thể gọi là hoàn thành được rồi.

Bật mí một chút, hồi hai của tiền truyện mình sẽ căn sao cho vừa khớp với kết của chính truyện - thiên thứ nhất. Khi đó sẽ có kha khá bí ẩn được bật mí.

Một phút trải lòng. Sắp tới tác giả qua Đức học ( 26 tháng này mình bay) chắc sẽ mất một khoảng thời gian để làm quen, ổn định cuộc sống. Thế nên tốc độ ra chương sẽ bất ổn hơn. Hi vọng bạn đọc có thể tiếp tục đồng hành cùng tác giả.

Chương 55: Hồi chín (12)

Ba ngày sau…

Sau chiến thắng quyết định ở Hàm Tử, quân số của quân Minh tăng thêm gần hai vạn. Thế quân phương bắc lên cao như nước lũ, chỉ chực tràn thẳng xuống phía nam.

Tối ấy, Trần Đĩnh một thân một mình tới soái doanh của Trương Phụ. Chính lúc y đang chong đèn ngồi bên án, xem một lượt các loại sổ sách. Sau lưng Phụ đặt một bức bình phong, bên phải có một cái lò con. Lão đang hâm chút rượu, uống trợ vui.

“ Hầu gia giờ này vẫn chưa ngủ ư? ”

“ Tả tướng quốc của các người là đối thủ lớn nhất ta từng gặp. Hai bận giao tranh, không lần nào là không bị y đánh cho thất điên bát đảo. Phen này đại thắng Hàm Tử quan, giết chết Hồ Xạ bắt sống Hồ Đỗ, không thể không nói là quân ta có phần may mắn. ”

Trương Phụ cảm khái, lại rót đầy một chén đưa cho Trần Đĩnh.

“ Tới, uống đi. ”

Trần Đĩnh ngồi xuống trước án, nhưng không đụng tới li rượu. Biết Trương Phụ có điều gì đó muốn nói, nên y chỉ lẳng lặng ngồi chờ. Y không vội, còn gì để mà vội? Kể từ ngày chém đầu Hồ Xạ xuống, Trần Đĩnh hắn không còn biết đến hai chữ “ vội vàng ” nữa.

Trương Phụ cẩn thận xem hết sổ sách, chiến báo quân tình rồi mới ngẩng đầu lên:

“ Rượu nguội rồi đấy. ”

“ Hầu gia chưa tin tại hạ, rượu của ngài tại hạ chưa xứng được uống. ”

“ Quan Vũ chém Hoa Hùng, rượu hẵng còn ấm. Huống hồ nhà ngươi chém Hồ Xạ còn nhanh hơn. Chén này coi như thưởng công. ”

Trần Đĩnh nhún vai, nghiêng chén dốc cạn tới giọt rượu cuối cùng.

Trương Phụ lại rót đầy một chén, tự uống. Vì lão uống một mình, nên trong trướng chỉ có một cái chén.

“ Nhà ngươi đến tìm bản soái, chắc không phải để nói mấy cái chuyện tào lao này. Hơn nữa, kẻ sẵn sàng chém chủ soái của mình như ngươi thì chắc cũng chẳng đến đây để nịnh nọt ta. Ngươi lại là kẻ biết tiến thoái, nên ắt không phải đến chỗ này đòi thưởng công. Trần Đĩnh à, thực sự ngươi muốn tìm bản soái nói chuyện gì đây? ”

Trần Đĩnh nói:

“ Được hầu gia nhớ tên thì ắt có liên can tới trận Thiên Mạc, không biết tôi nên thấy mừng hay sợ nữa. ”

“ Dẫn quân đánh quân ta ở Thiên Mạc, đúng là nhà ngươi có tội. Song khi đó ngươi đang hầu chủ cũ, nên ta không trách. Trương Phụ này vốn chưa từng tin cái đạo lí: “ ngươi phản được chủ cũ, thì ắt có ngày phản ta ”. Đối vơi Phụ này kẻ dám hàng, ta dám dùng. Kẻ dám phản, ta dám giết. ”

Trương Phụ nhấp một ngụm rượu nữa, nói.

“ Hầu gia anh minh. Hôm nay Đĩnh đến đây, là muốn giúp hầu gia, giúp thành tổ tìm một vật. ”

“ Ngươi nghe ai nói?? ”

Thoắt cái, Trương Phụ đổi giọng, mắt trợn tròn lên. Y đập mạnh vào bàn, đứng phắt dậy.

Trần Đĩnh ôn tồn, nói:

“ Kính xin hầu gia bớt nóng. Hồ Đỗ vẫn tin rằng tôi chỉ trá hàng, hôm trước có bí mật nói với tôi trong hàng ngũ quân ta có Vương tướng quân vốn là Cẩm Y vệ. Tôi ở nước Nam kiến thức về thiên triều hạn hẹp, nhưng cũng biết Cẩm Y vệ vốn là thân vệ của thiên tử. Lần này phái họ nam tiến, chắc chắn có mục đích. ”

“ Tinh ý lắm. Nói tiếp đi… ”

Trương Phụ ngồi lại xuống ghế, khẽ nhướn lông mày.

“ Trần Đĩnh tài hèn, nhưng cũng giao thiệp khá rộng rãi với giới võ lâm. Đám giang hồ thảo mãng chúng tôi đánh trận không so được với quân đội, nhưng tin tức linh thông. Nếu như để tôi làm hướng đạo, phối hợp hành động với Cẩm Y vệ, thì ắt tìm được Thuận Thiên kiếm về cho thành tổ. ”

Y vừa nói dứt ba chữ Thuận Thiên kiếm, Trương Phụ đã hỏi bằng giọng ác liệt:

“ Mi nghe tin này ở đâu? ”

“ Vương tướng quân trong lúc say xỉn có lỡ lời hai câu, tại hạ tình cờ nghe được. Thuận Thiên kiếm nghe theo ý trời, cũng tức là nghe lời thiên tử rồi. ”

Phụ nghe lời ấy thật là hợp tai, bèn cười vang:

“ Hà hà! Giỏi! Thiên triều ta vốn là mệnh trời chú định là bá chủ đại địa, Thuận Thiên kiếm phải quy về cho thiên tử Trung Hoa mới hợp với thiên ý, chứ ở trong tay đám man di này thì làm sao thần kiếm triển lộ được hết thần uy của nó được? Tốt lắm Trần Đĩnh! Ngươi muốn được thưởng cái gì? ”

“ Ồ… tại hạ chỉ muốn cái đầu của hầu gia mà thôi. ”

Trần Đĩnh cười gằn, một cây chuỷ thủ thoắt cái thọc thẳng từ dưới lên, toan đâm thủng yết hầu Trương Phụ. Bị bất ngờ, Phụ chỉ đành phải ngả người ra sau theo bản năng. Song võ nghệ của Trần Đĩnh cũng không hề thấp, lưỡi dao đã muốn đụng vào chòm râu dưới cằm lão.Sáng hôm sau…

Hôm nay giữa doanh trại lâm thời được Trương Phụ dựng nên có một bãi đất trống rất rộng. Tứ phía toàn người là người chật kín như nêm cối. Đứng có, ngồi có, từ trong lều thò đầu ra xem cũng có không ít.

Mấy vạn con mắt đều hướng về một người đàn ông đang bị trói nghiến lại giữa sân bằng mấy vòng xích sắt, đoạn nào đoạn nấy` to bằng cánh tay người lớn. Hai thanh việt to lớn cắm chéo nhau ngay trước người y, tạo thành một cái giá để gác cằm lên.

Người ấy không ai khác đúng là Hồ Đỗ. Hôm ấy sau khi đánh Mạc Viễn một cú trời giáng, làm Bạch Kê Tinh của sơn trang Bách Điểu trọng thương gần chết, Hồ Đỗ cũng bất tỉnh nhân sự luôn vì mất máu.

Chính giữa biển người tách ra một con đường, để Mộc Thạnh và Trương Phụ sóng vai bước vào. Vầng dương của buổi chiếu nhuộm đẫm màu máu, lơ lửng sau lưng hai người.

Bả vai Mộc Thạnh được băng kín - hậu quả của trận chiến hôm trước với Hồ Đỗ. Vương Sài Hồ cũng lẩn trong đám người, cắn răng nghiến lợi nhìn người đàn ông đang bị trói gô giữa khoảnh đất trống.

Trương Phụ lại hất tay, một người đàn ông khác bị hai gã lực lưỡng giải vào giữa khoảnh đất, quăng vào bên cạnh Hồ Đỗ. Ấy đúng là Trần Đĩnh!

Da thịt y rách toác và đỏ lòm, lẫn lộn cả vào nhau. Mặt y chỗ thì thâm tím, nơi thì đỏ ngầu. Lại có một vết chém dài trượt từ gốc tóc bên trái xuống tận má phải. Vết thương đóng vảy đen xì, như muốn chẻ đôi gương mặt hắn ra.

Mộc Thạnh cao giọng:

“ Thằng này không biết lượng sức, hôm qua định ám sát Trương hầu gia. Thật may là bản soái ở đó, nên Trương hầu gia mới an nhiên vô sự. Mọi người xem loại giặc nhị tâm phản trắc này có đáng chém không?? ”

“ Nên chém! ”

“ Nên chém! ”

Tiếng người trước còn run rẩy, không đành. Nhưng chỉ một thoáng sau là nghe lồng lộng như gió ngoài đồng. Chỉ có Trần Đĩnh là nằm im re, hô hấp cũng chỉ khe khẽ. Ai đứng xa còn nghi hay hắn chết luôn rồi ấy chứ.

[ Ai mà ngờ, Trương Phụ lại là cao thủ nội gia, võ công còn có phần nhỉnh hơn Mộc Thanh. Đã vậy y còn sắp sẵn Cẩm Y vệ túc trực bảo hộ. Hồ Xạ ơi, Trần Đĩnh phụ cái đầu của anh rồi. ]

Y chặc lưỡi, thầm than mình quá tự phụ. Nguyên bản, y nghĩ Mộc Thạnh nay đã cụt mất một tay, có thể dễ dàng trừ khử nên muốn làm thịt Trương Phụ trước, trả thù cho Hồ Xạ. Nhưng… y thất bại!

Mộc Thạnh tiến lên hai bước, quăng một vật xuống đất. Tiếng động ấy đánh thức Hồ Đỗ. Hắn nặng nề mở cặp mi mỏi mệt, nhìn ra. Đôi môi khô nẻ của hắn thoáng nhếch lên vì cái thứ bị ném chỏng chơ trước mặt mình.

Diều sáo…

“ Hồ Đỗ! Bản soái nể ngươi dũng mãnh vô cùng, nên đã giúp ngươi hoàn thành ý nguyện cuối cùng của mình. Nhìn nó cho đã đi, chính ngọ sắp đến rồi đấy. ”

Hồ Đỗ mấp máy miệng, thở ra từng tiếng:
“ Ta… muốn thấy nó… bay cao. ”

“ Mày đừng có… ”

Vương Sài Hồ đứng đó không xa, bèn lên giọng quát. Thế nhưng Mộc Thạnh bèn ngăn lại:

“ Làm theo ý của y đi. Dù sao cũng là người sắp chết, đôi co làm chi? ”

Nguyễn Công Khôi vội vàng vâng dạ, đoạn sai một binh sĩ dưới trướng đem diều sáo thả ra. Cánh diều nhẹ nhàng lượn lên tầng không theo từng bước chạy. Làn gió đồng nội thoảng qua, luồn vào những ống sáo treo ở đuôi diều. Tức thì, từng tiếng sáo cao có, thanh có trầm có, thấp cũng có thi nhau vang lên, hoà thành một bản nhạc đồng quê. Hương đồng nội quyện cùng tiếng sáo, phảng khắp ba quãng đồng.

Trương Phụ thì nắm tóc xách cổ Trần Đĩnh lên, nói khẽ vào tai y:

“ Mày muốn sống đúng không? Đơn giản lắm. Hãy làm lại màn khổ nhục kế mày diễn ở Hàm Tử. Chiêu mà mày tự hào nhất là gì ấy nhỉ? À! Bóng trăng tây hồ. Dùng nó chém đầu Hồ Đỗ xuống, tao sẽ tha cho cái mạng chó của mày. Người thiên triều chúng tao có câu này: “ còn núi xanh thì lo gì thiếu củi đốt ”. Được sống là được trả thù đấy, nghe hấp dẫn đúng không? Nào! Cho tao thấy cái hành vi đáng tởm ấy một lần nữa. Chém đầu Hồ Đỗ rồi bỏ trốn như một con chó đi… ”

Trần Đĩnh gào lên một tiếng trầm thấp nơi cuống họn, cặp mắt như toé lửa.

Hồ Đỗ đã thất hồn lạc phách từ lâu, nên chẳng thèm để ý đến động tĩnh giữa hai người. Hắn ngẩng đầu lên, lần đầu tiên trong suốt ba ngày trời hắn làm cái điều này. Cánh đồng nứt nẻ ngút tầm mắt chợt xanh ngát, đòng đòng thơm mùi sửa đội dậy cả không gian. Trâu lững thững từng đàn nơi đồi cỏ xa xa. Cuối con diều, bóng một bé mục đồng đầu cắt trái đào thoáng hiện.

[ Đỗ! Sao mày làm diều siêu thế? Sau mở hàng thì đắt khách lắm! ]

[ Không! Tao muốn học Đinh Tiên Hoàng! Diều này chính là cờ lau của tao! Tao sẽ đánh khắp thế gian, cho người ta biết người Việt ta không dễ bắt nạt! ]

[ Ha ha, mơ hả? Mày bẩm sinh đã có ốm yếu, gầy nhom thế này thì đòi đánh ai? Người ta thổi cho cái lại chẳng gãy xương hả? ]



Cuộc đối thoại ấy, ngờ đâu, đã thay đổi hẳn cuộc đời Hồ Đỗ.

Hắn ngẩng đầu, thầm nghĩ nếu ngày ấy hắn chẳng gặp được thầy hay cho thuốc, không theo học võ trên chùa mà nối nghiệp cha làm một người làm diều nuôi thân thì sẽ thế nào. Có lẽ hắn sẽ không có mặt ở đây, chờ người ta chém đầu. Có lẽ hắn sẽ có được gia đình nhỏ hắn hằng mong ước, êm ấm sống qua ngày.

Nhưng…

Hắn sẽ không quen Hồ Xạ, Lục Bình, các anh em trong quân ngũ, không biết được tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng.

Hắn sẽ chẳng được thiêu cạn nhiệt huyết trên chiến trường, tung hoành giữa tên bay bão đạn. Không thể va chạm với Mộc Thạnh, còn chém rụng cánh tay lão xuống nữa.

Chỉ mười mấy gần hai chục năm năm ngắn ngủi ấy thôi mà đã xảy ra biết bao điều đáng nhớ. Hồ Đỗ biết, trong suốt cuộc đời an nhàn sáu chục năm mà có thể hắn đã được hưởng, sẽ không bao giờ có nổi thứ gì đáng giá bằng một góc mười mấy năm ấy.

Cho nên, hắn không hối hận…

Hồ Đỗ ngước mắt nhìn cánh diều sáo lần cuối. Hắn muốn nhìn nó bay cao một lần nữa trước khi gió lặng, sáo ngưng. Bỗng, hắn giật mình phát hiện bốn chữ lớn viết dưới cánh diều. Chữ Nôm… Chúng đập thẳng vào mặt hắn, khiến một chút sinh khí và nhiệt huyết còn le lói trong tim hắn cháy lên.

Việt Nam trường tồn!

Đại Việt ở trời nam sống mãi với thời gian!

Nét chữ ấy quen lắm. Hồ Đỗ nhìn mà mắt ứa lệ. Hắn cười, mặt thanh thản lạ.

“ Chú hứa với anh rồi đấy nhé… ”

Lúc này thì Trần Đĩnh đã đứng dậy. Thanh gươm được trao vào tay hắn, không ngờ lại là thanh Huyết Ẩm hắn từng dùng năm nào. Hắn buông thõng tay, kéo lê mũi kiếm trên mặt đất. Trần Đĩnh cố tình bước thật chậm, ấy thế mà chẳng mấy đã đến trước mặt Hồ Đỗ.

Y run tay, nâng lưỡi kiếm lên. Răng y cắn chặt, còn đầu thì quay đi đặng né tránh ánh mắt của Hồ Đỗ.

Hồ Đỗ cười khẩy, nói nhỏ:

“ Chết một đỡ hơn đi đời cả đôi, chú cứ chém thẳng tay… Nhớ! Chăm sóc Đồng Xuân cho tốt… ”

Trần Đĩnh giật mình! Cái tên “ Đồng Xuân ” - tên vợ hắn - đối với hắn mà nói có khác nào hồi chuông nện thẳng vào đầu. Hắn loạng choạng, ngớ người ra một lúc lâu. Thế rồi…

Gió lặng.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau