THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 36 - Chương 40

Chương 36: Hồi tám (8)

Lúc bấy giờ thì trời cũng nhá nhem rồi. Ở nơi chiến trường cách chốn này chỉ nửa ngày đường, Hồ Đỗ vừa mới hạ gục Mộc Thạnh trong một cuộc đấu tay đôi đẫm máu.

Kể lại nửa canh giờ trước…

Hồ Xạ và quân sĩ được lính của Đỗ báo tin, thì thấy nuốt nhằm cục than đỏ vào bụng vậy. Chẳng kịp chần chừ thêm, y vội vàng cho quân sĩ tập hợp, đoạn nhanh chóng lên đường tiếp viện Hồ Đỗ.

Đường rừng xa và gập ghềnh, nhiều chỗ có rễ cây mọc trồi lên cản lối. Quân của Xạ cứ theo dòng nước và vết chân mà đi, chẳng mấy chốc đã gặp nhóm tàn binh dưới trướng Tông Đỗ, Công Khôi mà Đỗ cứu trước đó.

Y hỏi han họ một phen, sau khi biết rõ hướng đi của nhánh quân Hồ Đỗ thì cho một bộ tốt dẫn bọn họ về chỗ neo thuyền, cấp thuyền con cho về. Y lại dặn các tàn binh mau bẩm tấu lên Hồ Hán Thương dẫn quân đánh chặn cửa rừng ở phía tây.

Trên đường hành quân, Hồ Xạ một mực thấy lòng nao nao bất an, nhưng không nói rõ ra được vì sao. Y nghĩ:

[ Chắc tại mình sợ thua, nên đa tưởng mà thôi. ]

Hắn tự trấn an mình, nhưng cũng không yên được. Nếu thua trận này thì hắn chết, Hồ Đỗ chết, Hồ Nguyên Trừng chết, Đại Ngu cũng sẽ chết.

[ Từ sau trận chiến ấy, mạng ta thì có xá gì nữa đâu? Lần này dẫu có chết cũng phải đánh cho quân Minh một trận thất điên bát đảo, bảo vệ quân doanh. ]

Đi thêm nửa dặm, Hồ Xạ gặp quân của Đỗ đang nghỉ ngơi bên cạnh một gò đất, phía sau là rừng cây rậm rạp và cỏ cao lêu nghêu. Thấy đang lúc nước sôi lửa bỏng mà cả quân lẫn tướng lại ngừng chân xem cảnh, Xạ ức lắm, chỉ muốn qua mắng tên Hồ Đồ một trận té tát.

“ Bẩm ông, Hồ Đỗ tướng quân lên gò thám thính, nhưng mãi chưa thấy về. Anh em con chưa được lệnh quân, đâu dám đi linh tinh. ”

Xạ nói:

“ Thế thì đi theo ta, một người ở lại đây chờ Hồ Đỗ là được. Tên này thính lắm. Ở đâu có đánh nhau là hắn mò tới được ngay ấy mà. ”

Danh hiếu chiến của Hồ Đỗ đã vang khắp ba quân, ai mà không biết? Quân sĩ cho là phải, bèn lục tục hội với binh của Hồ Xạ.

Quân Đại Ngu dưới trướng xạ tăng lên con số ba vạn. Y cho quân men theo dòng sông, lên mạn tây rồi vòng xuống hướng nam.

Theo những gì được vẽ trên địa đồ, thì quân Minh dự tính bỏ doanh, vòng một đường theo cung tây - nam rồi ập vào doanh trại nhà Hồ.

Hồ Xạ định dẫn quân bám theo tuyến đường của giặc, dẫn quân đánh thọc từ phía sau vào, lại phối hợp với viện binh của Hán Thương tạo thành thế gọng kìm, tương kế tựu kế phá giặc.

Men theo dòng sông thêm chừng một khắc, cả đoàn người phát hiện ánh lửa leo lét phía trước. Cách đó chừng mấy chục thước ta, trên một cái gò cao có độc hai cây si lớn mọc cạnh nhau.

Dưới gốc cây, có một toán vài tên lính Minh đang nghỉ chân bên đống lửa, giở lương khô ra ăn cho lại sức. Hồ Xạ cho sĩ tốt tản các hướng, lúc nào thấy lửa nổi lên là sẽ tổng tấn công từ nhiều phía. Y lại dặn họ để sẵn cung và nỏ chờ lệnh, lại dẫn một đám quân nhẹ nhàng tiến lên lưng chừng gò.

Nói đoạn, hắn rút ngay mấy mũi tên mà ném. Sĩ tốt phía sau lập tức phối hợp buông cung bật nỏ.

Tiễn nhọn bắn bất ngờ làm cả đám địch quân chết hầu hết. Chỉ có tên chỉ huy nhanh tay chộp vai đồng đội đưa ra trước mặt là thoát nạn. Y vội vàng ba chân bốn cẳng bỏ chạy, vừa trốn vừa la oang oang:

“ Có địch tập! ”

Hồ Xạ hất tay, một mũi tên khác lao vút ra, găm ngay vào gáy kẻ chạy trốn. Nhưng âm thanh cảnh báo đã thoát ra khỏi cuống họng hắn mất rồi, không sao ngăn được.

“ Tiến công! ”

Sợ lỡ mất thời cơ, Hồ Xạ đành phải đứng bật dậy, phát lệnh tổng tấn công. Hắn nghĩ một khi quân mình giao chiến với kẻ địch, cứu viện của triều đình thấy động phía trước, chắc chắn sẽ biết đường kéo nhau đến hỗ trợ.Hồ Xạ và cánh quân của hắn kéo nhau lên gò, vừa tiến lên vừa phải giơ khiên che đầu kín mít. Quả nhiên, trên đỉnh gò cao đồi thấp bắt đầu loáng thoáng bóng quân địch. Tên bay, đạn nổ bắt đầu dội xuống quân Đại Ngu.

Cũng như lúc quân đội ập vào doanh trại, y cho quân dàn hàng ngang, che mộc đi trước. Theo sau mới là các binh chủng khác. Cả đoàn người cố sức chạy nhanh, quân lính phía sau cố gắng bắn trả địch quân.

May thay, các gò đất chung quanh không quá cao, nên chẳng mấy chốc mà binh lính Đại Ngu đã giết lên tận đỉnh. Quân Minh cuống cuồng chạy rụt vào doanh, nấp sau rào gỗ lều bạt chuẩn bị phản kích.

Nơi quân Minh đang đóng doanh nằm lọt thỏm giữa một hàng gò cao, đồi thấp. Nhấp nhô hàng đống lều bạt giữa một vùng đất tương đối rộng.

Trên các đỉnh đồi chung quanh, phàm là cây thân gỗ thì đều đã bị Trương Phụ cho quân đẵn xuống gần hết, nay đang được xếp cùng rơm cỏ chung quanh doanh trại thành một lớp rào tạm thời.

[ Đóng đô ở nơi dễ tập kích như thế này, có lẽ do Trương Phụ chủ quan nghĩ quân ta sẽ không phát hiện gian kế của chúng hay sao? ]

Hồ Xạ thoáng chút do dự. Y không lí giải được vì sao họ Trương lại đãng trí đến nỗi đặt quân mình vào thế nguy hiểm. Song… giờ lấy đâu ra thời gian mà suy đi tính lại. Nếu còn không quyết định thì quân Minh trong trại sẽ giới nghiêm cẩn trọng, khi ấy e sẽ phải khổ chiến một phen.

“ Tiến công! ”

Hồ Xạ hét lớn. Vì hành quân gấp gáp không thể mang theo pháo Thần Cơ, nếu không đứng trên đỉnh đồi đỉnh gò mà dội pháo xuống đầu địch thì uy lạc có khác gì trời sập?

Không có pháo, Hồ Xạ đành cho quân đánh giáp chiến. Hơn hai vạn binh mã Đại Ngu kết thành phương trận, dựng mộc che cho nhau rồi cứ thế lao từ trên các đồi xung quanh xuống. Số còn lại người thì kéo cung, kẻ thì giương nỏ bắn yểm hộ đại quân.

Trần Đĩnh xung phong dẫn quân tiến đánh trại giặc, Hồ Xạ nghĩ mình còn phải chỉ huy cung tiễn thủ, bèn gật đầu đồng ý. Được lệnh, Trần Đĩnh bèn tuốt kiếm hét vang, hộc tốc chạy theo đại quân.

Chạy non nửa đường, vậy mà tiếng gầm của hoả pháo chỉ vang lên lưa thưa. Hồ Xạ lập tức thấy ngờ ngợ, đồ rằng có gì đó bất thường ở đây:

[ Không lí nào, quân ta nói họ bị quân Minh tập kích bằng hoả pháo, chứng tỏ kẻ địch có dẫn theo một số mới đúng. Hay chúng bỏ lại chỗ bờ sông? ]

Dù vấp quân Minh phản kháng lại rất dữ dội, song binh mã Đại Ngu dưới sự thống lĩnh của Trần Đĩnh lại chẳng hề nao núng. Như một cơn bão cuồng bạo, quân Đại Ngu khua kiếm múa gươm tràn xuống từ các đỉnh gò. Tiếng hò của sĩ tốt vang lên, cao, cao mãi. Ồn ã, hào hùng giữa một không gian tràn ngập tiếng nổ, tiếng kiếm đao va chạm, tiếng gươm giáo giao tranh.Tên bay vun vút từ bốn phía. Cung binh do Hồ Xạ lãnh đạo bỏ vị trí địa lợi trên các đỉnh gò, đỉnh đồi. Mấy vạn quân trượt xuống lưng chừng gò, có thể bắn yểm hộ cho bộ binh mới hiệu quả.

Trần Đĩnh hung hãn dẫn đầu ba quân, giọng hò của y cũng là to là rõ nhất. Chân đạp tung rơm gỗ, tay cầm kiếm càng múa càng nhanh. Cổ tay Trần Đĩnh xoay tròn, vũ động sao mà đẹp, vừa dẻo dai vừa dứt khoát. Thanh trường kiếm của y vẩy ra loang loáng bóng trăng. Địch quân chống lại bị chém như chặt mía.

Quân Minh núng thế, thương gãy hết tên gần cạn, bèn hò nhau cầm nào là vò rượu, nào là chum dầu ra đập. Nói đoạn, doanh trại quân Minh chìm trong biển lửa.

Hồ Xạ nhìn doanh trại quân Minh ngập lửa, chắc mẩm địch quân đã bị đánh bại. Y để cung tiễn thủ ở lại giữ chỗ cao, sao đó trượt xuống chỗ Trần Đĩnh.

Y giáp Đĩnh nhuộm máu, chiến bào tung bay trong tàn lửa. Thanh kiếm trong tay y hẵng còn nóng bừng, vì máu, vì lửa, và vì nhiệt huyết nơi chiến trường. Trần Đĩnh ngẩng đầu lên, nhìn con trăng treo cao cao trên đầu. Bất giác, lòng y thổn thức.

“ Lẽ nào Huyết Kiếm Thiên Công này không còn về được Hàng Khoai nữa ư? ”

Trần Đĩnh tự lẩm bẩm một mình, giữa lửa cháy và thi thể bỗng dưng y thấy hoang mang quá. Một dự cảm tương lai hiện lên trước mắt y. Trước khi chết, con người ta hay nhớ lại chuyện xưa. Lần này cũng thế chăng? Có lẽ vậy.

Hắn nhớ, bất giác nhớ về quá khứ, về căn nhà lụp xụp gần phố Hàng Than, cách Hoàng Thành chỉ mấy bước chân. Ngoài trừ thanh Huyết Ẩm kiếm đã gãy rụp, hoen rỉ trong thiên lao thì căn nhà là di vật cuối cùng của sư phụ hắn.

Trở lại chiến trường Hàm Tử…

Hồ Xạ bước nhanh tới chỗ Trần Đĩnh. Lửa cháy ngút trời, khiến vết máu trên thân y khô nhanh lại. Trần Đĩnh vẩy kiếm, chuyện cũ lướt nhanh qua đầu y, tất cả chỉ mất một phút đồng hồ.

“ Tình hình thế nào? ”

Nghe Hồ Xạ hỏi, Trần Đĩnh mới từ tốn tra kiếm vào bao, đáp:

“ Bẩm tướng quân, địch quân trong trại đã bị quét sạch. ”

“ Ừm. Tốt lắm. Báo với mọi người mau rời khỏi nơi này. Chốn này địa thế hung hiểm, không tiện ở lâu. ”

Xạ phất tay, đang định phất cờ ra hiệu thì đã có tiếng hô đánh hô chém vang lên ở bao trùm khắp các đỉnh đồi, đỉnh gò. Tiếng Tàu! Xì xà xì xồ thế này thì đích thị là tiếng Tàu.

Hồ Xạ nghĩ trong khi phóng mắt quan sát.

Quả nhiên, cung thủ và nỗ thủ của quân Đại Ngu đang bị ép phải chùn bước liên tiếp bởi một nhánh quân lạ. Lực chiến đấu của địch không quá cao, song có số lượng áp đảo. Quân Hồ lại toàn là cung binh, nỗ binh, lực đánh sáp lá cà có hạn nên đội hình quân Đại Ngu liên tục bị ép dạt lui.

Bốn phương, tám hướng không ngớt thi thể quân Hồ bật ngửa ra sau, trượt dài một đường xuống tận chân dốc.

Cung binh nhà Hồ biết cố chống chỉ có chết, chẳng còn cách nào ngoài từ bỏ chỗ cao là đỉnh đồi, kết viên trận lui nhanh về sau lấy cứ li. Vừa lui, họ vừa bắn tên ngược lại sát thương quân địch.

“ Nguy! Là mai phục! Trần Đĩnh, mau dẫn anh em bộ binh mở đường máu xông phá vòng vây. ”

“ Được! ”

Trần Đĩnh đáp gọn, kiếm rời vỏ nghe soạt một cái. Hai người mỗi người dẫn theo nửa quân số, một đánh lên phía bắc, một quay đầu chặn hậu đề phòng quân Minh tràn lại từ phía tây.

Chương 37: Hồi tám (9)

Cánh cung binh và nỗ binh thấy quân tiếp viện đánh xộc lên, bèn bắt đầu co cụm về chỗ Hồ Xạ. Quân Minh chiếm được chỗ cao, dùng mấy ngàn cái tấm gỗ to phải bằng nửa người trưởng thành đóng chặt xuống đất, bộ tốt cứ nấp đằng sau. Chúng là những mảnh ván thuyền Cổ Lâu trúng mai phục, nay bị Trương Phụ tháo ra dùng tạm.

Thuyền Cổ Lâu là thuyền lớn nhiều tầng, ván thuyền được xẻ vừa dày vừa chắc. Cắm xuống đất thì có khác nào khiên lớn, khiến tên nỏ của quân Hồ bắn với lên không tạo thành được bao nhiêu thương tổn.

Hồ Xạ thấy vậy, rút ngay một mũi tên phóng mạnh đi. Kình lực của hắn mạnh kinh người, nhưng mũi tên cũng chỉ lút được độ một ngón tay là kẹt lại. Hồ Xạ cắn chặt răng, biết lần này e là hỏng bét.

Ngay từ đầu mục tiêu của Trương Phụ đã không phải doanh trại quân Hồ, mà là năm vạn quân tập doanh chính diện của Hồ Đỗ - Hồ Xạ. Y một mặt kéo hết quân ra tập kích cánh quân của Tông Đỗ - Công Khôi, lại khéo léo để lại manh mối, khiến hai tướng Đỗ Xạ hoảng lên không kịp định thần nghĩ kỹ. Ngay cả đám binh sĩ canh dưới gốc thông, rồi doanh trại phía dưới đều chỉ là nguỵ kế lừa quân Đại Ngu mà thôi. Tự thiêu doanh trại, một mặt là diễn cho Hồ Xạ xem, mặt khác là làm tín hiệu cho quân Minh mai phục trong bán kính hai dặm quanh đó áp sát lại.

Quân Minh lấy ván thuyền làm khiên, tiếp cận bất ngờ. Nỏ binh, cung binh của Đại Ngu vừa mới lui lại định chiếm lấy chỗ cao thì đụng trúng ngay quân Minh khi đó đã tiến sát sạt, từ đó bị ép cho lùi liên tục đến bây giờ.

Hồ Xạ và Trần Đĩnh ập lên, dùng thương kiếm mà đánh lên, thì bị tên đạn của địch dội tới tấp xuống đầu. Trương Phụ cố tình xếp một hàng thuẫn tường, rồi sau đó quân Minh núp đằng sau cứ mượn những kẽ hở mà bắn trả quân Đại Ngu. Bộ binh nhà Hồ dùng khiên tròn đỡ được một phần, song vẫn có một số bị thương.

Nỗ binh Đại Ngu tìm cách bắn vòng cung trả đũa, thế nhưng tác dụng cực kì có hạn.

“ Đánh cho Mông Cổ ngã ngựa

Đánh cho Nam Hán chìm thuyền

Đánh cho nhuộm hồng Như Nguyệt

Đánh cho cốt trắng Bạch Đằng

Đánh cho núi Tản sông Đà

Đánh cho hào khí Đông A ”

Thời gian trôi đi trong tiếng hò, khoảng cách giữa quân Hồ với dải thuẫn tường được rút lại ngày một ngắn dần. Chẳng mấy nữa mà quân Hồ sẽ vượt qua được làn tên mưa đạn để đánh vỗ mặt với thuẫn binn nhà Minh.

Thấy nguy, quân Minh bắt đầu dồn hoả lực xuống đầu cánh tiên phong Đại Ngu. Đồng thời, cánh quân bắc quốc thứ hai đã tràn xuống tới đáy thung lũng, cứ nhè quân Hồ đằng trước mà nã súng khai tên. May thay lần này nỗ binh, cung binh nhà Hồ đã chiếm được ưu thế độ cao nên bắn trả ngày càng quyết liệt.

Hồ Xạ kéo quân áp tới sát thuẫn trận. Thì bất ngờ, thuẫn tường chợt dạt ra, hàng trăm mũi mâu nhọn hoắt đồng thời xộc tới.

Máu đào tung bay, người ngã xuống. Tiếng hò dậy đất, động trời xanh. Binh tốt nhà Hồ thi nhau đổ gục, song tay hẵng còn nắm chặt vào mép thuẫn, dồn cả sức nặng người mình lên thuẫn tường tua tủa thương nhọn của đối phương. Nhìn từ xa, trông họ giốmg như một bầy nhím gục xuống bên dải tường thành vậy.

Đoàn quân chạy sau biết ý, liều mình lao tới, đạp lên những tấm ván nay đã không còn gì bảo vệ. Thi thể lưu lại trên lưỡi thương chính là lá chắn, che khuất tầm ngắm của hoả mai tên nỏ chờ sẵn đằng sau.

Hồ Xạ chọn một tấm ván làm điểm tựa, tung mình bật lên không trung. Y tiện tay vẩy một cái, liên phát một lúc năm mũi tên sét đánh. Hắn nhắm vào hàng ngũ cung tiễn thủ, một lần đoạt đi luôn năm tính mạng.

Trần Đĩnh cũng không chịu kém. Chọc thủng được thuẫn tường của quân Minh, y lập tức tuốt kiếm chém một chiêu Bóng Trăng Tả Vọng. Kiếm đi tới đâu, người gục xuống đến đó. Lưỡi kiếm nhuộm máu của Đĩnh nay càng thêm đỏ rực.

Binh lính Đại Ngu cứ theo lỗ hổng trên đội hình của địch mà tràn tới. Thế cuộc xoay vần chỉ trong chớp mắt. Quân Minh khi nãy còn dùng chiến thuật giáp lá cà ép cung binh nhà Hồ luống cuống tay chân, thì nay đã phải nếm mùi gậy ông đập lưng ông. Quân Hồ chạy trước thì vung gươm tàn sát, mặc kệ tên bay vèo vèo xung quanh. Lính Đại Ngu theo đằng sau đua nhau cướp súng cướp cung mà bắn ngược lại người Minh.Cung binh của nhà Hồ thì đóng chặn ở các đồi cao sau lưng quân chủ lực, chặn hậu không cho quân Minh khép chặt vòng vây. Kì mưu của quân phương bắc có cả lợi và hại. Lúc Hồ Xạ bắt gặp quân doanh giả, y quá mừng rỡ mà không kịp suy nghĩ chín chắn. Thế nhưng chỉ cần binh tướng nhà Hồ bình tĩnh lại, thì hoàn toàn còn cơ hội phản khách vi chu

Cung binh cứ bắn, bắn và bắn, mặc kệ những ống tên đang dần cạn tới mũi cuối cùng. Dòng máu chảy trong tim nóng bừng lên, cuộn trào sau mỗi câu hò.

Trần Đĩnh là mũi kiếm dẫn đầu, Hồ Xạ công phạt hai cánh không để quân Minh có cơ hội cắt đứt trận thế Đại Ngu. Về phía thuẫn binh bắc quốc thì co cụm lại, hình thành một bức thuẫn thành dày gấp bội phần khi trước.

“ Lên! Có chết cũng không để bọn Nam Man vượt qua! ”

“ Giết! Chém chết bọn giặc! ”

Một bên buộc phải mở đường máu, phía kia không thể không phòng thủ giữ trận, thành ra song phương đều phải liều mạng mà đánh. Trần Đĩnh dẫn quân, máu tươi văng đầy mặt. Cũng chẳng biết máu mình, máu bạn, hay máu kẻ thù nữa. Lần lượt, lần lượt…

Phịch!

Tiếng người ngã xuống, lưng đặt êm ru xuống đất. Những người phía sau thì cứ dẫm cả lên thây đồng bạn mà tràn lên như một lũ thiêu thân xuẩn ngốc. Lạ? Không hề! Trước sau gì họ cũng ngã xuống, rồi thì đồng bạn sẽ lại đạp lên họ mà đi. Xương thịt trở thành gạch lát trên con đường dẫn tới chiến thắng.

Hàng triệu đôi mắt như đang rực đỏ trong đêm, tiếng thét nghẹn ngào hoà dần vào bóng tối mờ mịt, rồi cứ thế ầm vang mãi, cuối cùng đọng lại ở một xó rừng heo hút nào đó.

Tên cắm vào thịt nghe phầm phập, gươm đao chém gãy xương cái rụp. Thứ âm thành dồn dập, những hình ảnh thảm khốc và cả mùi tanh ngòm của máu, khét lẹt của khói. Ấy mới là bộ mặt thật, là bản chất của chiến tranh - mất mát và hi sinh. Nó ẩn đằng sau những chiến công hiển hách, những đoạn hùng ca tráng lệ và thường được người ta tránh nhắc tới như xua đuổi một bệnh hủi. Mặt sau lồi lõm của tấm huy chương khuất vào góc áo, đem cả những mất mát hi sinh theo cùng.

Dần dà, tên của những vị tiên hiền tuẫn quốc dần chìm vào dĩ vãng, bị chôn sâu dưới hàng vạn mét cát vàng lịch sử. Thế hệ sau quên lãng đi, coi sự tự chủ mình đang được hưởng là một lẽ hiển nhiên, thường tình như không khí mà ta thở. Để rồi, bao thế hệ anh hùng đã khuất, đã liều cả máu xương tuổi trẻ và hoài bão cả đời mình để giành lấy, giữ lấy cái tự chủ ấy… không còn được mấy ai nhớ tới.

Tính sơ sơ, cứ mỗi một tá thuẫn binh ngã xuống phải đổi bằng một tá rưỡi tính mạng quân Đại Ngu. Vậy là chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, có ít nhất ba mươi người vợ mất chồng, ba mươi đứa con mất cha, sáu mươi con người phải cám cảnh lá xanh rụng trước là vàng chơ vơ.Đánh! Giờ chỉ có đánh! Đánh cho đến khi nhiệt huyết Lĩnh Nam trong tim cháy tàn cháy lụi mới thôi. Chiến! Trong đầu chỉ nên có một chữ này mà thôi! Chiến cho đến lúc hào khí Đông A chảy mòn dãy Hoàng Liên Sơn thì dừng.

Hồ Xạ lẫn binh tốt cùng hoà chung ý nghĩ này. Nhịp đập của bao con tim hoà cùng tiết tấu rung rung của đất mẹ.

Trần Đĩnh quán đầy nội lực vào đôi tay, vung kiếm. Môn kiếm pháp của hắn mang tên Lục Thuỷ, dựa trên hình ảnh hồ thiêng giữa lòng Long thành mà sáng tạo. Từng chiêu, từng thức như mang hồn của hồ Tả Vọng tới chiến trường. Từ áng mây phản chiếu trên gương nước, làn gió khiến sóng gợi lăn tăn cho tới tia nắng tàn đậu mãi chẳng chịu đi trên đầu con nước đều hoá thành chiêu thức.

Máu tứa ra. Đôi tay Hồ Xạ bật máu tươi khi phải liên tục phát lực phóng tên. Song hắn giờ còn nghĩ gì được nữa? Chỉ có xông tới phía trước mới có đường sống sót.

Thế nhưng, quân Minh đã tranh thủ thời cơ ấy để ổn định lại thế trận, dàn thành hình cánh nhạn ngược. Binh tốt bắc quốc kéo nhau thành hàng ngang, nỏ giương lên cao, kéo sẵn lấy. Cung được căng dây cài tên từ trước. Còn dàn hoả mai đã lên sẵn đạn chuẩn bị khai hoả.

“ Khai hoả! ”

Trương Phụ hét vang, quan đao vung lên sáng choang cả một khoảnh rừng. Đáp lời lão, tên nhọn rời dây lao tới trước chi chít như lá trên rừng, đạn tròn thoát nòng bắn vào địch chẳng khác nào sỏi đáy suối. Quân Hồ lọt vào vùng tập kích, tổn thất thảm trọng ở cả hai cánh. Hồ Xạ hú lên, đạp mạnh vào tấm ván gỗ thuyền nằm chỏng chơ dưới đất khiến nó bật tung lên, xoay tít mù giữa bán không. Nói đoạn, y cong năm ngón tay chộp trúng lấy nó, giơ ngang làm khiên cho cho binh sĩ.

Các binh sĩ phía sau thấy chủ tướng lợi dụng khiên gỗ của địch cũng học theo. Có ván che, thương vong của quân Hồ giảm đi chóng mặt. Lúc này đoàn quân do Trần Đĩnh cầm đầu lại lồng lên như con ngựa mất cương, càn tới chỗ quân Minh.

Quân Minh núng thế lui dần khỏi cái gò, bắt đầu lẩn vào rừng. Vẫn có tiếng tên bay vèo vèo, thuốc súng cháy ầm ĩ, song tâm lí của binh tướng nhà Hồ đã được thả lỏng phần nào. Thế rồi…

Đoàng!!

Chẳng biết ai khởi xướng, nhưng giữa lòng quân Đại Ngu đột nhiên cất cao tiếng rú:

“ Đại pháo!! Chạy mau bay ơi! ”

Hồ Xạ giật mình, ngoái đầu. Chỉ thấy ở trên đỉnh đồi xa xa, từng tốp từng tốp cung binh Đại Ngu đang khổ chiến, lưng quay về phía dàn hoả pháo đang khạc lửa.

“ Không!!! ”

Ầm! Ầm! Ầm!

Hoả pháo giấu trong rừng, như những con quỷ được nguỵ trang bằng cỏ lá dây leo. Chúng thức tỉnh, giờ đang nôn lửa vô tội vạ về phía đỉnh đồi nơi quân Đại Ngu đang tử thủ. Tiếng gào sát rạt của pháo che lấp tiếng hò tiếng rên, rồi bỗng biến thành từng hồi âm thanh khục khặc ma mị, nghe mà rợn gáy.

Đoạn… tiếng pháo dập tắt tiếng người, biến mất.

Hồ Xạ co mình sau tấm ván gỗ, thứ hãy còn đang rung lên bần bật vì bị tên găm vào, đạn sượt qua. Ánh nhìn của hắn bị ghim chặt vào đỉnh đồi mù bụi. Hư ảo thay. Ánh trăng xuyên thấu dăm bóng người đen đen hiện lên trong lớp đất bụi li ti, lả tả. Thốt nhiên, một cơn gió thoảng qua, xoá đi những bóng hình, cuốn bụi mờ về trời tây, về nơi ngọn núi thánh Tản Viên đứng sừng sững oai nghiêm.

Chương 38: Hồi tám (10)

Lại kể chuyện của Tạng Cẩu và Phiêu Hương…

Trong khoảnh sân trống trải, Tạng Cẩu gom một đống lá to lại rồi đốt lên. Lửa bắt đầm đượm hồng, khiến đôi má hai đứa trẻ đỏ hồng lên. Muộn than tí tách reo vui.

Trời đã tối sập xuống…

Tạng Cẩu móc được mấy củ khoai trong cái bọc Quận Gió để lại, với vài miếng cơm nắm. Nó xiên que rồi cắm luôn khoai vào gần lửa nướng, còn cơm nắm thì tính để đến sáng mai nếu Quận còn chưa quay lại thì hãy còn cái lót dạ trong lúc tìm đồ ăn. Phiêu Hương ngồi bên, hai tay chống má quan sát đống lửa. Ánh lửa hồng sáng lên trong đôi mắt đen láy của cô bé, đẹp khôn tả.

“ Nè, đằng ấy thấy ông sư cọ kia ra sao? ”

Phiêu Hương lấy một cành cây dài, chọc chọc vào trở đống lá lên cho đượm lửa, lại hỏi.

“ Ông í cũng được mà. Võ công chẳng thua gì sư phụ, song không ỷ thế cậy tài mà cường đoạt bảo đao của Hương, đúng chứ? ”

Bất giác, từ phía hậu điện vang lên tiếng nói của Khiếu Hoá Tăng:

“ Thần binh chọn chủ, chứ không phải ngược lại. Dùng võ lực cướp đoạt là sỉ nhục lăng mạ chúng nó. Lão sư ăn xin này có chết cũng không làm đâu!! ”

Phiêu Hương nhún vai:

“ Ông này nghiện binh khí hết thuốc chữa luôn rồi. Chắc hoạ có Tuệ Tĩnh thiền sư mới trị nổi cái bệnh này… ”

“ Không trị! Dứt khoát không cho trị!! Thiền sư mà muốn chữa bệnh yêu binh khí của lão đây là lão liều mạng… ”

Đến nước này thì cả Tạng Cẩu lẫn Phiêu Hương đều không nhịn được nữa, cười bò lăn ngã ngửa ra đất. Chúng nó tự hỏi không biết năm vị còn lại trong bảy tông sư ra sao, liệu có vừa cổ quái kì quặc lại vừa dễ gần mộc mạc như hai người chúng từng gặp hay không. Kẹttt! Chỉ biết là lão sư ăn mày vừa mới đẩy cánh cổng dẫn thông tới hậu viện vốn là nơi sư ở ra, lò dò tới chỗ hai đứa bọn nó.

Mùi thơm lừng của khoai nướng bay khắp trời đêm.

Hai đứa nhỏ rút xiên khoai khỏi đống lửa, vừa dùng lá khô kì bớt tro ngòi vỏ vừa thổi phù phù cho nguội bớt. Vỏ trượt xuống theo ngón tay hai đứa, lộ ra giữa lớp khói mờ bung toả là từng lớp từng lớp thịt khoai vàng ươm. Hai ngôi sao sáng rỡ hân hoan như phản chiếu ánh lửa. Khiếu Hoá Tăng thì ngồi thu lu một góc, giở oản với cơm nắm mang theo ra ăn.

Tạng Cẩu vừa ăn, vừa để ý thấy Khiếu Hoá Tăng hở chút là ngoái đầu nhìn chúng nó, hay đúng hơn là bảo đao Lĩnh Nam gác bên người Phiêu Hương. Nó bất giác nhớ đến chuyện “ ăn tiếng chả, trả tiếng tiền ” mà ông trưởng làng vẫn hay kể, cảm thấy Khiếu Hoá Tăng không khác gì người thanh niên nghèo trong truyện. Thấy cũng tội ông, lại nghĩ ông cũng có ý tốt muốn thần binh lợi khí nước nhà lưu danh muôn đời mà thôi.

“ Này, hay Hương nể tớ một tí, cho Khiếu Hoá Tăng mượn đao đi. Thấy tội nghiệp ông ấy quá. ”

Phiêu Hương nhún nhẹ vai, đáp:

“ Cũng được. Cẩu cứ đánh thắng được tớ thì tớ sẵn sàng hai tay dâng đao lên cho mượn, lúc ấy đằng ấy muốn cho ai xem thì cho. ”

Tạng Cẩu gãi gãi gáy, bối rối:

“ Tớ đánh không lại, đổi điều kiện khác được không? Chơi chuyền, ô ăn quan, đánh khăng đánh đáo gì cũng được… ”

“ Đừng có mơ mà mặc cả. Đấy, điều kiện của tớ chỉ có một, Cẩu xoay sao thì xoay! ”

Phiêu Hương le lưỡi trêu, rồi quay lại tiếp tục xử lí củ khoai. Tạng Cẩu nghe mà chỉ biết nghệt mặt ra…

Bất ngờ, Khiếu Hoá Tăng chợt lên tiếng:

“ Chẳng qua nó nhận chân truyền của Quận Gió, nên mới đánh không lại cô nhóc thôi. Nếu như lão đây ra tay, lại thêm tư chất của thằng nhãi này, chỉ cần một đêm là đủ! Lúc ấy đừng có hối hận! Sáng mai gặp lại! ”

Khiếu Hoá Tăng đứng phắt dậy, tóm áo Tạng Cẩu lôi nó dậy. Đang gấp nên ông vận dụng khinh công nhảy một cái gần mười mét. Chân trái ông lại nhấn lên bờ tường tạo đà. Thể hình ông vốn to béo, lại xách theo một thằng nhỏ nhưng vẫn nhẹ nhàng lộn mèo một cái ra sân sau, đến cổng cũng không buồn mở.

Phiêu Hương đứng dậy, phủi áo phủi quần cho sạch bụi, cười thầm:

“ Xem như tớ trả ơn cứu mạng cho đằng ấy, học được bao nhiêu phụ thuộc cả vào Cẩu rồi. Aizz. Lại còn ơn của cái tên đáng ghét kia nữa. Bác Nguyên Trừng nói chẳng sai tí nào, nợ ân tình của người ta là khó trả nhất. ”

Nói đoạn, cô bé cắp đao chui tót vào trong điện, chọn một chỗ sạch bụi và ấm áp mà ngủ.

Sân sau của chính điện được vây lại bởi ba gian nhà gỗ đơn sơ, trước khi miếu bị bỏ hoang thì vốn là chỗ sư ở. Sân lát gạch vuông, chính giữa có giếng nước và một cây xoài. Góc sân có bụi chuối tiêu còn non.

Khiếu Hoá Tăng để Tạng Cẩu ngồi tựa lưng vào thành giếng, hai bàn tay xoa xoa vào nhau, nói:

“ Nhóc nghe nè, hôm nay lão ăn mày sẽ phá lệ dạ… ”

“ Không học!! ”

Tạng Cẩu đột nhiên khoanh tay lại, mặt quay phắt đi chỗ khác.

Ông sư già giật mình, mấy ngón tay gãi gãi cái đầu trọc lốc. Lão chẳng thể hiểu nổi vì lí do gì mà thằng bé này lại đột nhiên thay đổi thái độ như thế.

“ Này, nhóc đừng có hối hận đó nha. Không biết bao nhiêu người muốn lão ăn mày này dạy cho một câu nửa chữ mà còn không được đâu đó. ”
“ Không thèm! ”

Tạng Cẩu sẵng giọng, đoạn nó đứng phắt dậy, toan bỏ ra ngoài.

Khiếu Hoá Tăng thấy thằng nhóc này lại phản ứng dữ dội hơn, biết mình lỡ lời nói gì đó sai bèn vội vàng tóm áo giữ nó lại. Lão bèn đổi giọng:

“ Lão sư cọ già khọm rồi, nói năng lẩm cẩm. Con đừng có trách ông. Coi như phỉ phui cái mồm ông đi vậy. ”

Tạng Cẩu đóng chặt môi không nói một chữ, không rằng không đáp, cũng chẳng gật lắc. Thực sự nó đang muốn xả cả bầu tức giận lên Khiếu Hoá Tăng, song dẫu sao người ta cũng là người trên, lại có thâm giao với sư phụ. Vừa không vô lễ thái qus, lại vừa tỏ thái độ không hợp tác thì có lẽ cách duy nhất là giả điếc.

Khiếu Hoá Tăng bổi hổi bồi hồi, lượn qua lượn lại quanh giếng như con cá bảy màu. Lão không muốn cơ hội mượn đao vọt khỏi tầm tay một tí nào hết. Ông sư già nghĩ ngợi một chặp, mới vỗ trán cái đét một cái.

“ À! Ra con hãy còn để bụng ông cái chuyện ông nói ngoài kia ấy hả? Rồi rồi, tại ông không giải thích rõ ràng, phân bua rạch ròi… Con nghĩ ông ba hoa chích choè, chê thầy của con cũng là điều dễ hiểu. Ngồi đây đợi ông một chút. ”

Khiếu Hoá Tăng tất tả chạy vào một gian trai phòng, trông dáng đi của lão đủng đà đủng đỉnh mà tốc độ nhanh hệt như gió giật.

Tạng Cẩu ở ngoài, tính tò mò trẻ con lại hơi trỗi dậy, bèn dỏng tai lên nghe.

Lịch kịch, ầm ầm, chít chít một hồi, một đàn chuột lông xám rám vàng, có lớn có nhỏ hớt hải túa ra giữa sân, thấy có hơi người bèn bỏ chạy tiếp. Đám này là chuột đồng, lành tính.

Khiếu Hoá Tăng chen cửa theo sau, cả người toàn là bụi bặm. Chỗ vầng trán trọc lốc còn bám một đống mạng nhện. Lão thấy rõ vẻ ngơ ngác của Tạng Cẩu bèn cười sềnh sệch:

“ Hề hề, gấp quá vào nhầm gian. Chờ ông chút nữa. ”

Chỉ đợi Tạng Cẩu gật đầu trong vô thức một cái là lão đã xông vào một gian phòng khác, tốc độ còn nhanh hơn lúc trước ba phần.

“ Quái! Rõ ràng để ở đây mà? Hay nhầm phòng lần nữa? ”

Thế rồi, những tiếng động nặng nề tiếp tục vang lên trong gian nhà gỗ mộc mạc. Tạng Cẩu cố gắng mường tượng bằng cái đầu nhỏ bé của nó thứ mà Khiếu Hoá Tăng đang hộc tốc lùng sục trong căn phòng ấy, song bất lực.

Thời gian uống hết chung trà hạt mít, lão Khiếu Hoá tất tả đi ra. Thấy nó đang nhìn, ông tiếp tục cười bối rối:

“ Ngại quá, hình như lại nhớ nhầm. Phòng kia mới đúng. ”

Mọi thứ diễn ra y xì ở gian nhà thứ ba. Tiếng động rầm rầm vang lên, chuột gián tháo chạy lổm ngổm khắp sân, rồi Khiếu Hoá Tăng lại xuất hiện. Toàn thân ông bê bết bụi và mồ hôi, mạng nhịn vít kín cả trán. Ông cười toe toét giải thích, sau lại lộn trở vào gian đầu tiên lục lọi.

Tạng Cẩu dõi theo từng bước chân của ông, ngơ ngác. Nó đã vơ đại được một cành xoài để đuổi gián đập chuột rồi, lại đang ngồi vắt vẻo trên thành giếng nên không sợ mấy con vật hại ấy nhào tới cắn hay chui vào nếp áo gấu quần.

Độ một khắc sau, Khiếu Hoá Tăng tí tởn chạy ra ngoài, hai bàn tay khum khum giữ một vật. Tạng Cẩu nheo mắt nhìn.

A! Nó lạ gì thứ này nữa? Một viên bi sắt, khắc hình mặt quỷ, chẳng phải Quỷ Diện Phi Châu của thầy nó là gì?
Tạng Cẩu lại thấy kì quặc, vật này thì có liên quan gì tới chuyện giữa Khiếu Hoá Tăng, nó, Phiêu Hương và đao Lĩnh Nam kia chứ?

Khiếu Hoá Tăng ngồi đánh phịch xuống đất, đối diện nó. Ông để Quỷ Diện Phi Châu giữa lòng bàn tan, nhìn nó tủm tỉm:

“ Thế nào nhóc Chó, nhóc đã thử cầm thứ này trên tay bao giờ chưa? ”

“ Chưa? Nhưng… việc đó thì… ”

Tạng Cẩu càng thấy khó hiểu. Lão sư ăn mày này đột nhiên thần thần bí bí, còn khó lường hơn con mụ Lường trong truyện cổ tích cùng tên.

Khiếu Hoá Tăng không đáp, chỉ đưa viên bi đến gần sát nó, nói:

“ Cầm thử xem. ”

[ Trông thứ này bé tẹo, nặng lắm cũng chỉ ba bốn cân. Mình cố hết sức thể nào cũng cầm được cho mà xem. ]

Tạng Cẩu nghĩ thế, bèn cẩn thận vận công, đón lấy Quỷ Diện Phi Châu từ tay Khiếu Hoá Tăng. Viên bi sắt đen thui, ngoại trừ hình mặt quỷ ra trông chẳng có gì đặc biệt rơi lên lòng bàn tay của nó.

Ầm!

Sức nặng đột ngột ập tới, kéo sụp cả tay nó khiến nó ngã dúi dụi. Cằm Tạng Cẩu va trúng sân gạch, xước một miếng lớn, máu toé cả ra.

Khiếu Hoá Tăng thấy nó bị thương, bèn chạy ngay tới bụi chuối tiêu. Ông cầm chắc thân cây bằng một tay, sau đó lắc mạnh một cái. Nói đoạn, cây chuối non bị nhổ bật cả gốc lẫn rễ lên, làm đất bắn tung toé.

Tạng Cẩu trông thấy cảnh này, kinh ngạc quên cả đau đớn ở cằm. Nó chỉ biết ngơ ngác nhìn Khiếu Hoá Tăng dùng song chưởng phanh đôi cả thân chuối, lấy lõi rồi đặt ngay ngắn lên mặt đất. Nói đoạn, ông dùng hai quả đấm nện nhuyễn lõi chuối ra, chẳng cần chày cối gì hết.

Lão rịt lõi chuối vào cằm nó, lấy vải băng lại cẩn thận, rồi nói:

“ Ừm, thế là ổn rồi. Nhóc mà có mệnh hệ gì, tên đại bợm không đánh lão ăn mày một chầu mới là lạ. ”

Tạng Cẩu gắng gượng nâng Quỷ Diện Phi Châu lên, trong lòng vừa cảm thán sức nặng của nó, lại vừa nghĩ đi nghĩ lại những gì Khiếu Hoá Tăng nói. Như ngộ ra điều gì, nó bèn cất tiếng:

“ Ý của ông là thầy không dạy con bắn Quỷ Diện Phi Châu do nội lực con còn chưa đủ thâm hậu, cần chuyên tâm luyện tập? ”

“ Đúng một phần thôi, đôi lúc cũng chả biết nói nhóc ngố hay khôn nữa. ”

Nói rồi, Khiếu Hoá Tăng ôn tồn giải thích cả ba nguyên nhân Quận Gió không vội truyền thủ pháp phát xạ phi châu cho Tạng Cẩu.

Thứ nhất, đúng như Tạng Cẩu nói, nội lực nó còn quá non yếu. Muốn nâng phi châu còn khó, huống chi là phóng nó đi như bắn hòn sỏi.

Cũng không phải là không thể dùng sỏi đá, bi gỗ để thay thế. Nhưng Quận vốn là một tay đạo chích, tất nhiên cách dạy dỗ đồ đệ duy nhất của ông cũng rất khác người thường. Người ta thì vừa bắt đầu đã dạy luôn quyền chiêu cước thức, đệ tử chỉ học được hai ba phần cũng đủ để tự vệ. Quận Gió thì trái lại, dạy khinh công thăn pháp mà không truyền thụ cách phóng phi châu. Lão muốn thằng nhỏ hoàn toàn không có chiến lực đáng nói, ép nó mỗi khi đụng chuyện đều phải dùng Lăng Không Đạp Vân tháo chạy, mãi đến khi thành thục nhuần nhuyễn mới thôi.

“ Thứ nhì, ấy là hai chữ hoả hầu, nói trắng ra là khả năng vận dụng chiêu số. Nhóc đừng thấy võ công của mình chỉ là thứ phổ thông, tầm thường mà nản. Thực tế, nhóc Chó thua con nhãi kia không phải vì võ công không tinh diệu bằng, mà là khả năng vận dụng chiêu số của nhóc không lại nó.

Trước đây từng có một kiếm khách cả đời luyện đúng một chiêu tối cơ bản của môn phái. Một ngày y vung kiếm sử chiêu ấy một ngàn lần, chẳng quản hôm nắng ngày mưa kiên trì suốt mười tám năm không ngừng nghỉ. Cuối cùng, chiêu duy nhất ấy của y đã đạt tới thần sầu, thiên hạ không ai đỡ nổi.

Nếu đối thủ không cản được đòn thứ nhất, thì cần gì đến nhát thứ hai? Võ công cũng vậy. Nhóc có dùng cho nhiều tuyệt chiêu của các phái cũng chỉ là màu mè hoa lá, quan trọng là hạ được đối thủ.

Nhóc Chó có tài nhìn qua là nhớ, lĩnh hội võ công nhanh tới nỗi cả ta lẫn Quận Gió đều thẹn không bằng. Thế nhưng, dục tốc bất đạt, nhanh mà chỉ loáng thoáng đại khái, không chuyên sâu để cơ thể lĩnh ngộ được cái tinh tuý, cái hồn cái ý của chiêu thức thì cũng vứt!

Lí do thứ ba cũng từ ấy mà ra. Nhóc ỷ mình học nhanh, nên cả ngày chỉ luyện nội công, bỏ bê không thèm diễn luyện lại chiêu thức cơ bản. Phải biết, người học võ như cái cây. Bộ rễ có vững chắc, cây mới cao mới khoẻ. ”

Khiếu Hoá Tăng giảng liền một tràng, Tạng Cẩu nghe mà chỉ biết cúi gằm mặt im lặng. Chỉ quan sát nó thi triển khinh công một lần, kết hợp thêm mấy câu khoe đồ đệ của Quận mà lão sư ăn mày nói trúng ngay được tim đen của nó.

Vậy mới biết, ông sư nghiện binh khí này không phải tự nhiên hay ăn may mà được tôn làm tông sư võ học nước Nam.

Khiếu Hoá Tăng lại tiếp:

“ Nhưng thôi, ngày mai phải đấu với con nhãi kia rồi, dạy từ từ cho nhóc e là không kịp. Thôi, phá lệ bỏ gốc lấy ngọn, nay ta truyền cho nhóc một bộ quyền pháp nước Nam. Lĩnh hội được bao nhiêu hay bấy nhiêu. ”

Tạng Cẩu nghe ông nói xong, đầu gật lia lịa như trống bỏi. Nhưng, sau khi nghe ông nói tên môn võ, nó lại té ngửa vì nghĩ tai mình bị làm sao.

Khiếu Hoá Tăng thủ thế, nói:

“ Nhìn cho kỹ một trong ngũ hình quyền nước Đại Việt ta, võ chó! ”

Chương 39: Thuận Thiên Kiếm tiền truyện - Hồi một (3)

Bên bờ hồ Tây, dưới gốc cây si cổ thụ nơi bà hàng nước mở quán ban sáng, bốn đệ tử sơn trang Bách Điểu đã có mặt chờ nhóm Hồ Xạ từ trước. Giờ hẹn đã gần đến, nhưng ba người Lục Bình hãy còn say sưa trong tiếng nhạc, nhác thấy e là không đến kịp.

Bốn tên này, thì có một bộ ba anh em ruột. Chúng hợp xưng là Hùng Kê Tam Kiệt của sơn trang Bách Điểu, xét về bối phận thì ở hàng thứ ba, dưới trang chủ và bốn Tinh – tức bốn phó trang chủ: Tinh Gà Trắng, Tinh Đại Bàng, Tinh Quạ Đen, Tinh Phượng Hoàng.

Trong ba tên, lớn nhất là Kim Kê Trần Gia Lễ, thứ hai là Ngân Kê Trần Gia Nghĩa, ba là Đồng Kê Trần Gia Tín. Đúng như những gì Phạm Lục Bình e ngại, Hùng Kê Tam Kiệt chủ yếu luyện ngón hợp kích thuật của võ gà.

Gã còn lại thì là đệ tử của Đại Bàng Tinh, Lí Trường Thọ. Nhưng dân giang hồ hay gọi hắn là Thọ cú.

“ Xem ra là chạy rồi. ”

Ngân Kê cười khảy, khinh công một cú từ trên tàng cây xuống. Trong ba người Hùng Kê Tam Kiệt, khinh công của hắn là cao cường nhất.

Kim Kê Gia Lễ – cũng là anh lớn trong chuyến này – lên tiếng:

“ Sơn trang Bách Điểu bọn ta võ công cao cường nổi danh khắp cả một phủ Thiên Trường, ai mà lại không sợ? Bọn chúng chạy cũng chẳng có gì lạ. ”

Đồng Kê đáp lời ngay:

“ Ai dám đối đầu với Hùng Kê Tam Kiệt ta kia chứ? Trừ phi chúng bị điên, hoặc ngu si bẩm sinh, bằng không thì sao lại đến đây? ”

Chỉ có Lí Trường Thọ là khoanh tay, làm như không nghe thấy ba con gà khoác lác.

[ Đối phương là chủ nhân của Thư Hùng kiếm, ắt phải có liên hệ gì đó với Điện Suý thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão năm xưa. Trên giang hồ này, trang chủ ta ai cũng chọc được, chỉ không dám động vào hậu duệ của anh hùng cứu quốc. Ba tên này xem ra phải thảm.

Song đám người Bách Điểu Sơn Trang ta mới đến kinh kì mà đã co vòi rút cổ thì về sau làm chuyện gì cũng khó. Lát nữa tìm cách hoà giải là được. ]

Thùng! Thùng! Thùng!

Trống canh vang lên, văng vẳng cả một xóm. Vậy là đã qua một canh nữa. Mấy thuyền lâu neo trên Tây Hồ cũng bắt đầu xuống đèn. Đám công tử con quan lại theo thuyền nhỏ về bến, hồi phủ. Im ắng lạ. Dòng người vãn dần. Chỉ có mấy con chó thi thoảng lại sủa ma.

Bốn tên đệ tử của sơn trang Bách Điểu chờ mãi, đâm chán. Kim Kê gắt:

“ Hừ! Anh em mau quay về, mai chúng ta quay lại lấy bạc! Trong đám kia có một thằng dùng quái kiếm hai đầu, một trắng một đen. Vũ khí kì lạ như thế, muốn tìm không khó đâu! ”

Hai con gà còn lại cũng cho lời ấy là phải, bèn lục tục muốn về nhà trọ đánh một giấc. Đúng lúc này thì Lí Trường Thọ lên tiếng.

“ Có người! ”

Cả đám nhìn về hướng Thọ Cú chỉ. Quả nhiên, một con thuyền con vừa mới đụng mũi vào bờ hồ nghe thịch một cái. Liền ấy có tiếng hài dẫm lên cỏ, nhẹ và êm lắm.

“ Cảm ơn bác Hộ đưa con về, bác cũng về ngủ đi. Canh ba đến nơi rồi chứ sớm sủa gì nữa đâu. ”

“ Tiện đường thôi. Tôi còn phải tát nốt mẻ cá nữa cho kịp phiên chợ sáng. Cô Xuân quan tâm là quý hoá lắm rồi. Đàn bà con gái, đi đêm về hôm nhớ phải cẩn thận. ”
Giọng đầu tiên chắc chắn là giọng nữ, trong trẻo và thanh ngọt như hương sen vậy. Ba con gà chưa nghe mà đã ngất ngây, tự nhủ không biết nếu người có chất giọng ấy mà cất tiếng ca lên thì còn hay đến cỡ nào nữa. Không khéo nghe được ba câu là xương cốt cả lũ rụng rời. Giọng thứ hai rắn và khoẻ, là giọng đàn ông. Cứ như cách xưng hô của hai bên thì y cũng phải tứ tuần trở lên.

“ Bác cứ khéo lo, thành nội kinh kì chứ có phải là rừng hoang núi vắng đâu mà sợ? Hoàng thành cách đây có mấy bước chân. Trộm cướp có hành nghề thì cũng biết mà tránh cái chỗ này ra chứ. ”

“ Cẩn thận vẫn là hơn cô ạ. Chỗ này xa, không có hàng xóm tắt đèn tối lửa. Thôi tôi đi kẻo lỡ. “

Kim Kê nghe rõ tiếng mái chèo khua nước, chắc mẩm người chài lưới đã đi khỏi bèn ra dấu cả đám thò mặt ra. Bình bịch. Ba tên đàn ông lực lưỡng nhảy phốc từ trên tàng cây si xuống, khiến cô thiếu nữ giạt mình đánh rơi cả cái đèn chưa kịp thắp.

Đêm nay trăng không sáng lắm, nhưng cặp mắt người học võ bao giờ cũng tinh tường hơn người thường. Ba con gà lại phục ở đây từ canh hai, cặp mắt đã kịp điều tiết nên càng nhìn rõ hơn. Ngân Kê tập trung ánh mắt, nhìn kỹ người thiếu nữ đang ngã sõng soài trên đất.

Thật khó mà diễn tả vẻ đẹp của nàng ta bằng lời văn thô lậu. Đại thi hào Nguyễn Du từng tả nàng Vân bằng bốn câu:

“ Vân xem trang trọng khác vời

Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang

Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da ”

Thuý Vân đẹp mười, thì nàng Xuân cũng phải chín. Lúc này nàng ta đang vận một bộ áo tứ thân, trong lót bảy lớp vải lụa. Loại áo này dân gian ta gọi là áo mớ ba – mớ bảy. Ngày trước các cô thiếu nữ, đặc biệt là thiếu nữ Kinh Bắc, thường mặc kiểu trang phục này đi trảy hội.

“ Đẹp! Đẹp lắm các anh ạ! ”

Ngân Kê chép chép miệng, liếm môi cho dãi không chảy xuống. Nhờ ánh trăng mờ mờ, màu váy lụa ẩn hiện dưới cánh áo nâu nhấp nháy lúc hiện lúc tắt, như phủ lên nàng Xuân một vầng huỳnh quang. Ba con gà đã say như điếu đổ rồi.“ Chờ chút! Con này là ả đào con hát thì cũng thôi, nhưng mà vớ phải tiểu thư nhà nào đi chơi xuân là rách việc đấy. ”

Thọ Cú vội lên tiếng can, sợ ba tên này nghĩ bằng cái chân giữa thì lại hỏng hết việc.

Phải biết đất Đại Việt rất khác Trung Hoa. Thời phong kiến, do kết cấu làng xã với hệ thống tôn ti chặt chẽ, quy chuẩn đạo đức và thuần phong mỹ tục nghiêm ngặt, nên mại dâm ở Việt Nam dường như không chính thức tồn tại. Các bộ luật Việt Nam thời phong kiến đều không thấy nhắc đến vấn đề này. Tất nhiên, vẫn có một bộ phận làm chui dưới dạng cô đầu, ả đào hát. Họ được gọi là đào rượu, hay hoa nương, hoa mại nương, gái bán hoa.

Thọ Cú e rằng ba tên kia xem cô gái là đào rượu hay gái bán hoa, hành xử theo bản năng thì chết dở. Gì chứ cái loại cưỡng hiếp con gái nhà lành khéo bị dân làng vây đánh. Mỗi người một cái đòn gánh cứ thế nện thì dù biết võ công cũng phải chết. Huống hồ cô gái này ăn mặc rất sang. Không khéo là con của địa chủ phú hộ nào đấy.

“ Sợ chó gì? Dăm thằng phú hộ chả sợ trang chủ mình một phép đấy à? ”

Đồng Kê lên tiếng, trong khi Kim Kê nhảy phốc tới điểm luôn mấy huyệt đạo của nàng Xuân khiến nàng không cục cựa gì được.

Thấy ba tên này đã nổi máu hiếu sắc, nhưng Lí Trường Thọ vẫn phải cắn răng mà can:

“ Triều đình mà nhúng tay vào thì khó lòng yên thân. Việc lớn không thành, trang chủ trách tội xuống thì tôi với mấy anh khó gánh nổi. Đây lại không phải phủ Thiên Trường, trên đầu còn có thánh thượng với bá quan. Vuốt mặt cũng nên nể mũi, đừng có quá phận. Trang chủ ta võ công xét da chỉ thua mấy vị tông sư, nhưng vua mà phái thiên quân vạn mã tới thì sơn trang Bách Điểu chỉ có nước bị san phẳng. ”

Hùng Kê Tam Kiệt cũng không phải mấy tên ngốc. Nghe Thọ Cú nói thấy cũng có lí, bèn giải huyệt đạo cho nàng Xuân. Vì các huyệt này ở vùng xương quai, bụng nên khó tránh khỏi có mấy động tác không đẹp.

Nàng Xuân bị đối phương dùng hai ngón tay rờ rờ nắn nắn, uất mà không nói gì được vì đã bị điểm huyệt câm. Nước mắt nàng chảy chan hoà, nhục không biết cất đâu cho hết. Cũng may đêm vắng trăng thanh, bà con chòm xóm chẳng ai nhìn, không thì đến đào hố chui xuống đất.

Vút!

Bỗng nhiên, một mũi tên từ đâu bay tới, nhắm thẳng vào đầu Đồng Kê. Y đang loay hoay giải huyệt cho nàng Xuân, không chú ý tới xung quanh. Lúc ngẩng đầu thì mũi tên đã bay tới sát mặt, chỉ cách trán y chừng gang tay thôi.

Rắc!

May phúc cho y là Kim Kê kịp ra tay. Y luồn tay xuống dưới thân tên, vận lực phát chưởng đẩy một cái. Nhờ thế đầu mũi tên bị chếch lên cao, xẹt ngang mái tóc của Đồng Kê. Chứ nếu không chắc chắn nó phải bắn thủng trán của Đồng Kê.

Gia Tín – Đồng Kê – thoát chết trong gang tấc, lập tức nhảy ra sau thủ thế, miệng thì quát oang oang:

“ Thằng nào dám đánh lén ông?! ”

Thì ở đằng xa, vang lên ngay tiếng cười giễu cợt:

“ Ai da, đêm trăng thanh gió mát, có ba con gà chưa bị luộc làm giỗ Tết xổng chuồng đi áp bức một con se sẻ. Thế nên mới ra tay bắn một con định nhắm rượu, có ngờ đâu run tay bắn chệch mất. ”

Hùng Kê Tam Kiệt cùng cười khẩy, nói:

“ Tưởng ai, hoá ra là cái lũ thỏ đế sợ chiến đấy à? Bây giờ là canh mấy hả? ”

Chương 40: Hồi chín (1)

Chiến tàn, anh hồn lai địa phủ

Vong Xuyên, bèo con cưỡi sóng cồn

Liễu Thăng y theo bản đồ của Quận, ruổi ngựa đi suốt một ngày trời. Đến đâu cũng gặp cảnh xóm thôn trơ trọi quạnh hiu, làng mạc tiêu điều xơ xác mà cậu chột dạ.

Liễu Tử Tiêm chợt ý thức được những gì mà thường dân hai nước phải trải qua một khi chiến tranh nổ ra. Chiến tranh, chiến hoả, đấu tướng, đấu mưu, chiến công hiển hách…v.v… tất cả những mĩ từ ấy chợt được tóm lại thành hai chữ “ bi ai ”, giống như cái thây ngoài sa trường gói trong tấm da ngựa.

[ Anh hùng… trước đây mình cứ nghĩ Quan Vũ, Tiết Nhân Quý…v.v… là những bậc anh hùng. Thế nhưng, ném thường dân vào vạc lửa là điều mà anh hùng làm ư? ]

Liễu Thăng thấy lòng rối như ai vò. Những gì cậu biết, cậu tin từ đó đến giờ như bị khung cảnh thảm thương trước mắt đập tan tành.

Có xuôi nam, cậu mới biết những người cậu vẫn cho là man di ấy cũng đáng yêu, đáng quý, đáng tôn trọng và khâm phục. Tạng Cẩu là một, Quận Gió cũng vậy.

Tâm phiền, ý loạn, Liễu Thăng cứ cho ngựa chậm rãi dộng vó lên mặt đường sỏi đá. Lộc cộc, lộc cộc. Liễu Thăng căng tai lên nghe, nghe kỹ lắm cũng chỉ bắt được tiếng vó ngựa vẳng lại từ xa thôi. Im lặng quá. Cái im lặng của cái chết chùm lên thôn xóm. Chẳng còn ai ở lại cả, hoặc đã chạy nạn, hoặc là đã chết nơi đầu đường xó chợ nào rồi. Những gian phòng trống vắng, khoảnh sân trước đìu hiu như in vào lòng cậu. Cái vắng vẻ của không gian phản chiếu thành cái trống rỗng của nhân tâm.

Liễu Thăng bắt đầu tự hỏi cái gì là đúng, là sai. Cậu bỗng dưng thấy muộn phiền quá. Một thứ tư tưởng mới chợt nhú lên trong lòng. Nó xung đột trực tiếp với niềm tin Đại Hán đã thâm căn cố đế trong cậu. Lần đầu tiên cậu tự hỏi lòng, nhân dân hai nước có gì khác nhau? Nguyên nhân là do đâu mà người Hán là thượng đẳng, còn các tộc khác chỉ đáng xếp sau, thậm chí bị miệt thị là man di mọi rợ suốt chừng đó năm ròng.

Không ai trả lời cả…

Chỉ có con ngựa thỉnh thoảng hí lên mấy tiếng. Thanh âm dội vào tai Liễu Thăng, xa gần gần xa.

Con ngựa bị Liễu Thăng thả cương, cứ đủng đỉnh đi. Có lúc nó xà vào bụi tre gặm mấy nhánh cỏ, cậu cũng chả buồn giật cương. Liễu Thăng lấy làm lạ. Tre nhiều quá. Chốn nào cũng có. Không như ở phương bắc tre mọc thành bụi, thành rừng. Ở chốn trời Nam này, tre mọc thành từng luỹ như tường thành vậy. Làng nào cũng có luỹ tre, xanh mát quanh năm.

Rì rào tiếng lá tre xô nhau, như đàn như hát.

Liễu Thăng bẻ lấy một cành tre đường kính cỡ hai ngón tay, vung thử mấy nhát. Thứ tre ngà xạm vàng vì lửa từ ngựa sắt Phù Đổng chắc và thẳng thớm, từng đốt dãn nhau đều tăm tắp. Cây thương nặng Liễu Thăng đã để lại doanh trại, bèn lấy luôn cây gậy tre này phòng thân.

Giữa đường, cậu ghìm ngựa lại buộc vào một hàng rào, sau đó xuống ngồi nghỉ dưới dàn bầu. Liễu Thăng thử luyện mấy chiêu bổng Bạch Đằng Giang, song chỉ được một lúc lại phải thôi.

Khi dậm mạnh chân xuống, một lực phản chấn tương đương được sinh ra. Ấy là nguyên lí cơ bản của Lôi Bộ - bộ pháp căn bản của Bạch Đằng Giang. Người luyện Lôi Bộ sẽ lợi dụng các bó cơ ở đùi, hông, vai để dẫn chấn lực này lên cánh tay hoặc cổ tay, từ đó tăng mạnh lực tấn công. Trong võ thuật hiện đại, Bát Cực quyền – quyền pháp được mệnh danh là băng hám đột quyết – cũng sử dụng bộ pháp tương tự.

Bạch Đằng Giang là bổng pháp mà các chiêu đều được đánh hất từ dưới lên, thành ra kình lực không thể hàm hậu bằng những loại bổng pháp vụt dọc, phạt ngang thông thường. Lôi Bộ là một cách để đền bù lại yếu thế về lực đánh của Bạch Đằng Giang. Liễu Thăng muốn luyện bổng, thế nhưng chân trái cậu vẫn chưa lành hẳn, thành thử cũng có phần lực bất tòng tâm.Sắc trời muộn dần, mặt trời đậu lên ngọn tre, đỏ ửng lên một lần cuối cùng trước khi tắt hẳn. Nhác thấy tà dương đã muốn lặn, Liễu Thăng trèo lên mình ngựa, thúc cương…

Con ngựa chồm lên, lao vụt tới theo hướng ghi trên tấm bản đồ mà Quận Gió đã trao cho Liễu Thăng. Cậu cứ ra roi chạy, không hề biết rằng có mấy bóng người đang âm thầm bám theo mình. Chúng lẩn khuất giữa trong các xó tối, lặng lẽ trườn qua từng mảng bóng đen mà mái nhà tán cây dội xuống nền đất…

Quay trở lại với Khiếu Hoá Tăng và Tạng Cẩu. Ông sư ăn xin chậm rãi nâng cánh tay lên, thủ thế. Tay phải thu thành quyền, động tác khá là tiêu chuẩn. Nhưng hình dáng tay trái lại kì quặc. Năm ngón tay ông cong lại như hổ trảo của hổ hình quyền. Song khác với hổ trảo của võ Thiếu Lâm, các ngón tay trừ ngón cái lại đặt sát nhau.

Ông từ từ giương thẳng cánh tay phải, đầu nắm đấm dựa sát vào lớp vỏ cây sần sùi. Hông Khiếu Hoá Tăng trầm xuống thế trung bình tấn.

“ Đừng vì võ này phỏng theo hình con chó mà coi thường. Có thể nó không có danh xưng mĩ miều, cũng thiếu hẳn cái vẻ oai vệ hùng dũng như võ hổ, võ rồng của người Tàu. Song… một môn võ thắng ở tính thực chiến, chứ không phải cái mã bên ngoài.

Rồng thì chưa ai từng thấy, cái thần vận của nó cũng phải tưởng tượng ra. Hạc sống nơi núi cao, rắn bò trong hang thấp, hổ báo hùng cứ nơi rừng sâu núi thẳm. Tìm chúng nó đã khó, quan sát lại càng khó hơn. Trừ khi là bậc nhân tài khó gặp, bằng không sao lĩnh hội được cái hồn của chiêu thức tới tột cùng?

Võ chó thì lại khác. Chó là loài vật gần gụi, có thể thấy hàng ngày, lại sống cả đời với người. Tiền bối sáng tạo ra bộ võ này đã lĩnh hội thần vận của nó đến mức tột đỉnh cao thâm, lại kết hợp với tinh hoa của cha ông là các câu tục ngữ mà phả vào chiêu thức…

Chiêu thứ nhất: chó cậy gần nhà! ”

Khiếu Hoá Tăng hô lên một tiếng, vai trái nghiêng ra sau đẩy vai phải tiến lên. Đồng thời, các cơ bắp ở chân eo lưng và vai đồng thời co dãn, nội kình hùng hậu được khuếch đại mấy lần, tạo thành một cơn sóng thần.

Bốp!Lá xoài rụng lả tả, một đấm gần sát không cần lấy đà của Khiếu Hoá Tăng cũng đủ làm thân cây rung chuyển dữ dội. Thủ pháp vận lực của Chó Cậy Gần Nhà gần tương tự với Nhất Thốn Quyền hiện đại.

“ Bé Chó, để ý này. Tay phải mô phỏng đầu chó, nơi có hàm răng. Tay trái lại giả chân chó, dùng để kiềm hãm cào xé. Chiêu thứ hai: Chó cắn áo rách! ”

Ông lui ra sau hai bước, bàn tay trái vung ra. Mục tiêu tấn công lần này là những cái lá xoài đang lả tả rơi xuống sân gạch như một cơn mưa.

Ngón tay, cạnh bàn tay, hổ khẩu, lưng bàn tay… có cảm giác như mọi vị trí của bàn tay trái đều dược dùng để tấn công vậy. Vừa đánh, ông vừa lí giải:

“ Đây vốn là chiêu lấy công làm thủ, lấy vòng đánh thẳng dùng ngắn chế dài. Cứ nhắm vào nhược điểm, yếu điểm của kẻ địch thì y tự khắc thấy bó tay bó chân. ”

“ Chiêu thứ ba: Chó Cùng Cắn Càn. Tinh tuý của chiêu này nằm ở chữ càn! Phát chiêu phải loạn xạ chẳng cần chương pháp, hung hãn điên cuồng như con chó bị dồn vào bước đường cùng. Khi ấy thì tay, chân, vai, gối đều phải dùng để công kích. Thế nhưng lúc sử chiêu không thể bị cuốn theo ý cảnh mà mất đi sự tỉnh táo, bằng không nếu gặp phải cao thủ sẽ bị bắt thóp ngay. Lúc ra chiêu lòng phải thanh tĩnh, tâm không được loạn mới là cảnh giới tột cùng của chữ Càn. ”



Miệng nói, chân bước, tay vung. Khiếu Hoá Tăng liên tục sử các chiêu đấm, chộp, quét chân, lên gối, thúc sườn… Động tác của ông đơn giản, dứt khoát, mạnh mẽ song cũng không thiếu đi tính tinh diệu và hiểm hóc. Lá xoài đang rơi hễ mà bị kình phong thổi trúng, là xoay tròn tít mù rồi bắn ngược lên cây. Tràng cảnh trông vừa kì quặc, vừa huyền diệu.

Tạng Cẩu chăm chú dõi theo từng động tác của Khiếu Hoá Tăng, mắt không rời khỏi ông dù chỉ một phần mười giây. Đến chớp mắt nó cũng thấy tiếc.

Khiếu Hoá Tăng chợt ngồi xuống, rồi lăn tròn một vòng. Hai chân ông mượn đà vung lên, cẳng chân như sắt quệt một đường mạnh qua không khí.

“ Đây là chiêu chó chui gầm chạn, dùng để né đòn hiểm của đối thủ và phản kích cùng một lúc. Tư thế hơi xấu, nhưng còn thực dụng hơn chiêu Vĩ Lư Đả Cổn của Tàu. ”

Nhà sư ăn mày co chân bật nhổm dậy, trở lại tư thế đứng thẳng.

“ Hai chiêu cuối cùng, một là Chó Ngáp Phải Ruồi. Cái thần vận của chiêu này chính nằm ở ý nghĩa của câu tục ngữ. Phán đoán cử động của địch thủ, công kích đánh gãy hắn giữa lúc đang thi triển chiêu thức.

Chiêu còn lại: Nhất Chó Sủa Dai, Nhì Người Nói Lặp. Đây là chiêu thức dùng nội lực khuyếch đại âm thanh, công kích đối thủ. Chiêu này cần phải có công lực cao minh mới dùng được, nên tạm thời chỉ dạy cho con cách vận khí thôi. ”

Khiếu Hoá Tăng xoa đầu Tạng Cẩu, dặn nó phải cố luyện cho thuần thục, chớ có mắc lại lỗi lúc trước. Nói đoạn, ông đủng đỉnh ra ngoài, khép cửa để yên cho nó lĩnh hội chiêu thức.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau