THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 356 - Chương 360

Chương 356: Hồi hai mươi chín (1)

Tuyệt Tình điện hưng sư động chúng

Kẻ ăn xin giả quỷ lộng thần

Ất Mùi, năm Vĩnh Lạc thứ mười ba...

Bấy giờ Hậu Trần vong quốc độ hơn một năm, quân Minh cướp được Đại Việt, vơ vét sản vật, nhũng nhiễu đủ thứ. Lại đặt ra đủ thứ luật lệ hà khắc. Tỉ như khách qua đường chỉ được mang ba bát muối, một lọ mắm trong tay nải. Nam nữ không được cắt tóc, đàn bà con gái phải mặc áo ngắn quần dài y như phong tục phương bắc. Lại cho bắt thầy tu, đạo sĩ, thầy cúng về mở trường dạy học.

Tháng mười năm ấy định phép đánh thuế, cớ là: “ từ lúc nhà Minh chia đặt châu, huyện, việc thu thuế nhân đinh, điền sản chưa có ngạch nhất định, vì cớ rằng số dân còn lộn xộn, lúc tăng lúc giảm bất thường. Đến nay mới định thành ngạch thuế, cứ mỗi mẫu ruộng thu 5 thăng thóc, mỗi mẫu đất bãi thu một lạng tơ, mỗi một cân tơ thu một tấm lụa. ”

Thuế khóa càng nặng, dân tình bởi vậy càng thêm lầm than nheo nhóc. Từ dân lành thành nạn dân, mất nhà mất ruộng thì đi ăn mày, bố thí vạ vật, nheo nhóc xin ăn từng bữa. Số kẻ chống gậy đeo bị càng ngày càng đông...

Bấy giờ ở phủ Tam Giang, châu Thao Giang, huyện Sơn Vi nhân khí hãy còn vượng, dân tình chưa đến mức lam lũ quá đáng. Số là nơi này xưa chính là đất Thậm Thình nơi voi chầu đất tổ Phong Châu, có đền Hùng khôn thiêng sừng sững. Quan lại nhà Minh và bọn gian thần bán nước không dám khinh nhờn anh linh chư vị quốc tổ, lại có phái Hy Cương trấn giữ, nên sĩ tốt quân Minh có đi qua cũng không tùy tiện đe nẹt dân tình.

Thực ra Trương Phụ nắm trọng binh, mười phái Hy Cương lão cũng dẹp được trong một ngày, song thấy vừa đánh trận với Hậu Trần mấy năm cần thời gian khôi phục, lại phải phân tâm chống đỡ các hào kiệt dấy nghĩa nên lão mới ra vẻ rộng rãi, vỗ về môn phái giang hồ ở địa phương, tránh chuyện con giun xéo lắm cũng quằn.

Những môn phái nào không kháng Minh ra mặt thì lão coi như mắt nhắm mắt mở, để cho tự quản, kì thật đặt quân đóng ở chung quanh, vây chặt các môn phái giang hồ này lại. Lão lại cho người cứ cách vài tháng lại đến gõ đầu các môn phái lớn, lấy cớ là mộ đinh, thực chất là cướp người. Thế là cho dù các thế lực này muốn chi viện cho nghĩa quân không được, chiêu binh mãi mã chờ cơ khởi nghĩa cũng chẳng xong...

Lại nói chuyện ở Sơn Vi, phía Nam huyện giáp với ngã ba sông Bạch Hạc, vốn là một cửa ngõ quan trọng, dòng chảy lớn của sông Hồng. Thành thử, phía nam huyện có một khu cầu tàu lấn ra sông, dài dến mấy dặm. Trên là chợ, dưới là cảng neo thuyền. Khách thương lái ghe sát cầu cảng, neo buộc lại, có thể lấy thuyền làm cửa hàng, chân không dính đất mà vẫn trao đổi bán mua bình thường. Thế nên chẳng mấy chốc nơi này trở thành chốn sầm uất giàu có nhất huyện, người chốn võ lâm gọi nơi này bằng cái tên Chợ Hạc, do con hạc bắt mồi thì chân lội dưới nước, mỏ ở trên cao, lại vừa khéo đúng ngay cái tên khúc sông là Bạch Hạc.

Miếng bánh béo bở như thế, tất nhiên sẽ khiến các thế lực giang hồ tranh cướp. Lâu dần, phái Hy Cương là thổ địa, chiếm được khu chợ phía trên cầu, tục gọi là Chợ Trên, hay Chợ Khô. Nửa còn lại của chợ Hạc – còn gọi là Chợ Dưới hay Chợ Nước, đã đổi chủ mấy lần. Hai năm trước bốn trại trong Thập Bát Liên Hoàn Trại liên thủ hất cẳng chủ cũ, cướp được mối làm ăn dưới sông. Quan huyện thì ngồi sau, thu thuế cả hai ông lớn, lại bớt được phí tổn thuê người rà soát chợ Hạc, thế nên chốn này cả chục năm nay vẫn vận hành như thế cả. Người ta dần cũng quen...

Chợ vốn là nơi người ta tiêu tiền, thế nên quán cơm hàng nước cũng đua nhau mọc lên như nấm. Chợ Dưới bán tôm cá ốc nghêu, chợ trên bán lợn gà dê ngỗng, cứ vậy mà chia.

Lại có cả đám ca kỹ, phường chèo hay tin cũng kéo đến. Hoặc mở sạp trên đất, hoặc ca xướng dưới thuyền, chong đèn kết hoa, hòa tấu hoan ca chẳng biết đến loạn lạc bên ngoài.

Song người ta vẫn nói, dưới đĩa đèn thì tối.

Kể từ Trùng Quang đế tuẫn quốc, Hậu Trần mất trong tay Trương Phụ, chợ Hạc này cũng thành chốn mà quần hào võ lâm lựa chọn lui tới làm nơi hội họp. Các lộ nghĩa binh cũng thường cử người xuống vùng chợ Hạc đặng chiêu mộ quần hào, tìm kiếm hãn tướng, lùng sục người tài để phò tá cho mình.

Nguyên nhân chính thì có hai nhẽ. Thứ nhất, nơi này từ lúc còn là thời bình đã có đủ hạng người lại qua. Từ tiểu thương đến hào chủ bá hộ, đến bọn ả đào thằng kép. Từ người làm nông đọc sách đến kẻ múa kiếm lộng đao. Đến thời loạn, nạn dân tan nhà nát cửa đông như kiến, đổ về nơi phồn hoa như Chợ Hạc để kiếm kế sinh nhai càng đông gấp bội. Túm gọn lại bằng hai câu: thời bình đã thượng vàng hạ cám, loạn thế càng rồng rắn lẫn lộn. Cái nhẽ thứ hai là chốn này có hai thế lực lớn chống lưng. Nhất là phái Hy Cương có thể xem là con cọp tọa trấn một huyện Sơn Vi, phân đà trải khắp ba châu Tuyên Giang, Đà Giang, Thao Giang của phủ Tam Giang. Có câu phép vua thua lệ làng, đám lính địa phương không được tướng soái nhà Minh chống lưng thì cũng chẳng dám vuốt râu hùm.

Mấy hôm nay lại có tin mấy chục môn phái lớn nhỏ, hàng trăm nhân vật có tiếng có miếng trong giới giang hồ đều tề tựu về Lâm Vi. Người giang hồ đồn thổi nhau rằng sắp có một bảo vật xuất hiện đủ sức thay đổi cục diện năm bè bảy mảng của các lộ anh hùng hào kiệt hiện tại, và sắp tới ở chợ Hạc này sẽ mở một đại hội võ lâm nhằm phân giải xem bảo vật sẽ về tay ai.Chuyện này can hệ trọng đại, liên quan đến nhiều lộ nghĩa binh rải rác ở các phủ các châu trên cả nước. Thành thử, phe phái nào cũng cử người của mình đến chợ Hạc để nghe ngóng. Bấy giờ đoạn sông huyết mạch chảy qua Chợ Dưới đã có hàng trăm con thuyền lớn nhỏ đậu san sát bên mép nước. Trên con đường huyết mạch đi xuyên qua Chợ Trên e là có đến mấy ngàn người tấp nập lại qua, ăn vận hành trang mỗi người mỗi kiểu. Kẻ thì đứng xem hát, coi tuồng. Người thì hối hả tìm nơi thuê trọ. Lại có lắm kẻ tranh thủ tình thế hỗn loạn đẻ trải chiếu bán mua, không trả phí dụng cho phái Hy Cương và bốn trại.

Đêm…

Trăng mờ, sao tỏ, ấy là điềm chẳng lành.

Trong gió ẩn sát khí…

Từ phía nam có một đoàn người rồng rắn nối đuôi bấy giờ vừa lúc đi qua giao giới giữa huyện Cổ Nông và Sơn Vi. Hiện tại cũng đã giờ Sửu, đường lớn vắng vẻ như tờ, quán xá đều đà im ắng. Ấy thế mà đoàn người này vẫn trống mở cờ giong mà đi, quả thực là lớn mật phách lối.

Nếu là mấy chục người to cao khỏe mạnh đã đành, đằng này đoàn người đều là hạng nữ lưu, người nào người nấy tóc mây da ngọc, bộ dạng mĩ miều, đi chung thế này, lại khoa trương thanh thế như thế, há chẳng phải mỡ treo miệng mèo sao?

Song… phàm những kẻ biết thân phận của bọn họ thì không còn cho hành vi ấy là phách lối được nữa.

Bởi những người này là đệ tử của Tuyệt Tình điện…

Nói về Tuyệt Tình điện thì lại phải kể rõ. Trong trận chiến Chính – Tà ba mươi năm trước, phe hắc đạo của Băng Bà có một minh hữu, thế lực đủ để hoành hành giang hồ không để bất cứ một môn phái riêng lẻ nào vào mắt.

Ấy là Tuyệt Tình điện.Người ta còn nói, đêm Hội Chí Tôn thuở nào nếu không phải Đặng Ngọc Bình còn quá trẻ, võ công của nàng ta lại bị Cứu Khổ thần tăng khắc chế gay gắt thì chưa chắc thánh lệnh Ẩn Thế về tay phái Nam Trúc Lâm.

Nhưng kể cả có không phải kẻ đứng đầu phe Ẩn Thế, thì Tuyệt Tình điện cũng là một tồn tại rất kinh khủng mà ít người dám chọc vào. Đến như Hổ Vương là chúa tể một vùng, ở vùng núi rừng phía nam ông chẳng khác nào vua chúa, cũng không chủ động gây sự với Cầm Ma là đủ hiểu thế lực trong tay ả đáng sợ đến đâu.

Đoàn người chia làm ba đội, phía trước có đệ tử mở đường, cứ năm chục bước lại rắc hoa. Chính giữa là mười sáu người khiêng hai cỗ kiệu bát cống, trên treo chuông, dây buộc một xanh một đỏ. Đi sau chót là một đám người, kẻ ôm đàn người nâng sáo, tấu nhạc mua vui.

Giữa đêm, giữa đường, tấu nhạc…

Thực là vô cùng quái lạ.

Lúc này, bỗng có biến cố…

Con đường dẫn tới chợ Hạc bấy giờ đã có một cỗ xe chặn ngang.

Trên xe là một cái kiệu hoa, thứ người ta vẫn dùng để rước dâu.

Trên nóc kiệu lại có một người đang ngồi, váy áo đỏ rực, má ngọc môi son, đôi mắt lá dăm thanh mà sắc sảo như cứa vào đoàn người Tuyệt Tình điện.

Nàng ta bỗng rút từ đáy lưng ong ra một thanh nhuyễn kiếm, lấy vạt áo ra lau chùi dưới trăng.

Đệ tử Tuyệt Tình điện ngừng lại…

Chân đều tăm tắp.

Những thiếu nữ này chỉ đặt kiệu xuống đất rồi cúi đầu đứng nép sang một bên, không hé răng một chữ, không lộ bất cứ một biểu cảm nào, cũng không liếc về phía cái kiệu và cô nàng kia dù chỉ một cái. Nàng kia cũng đã thấy hết những chuyện này, bất giác nhớ lại những gì Hổ Vương đã căn dặn trước khi ông rời khỏi sơn trang Bách Điểu:

“ Nữ ma của Tuyệt Tình điện trừ Thất Tuyệt Ma Nữ trở lên ra hầu hết đều đã quên hết chuyện cũ, quên đi cả bản thân, cứ như cái xác không hồn vậy. Sau này nếu chẳng may có xô xát, thì có thể dựa vào điểm này để lấy ít thắng nhiều. ”

Nàng ta tự nhiên chính là Trần Liên Hoa – trưởng môn phái Long Đỗ!

Chương 357: Hồi hai mươi chín (2)

Trần Liên Hoa đứng lên nóc kiệu, cao giọng rằng:

“ Tuyệt Tình điện các vị từng cho phái tôi một phần lễ lớn, nay đích thân tiểu nữ đến đây tiếp đón, không biết các vị có nể mặt hay chăng? ”

Nàng nhấn hai chữ “ lễ lớn ” với đầy vẻ mỉa mai, thế nhưng những đệ tử kia lại xem như không nghe thấy. Trần Liên Hoa lại chợt nhớ đến câu cằn nhằn của Hổ Vương với Tứ Đại Thiên Vương của sơn trang Bách Điểu:

“ Đánh nhau với con ả kia chán muốn chết. Mặc kệ các ông chửi mắng ra sao người của ả cũng trơ như đá. Thế là mất béng nửa cái thú rồi, còn đánh cái quái gì nữa? ”

Tuy nàng không biết ấy có phải nguyên nhân Hổ Vương không tấn công Tuyệt Tình điện hay không, nhưng nay nghĩ lại, thì quả như ông ấy nói…

Chợt từ trong đám đệ tử, có ba bóng người bước ra, mặt mang mạng che, vóc dáng yểu điệu thướt tha như tiên trên trời. Nhìn ba người, Trần Liên Hoa lập tức nhớ đến Tiêu Ma và Địch Ma cùng tên Thị Nghi.

Số là sau trận đánh trên sơn trang Bách Điểu, hai người Thị Nghi đều bị Cứu Khổ Thần Tăng bắt được, Cầm Ma lúc sau vội mang đàn Mộc Tinh đi nên không kịp cứu. Trần Liên Hoa sau khi tỉnh lại, thấy người của Tuyệt Tình điện, biết là hai ma trong Thất Tuyệt Ma Nữ thì vung roi Long Đỗ lên toan giết quách cả hai. Hổ Vương mới ngăn lại, bảo rằng:

“ Tuy Cầm Ma khiến cô mê man, nhưng có lẽ thị cũng bị Bồng Nga dối gạt. Huống chi hai người này chỉ làm theo lệnh, tội chưa đáng chết. ”

Cứu Khổ thần tăng bèn tiếp lời:

“ Xin thí chủ bớt giận mà nghĩ đến đại cuộc. Giờ đang buổi kháng Minh, nghĩa sĩ các nơi vùng lên hưởng ứng. Nếu vì ân oán cá nhân mà khiến võ lâm xáo xào lên thì thực không phải chuyện hay. Về phía Tuyệt Tình điện bần tăng xin đảm bảo tuyệt không để bọn họ tiếp tục làm khó phái Long Đỗ, xin thí chủ cứ an tâm. ”

Nhưng ân oán đâu dễ bỏ xuống như vậy?

Có đôi khi cây muốn lặng mà gió chẳng chịu ngừng.

Nay Trần Liên Hoa thấy ba thiếu nữ kia ăn vận không khác gì Tiêu Ma, Địch Ma thì đoán cũng là trong bọn Thất Tuyệt Ma Nữ với nhau chứ không sai vào đâu được.

Nàng thấy ba người nọ một đeo trống bồng, hai người còn lại đi người không thì không khỏi cau mày, thầm nghĩ:

‘ Thất Tuyệt Ma Nữ mỗi người học được một khúc ma âm, thì đúng ra phải có nhạc khí bên người mới phải. ’

Nàng cho rằng một mình Cầm Ma có thể tấu Thất Tuyệt Ma Âm bằng đàn bầu, thì ắt ấy là khúc nhạc dành cho nhạc khí chứ không thể dùng tiếng hát mà cất lên được. Nay thấy hai trong ba thiếu nữ đi người không thì vừa ngạc nhiên vừa e dè.

Một nàng có vẻ lớn nhất bước lên một bước, rút sẵn trống bồng ra, hỏi rằng:

“ Chẳng phải Cứu Khổ thần tăng đã nói oán thù giữa hai phái chúng ta từ nay kết thúc hay sao? Thánh chủ nể mặt hai người Hổ Vương và thần tăng đã không truy cứu. Hà cớ gì hôm nay còn chặn đường làm khó? ”

Trần Liên Hoa cười nhạt, lại nói:

“ Cùng là thân gái với nhau, chẳng nhẽ cô không hiểu danh tiết quý giá ra sao? Nhưng chuyện ấy tôi đã nghe lời hai vị tông sư bỏ qua rồi, ở đây ta không nói tới.

Còn chuyện chống lưng cho đại trưởng lão và sư muội tôi làm loạn môn phái, mưu đồ tạo phản, chia rẻ nội bộ phái Long Đỗ thì sao? Tuyệt Tình điện không định cho tôi một câu trả lời à? ”

Thiếu nữ nọ cười nhạt, lại nói:

“ Người xưa dạy rằng tiên trách kỷ hậu trách nhân. Nếu không phải người trong quý phái lòng đã có bất mãn từ trước, thì há có chuyện người ngoài li gián nổi?”

Trần Liên Hoa nghe thế cau mày, đoạn rút từ trong áo ra một cái còi gỗ nhỏ, đưa lên miệng thổi gấp. Tiếng còi réo rắt vang lên trong đêm trăng, nghe mà gai người.

Đối thủ cũng chẳng vừa, chỉ thấy nàng ta rút cái trống bồng con ra thủ ở tay, lại quát rằng:“ Lệ Nương, Chi Lan, hai em lược trận. Để chị lĩnh giáo cao chiêu của phái Long Đỗ. ”

Đoạn đứng chếch sang mé trái, nhìn Trần Liên Hoa mà nói:

“ Hôm nay em đây muốn xem xem danh tiếng của roi Long Đỗ là giả hay thật! Nhưng chị Liên Hoa thân là chưởng môn một phái mà lại thua nhanh quá thì mất mặt, thôi thì để em nhường cho ba chiêu. ”

Trần Liên Hoa bị nàng khiêu khích, lòng giận mà không mất bình tĩnh. Nàng biết Thất Tuyệt Ma Nữ giỏi nhất là âm công vô hình vô ảnh, muốn thắng được họ, chỉ với chút nội lực của nàng thì không đánh thẳng mặt như Hổ Vương được.

Còn Bồng (*) Ma, nàng ta trước là buông lời khiêu khích, sau lại thủ chặt môn hộ. Đôi tai cặp mắt của nàng chú ý bốn phương chờ đợi quân mai phục của phái Long Đỗ xuất hiện. Thế nhưng qua một, hai, đến mười hơi thở cũng chẳng thấy động tĩnh nào, Trần Liên Hoa lại cứ ngồi lì trên kiệu không ra tay mà cũng không bỏ chạy, nàng mới lại sinh nghi.

Đúng ra, lúc này nàng có thể cướp công để chiếm tiên cơ. Thế nhưng trước đó đã nói nhường Trần Liên Hoa ba chiêu mà bây giờ lại nuốt lời thì thực là đáng cười. Danh tiếng của bản thân thì nàng chẳng quan tâm, nhưng danh dự của Tuyệt Tình điện và Cầm Ma thì tuyệt không thể mất.

Nàng gọi là Lệ Nương chợt đảo mắt một cái, lại nói:

“ Nếu chưởng môn sợ mất mặt không dám động thủ với chị Vũ Nương thì thôi vậy, xin nhường đường cho! ”

Trần Liên Hoa nhìn nàng một cái, cười nhạt:

“ Ta đã ra chiêu thứ nhất rồi… ”

Cái nàng gọi là Vũ Nương thì biết đấy là hai em Lệ Nương, Chi Lan đang ngấm ngầm hỗ trợ, để nàng có thêm tình báo về đối thủ. Bấy giờ nghe Trần Liên Hoa thừa nhận tiếng còi ban nãy là chiêu thứ nhất, nàng ta bèn nghĩ ngay đến âm công. Tuyệt Tình điện các nàng dùng âm công nổi danh, khúc Thất Tuyệt Ma Âm nổi danh giang hồ không ai nghe đến mà không kinh sợ.

Thành thử, nếu hôm nay Trần Liên Hoa đã có gan đến chặn đường đoàn người Tuyệt Tình điện thì tất nhiên phải có kế sách đối phó với Thất Tuyệt Ma Âm.

Thường thường, muốn đối phó được với âm công chỉ có hai cách.

Hoặc như Hổ Vương… dựa vào nội lực hộ thân thâm hậu, chống lại ảnh hưởng của âm thanh.
Hoặc như Cứu Khổ thần tăng… dùng âm công đấu âm công. Cụ thể, Cứu Khổ thần tăng khổ luyện một môn gọi là Thiên Lại Phật Âm, bằng tiếng niệm kinh có thể giúp tĩnh tâm thanh thần, chấn tan huyễn hoặc của Thất Tuyệt Ma Âm.

Nhưng thực chất không phải không có một cách thứ ba, ấy là dùng âm thanh lớn để gây nhiễu loạn tiết tấu của người sử dụng, từ đó mà phá âm công. Chẳng qua là không ai ngốc đến độ dùng cách tầm thường ấy đối phó với đệ tử Tuyệt Tình điện – vốn nổi danh chốn giang hồ nhờ âm công.

Bồng Ma Vũ Nương cau mày, đoạn nói:

“ Chưởng môn tự làm lộ kì chiêu, không phải quá coi thường Thất Tuyệt Tiên Tử bọn ta hay sao? ”

Tất nhiên, tên gọi ma nữ là do giang hồ đặt, chứ chẳng ai lại đi tự nhận mình là ma nữ cả. Tuyệt Tình điện cũng không ngoại lệ.

Trong điện, Cầm Ma được xưng là thánh chủ, thánh nữ được các đệ tử gọi là thánh cô. Song sứ sinh tử được gọi là Bắc Đẩu thần quân, Nam Tào thần quân. Mà Thất Tuyệt Ma Nữ thì xưng là Thất Tuyệt Tiên Tử.

Trần Liên Hoa nhếch mép cười nhạt, nói:

“ Cũng thường thôi. Bây giờ là chiêu thứ hai! ”

Nói rồi vung tay roi Long Đỗ lên, ngón tay khẽ gạt vào đốc kiếm. Tức thì cuộn dây đồng giấu trong chuôi gươm được thả ra, thanh nhuyễn kiếm tức thì hóa thành một ngọn trường tiên. Mảnh kiếm hình cánh nhạn, nếu để cứa vào người ắt sẽ khiến miệng vết thương, hai móc ngược sẽ lập tức móc nát thịt da, cực kì nguy hiểm.

Ngọn roi quất đến trước mặt, cái trống bồng bằng nan tre đương nhiên khó mà đỡ nổi sự sắc bén của đồng đen. Vũ Nương vội ôm trống nhảy lui một bước, vừa vặn tránh được đòn hiểm. Mũi kiếm Long Đỗ sượt qua mặt, cách chóp mũi nàng ta cơ hồ chỉ nửa tấc.

Ở gần như vậy, thế nhưng Vũ Nương lại không ngửi thấy mùi tanh hôi đặc trưng của chất độc. Điều ấy chứng tỏ Trần Liên Hoa không bôi độc lên lưỡi kiếm nữa, hoặc nàng đã rửa sạch độc trên roi Long Đỗ.

Dù thế nào đi nữa, nếu trên lưỡi roi đã không có độc, thì cũng không cần quá cẩn thận lúc qua chiêu nữa.

Trần Liên Hoa cười nhạt, kéo chốt thu lại dây đồng, roi Long Đỗ tức thì được ráp lại thành một thanh nhuyễn kiếm dài ba xích. Trần Liên Hoa chỏ mũi kiếm vào mặt Vũ Nương, sóng mắt thoáng chuyển về phía hai cỗ kiệu, đoạn nói:

“ Mới hai chiêu mà cô em đã giật thót lên như thế, hay là thôi không cần chiêu thứ ba nữa? Ta cứ đánh đi là hơn… ”

Vũ Nương hành tẩu giang hồ, bị kẻ khác trào phúng như vậy ấy là lần đầu tiên. Nàng khẽ thu nắm đấm, thầm nghĩ:

‘ Mình ngỏ ý chấp ba chiêu là để hạ nhục đối thủ, nàng ta chẳng những không từ chối, lại cố tình đánh lung tung hai chiêu để trêu đùa ngược mình đây mà. Không thể bất cẩn, càng không thể xem nhẹ chiêu thứ ba này. ’

Bồng Ma không phải không hiểu cái gọi là binh bất yếm trá, nàng cũng không ngây thơ đến nỗi cho rằng hai chiêu đầu tiên Trần Liên Hoa đánh lung tung để giễu cợt thì chiêu thứ ba nàng cũng không giở trò.

Nào ngờ…

Trần Liên Hoa căn bản không có ý định đánh đến chiêu thứ ba.

Chỉ thấy nàng nhoẻn miệng cười một cái, phất tà áo đỏ, đoạn nói:

“ Chiêu thứ ba, xin hãy nhận lễ! ”

Nói đoạn, bỗng nhiên co chân đạp một cái vào góc kiệu. Chỉ nghe bồng một cái, từ trong kiệu đã có một ngọn mâu bằng thép dài đến hơn năm xích bay vút ra, nhè ngay hai cỗ kiệu bát cống mà bay tới.

Té ra kiệu hoa chỉ là kế che mắt…

Chương 358: Hồi hai mươi chín (3)

Trần Liên Hoa lợi dụng chính chuyện mình bị ép hôn, cố tình mang một cỗ kiệu hoa đến, tỏ ý hỏi tội. Lại cố tình vén rèm kiệu lên. Ban nãy ba ma nữ không thấy gì trong kiệu, nên mới không đề phòng.

Thực chất trong kiệu trống không, là bởi cỗ kiệu này được đặc chế, ván sàn được tháo ra, thay bằng một máy bắn cung cỡ lớn. Hai cánh cung lúc kéo căng vừa vặn chạm đến vách kiệu, thành ra không bị lộ. Mũi mâu gắn trên dây cung được sơn đen, thành thử dù có ánh trăng ánh đuốc rọi vào cũng không phản chiếu lại ánh sáng. Sở dĩ ban nãy Trần Liên Hoa ngồi trên nóc kiệu là bởi trong kiệu vốn dĩ không có chỗ để người ta ngồi.

Phát mâu bắn bằng máy vừa ra, tiếng sắt xé gió đã vang lên inh tai nhức óc. Cái lúc thế này thì âm công của ba người Lệ Nương, Chi Lan và Vũ Nương tuyệt không phát huy ra được công dụng gì, vì mũi mâu vốn là vật chết. Ba nàng vội vàng nhảy tránh, nhưng mấy người đệ tử khác thì không được may mắn đến thế. Mũi mâu xỏ xuyên qua hai người xấu số mà đà đi vẫn chưa hết, ầm ầm xộc tới cái kiệu.

Lúc này thì từ hai bên đường, hơn sáu chục người bỗng phá đất mà lên, trong tay thủ sẵn nỏ cứng mà bắn tới tấp về phía đoàn người của Tuyệt Tình điện. Trên đầu họ đội một cái nón lật ngược, mình vận áo đen, mặt che kín chỉ lộ mắt, trông ngoại hình đến là quái dị.

Thì ra Trần Liên Hoa cho quân đào sẵn hố ở hai bên đường, một hố lớn để ngồi xổm xuống mai phục, một hố nhỏ để lấy không khí. Lại để bang chúng mỗi người đội một cái nón úp ngược, trên đổ đất để ngụy trang miệng lỗ. Lại thêm thời ấy loạn lạc, ven đường cây cỏ um tùm, đêm tối trăng mờ, thành ra bang chúng của Tuyệt Tình điện dù võ công không kém cũng chẳng kịp trở tay.

Trần Liên Hoa cũng thừa cơ động thủ. Nàng búng mình lao về phía Vũ Nương, tranh thủ lúc hỗn loạn, bốn phía đều là tạp âm, nhún chân tung người nhảy lên. Tay nàng khẽ kéo chốt, roi Long Đỗ tức thì như rắn trườn khỏi hang, rồng thần rời động. Chỉ trong nháy mắt, lưỡi kiếm đã dài gấp đôi, trở thành một ngọn roi mềm dài đến sáu xích.

Trần Liên Hoa hé miệng quát nhẹ một tiếng, roi Long Đỗ trong tay đảo thân hai lần, đoạn quật thẳng xuống đầu Bồng Ma Vũ Nương. Thế roi vừa hiểm vừa nhanh, lại ra tay đúng lúc Vũ Nương vừa mới ngả người để né mũi mâu sắt, bấy giờ đang là lúc lực cũ vừa hết, lực mới chưa sinh. Nàng ta tròn mắt nhìn bóng roi càng lúc càng gần, nhưng lại chỉ có thể bất lực đổ người theo quán tính.

Sở dĩ Trần Liên Hoa lựa chọn Vũ Nương làm mục tiêu là bởi hướng né đòn của y thị vừa vặn khuất khỏi tầm mắt của kẻ ngồi kiệu. Cô nàng lại nhắm chuẩn thời cơ, ngọn mâu vừa rời cung là lập tức ra tay, những mong kẻ ngồi trong kiệu vì mải đối phó ngọn mâu mà không ứng phó kịp, để nàng nhanh chóng xử lí được một đối thủ mạnh.

Bỗng nghe coong một cái, roi Long Đỗ bị một vật cứng đánh trúng. Đầu roi đáng nhẽ quật xuống đỉnh đầu Vũ Nương thì nay đã chếch sang trái, nhắm vào bả vai y thị. Biến cố bất ngờ khiến Trần Liên Hoa vừa giật mình vừa kinh ngạc. Cô nàng không ngờ hai kẻ ngồi trong kiệu chẳng những cản được ngọn mâu, mà còn có thể phân thần ra tay giúp đỡ Bồng Ma.

Trần Liên Hoa chỉ biết chặc lưỡi, dùng thêm mấy phần kình lực vào đòn thế, hi vọng có thể đánh trọng thương được đối thủ.

Vũ Nương đang ngả ra, vai trái sắp bị roi Long Đỗ quật trúng thì bỗng cánh tay phải nhói lên như muốn gãy. Sau đó, một luồng lực lớn bỗng quét tới, đẩy cánh tay phải của y thị lên. Biết ấy là người trong kiệu cứu mạng, Vũ Nương bèn thuận thế xoay mình nửa vòng, vai trái rút xuống dưới thân, tay phải nắm cái trống bồng giáng một đòn vào mặt bên của roi Long Đỗ, tiếp tục đánh bạt ngọn roi sang bên. Roi Long Đỗ đánh trượt, quét lên mặt đường một vết chém sâu hoắm. Vậy mới hóa giải được thế công hiểm ác của Trần Liên Hoa.

Trần Liên Hoa thuận thế biến chiêu, tay phải chém trượt thì chưởng trái đã tống ra một đòn vào đầu vai Vũ Nương. Bồng Ma bấy giờ như nỏ mạnh hết đà, ban nãy một đòn của kẻ ngồi trong kiệu tuy giúp y thị thoát hiểm nhưng cũng khiến thị bị nội thương. Nay chưởng phong của Trần Liên Hoa áp tới không tránh nổi nữa…

Bành một cái, Bồng Ma mượn chưởng thế bay vọt ra một quãng, miệng nôn máu tươi. Tuy trúng một chưởng nặng nhưng lại thoát khỏi tầm vung của roi Long Đỗ, không để Trần Liên Hoa tiếp tục truy kích bằng vũ khí, bằng không ắt thị phải chết chứ không còn nghi ngờ gì.

Trần Liên Hoa giết hụt Bồng Ma, định vung roi Long Đỗ lên cản đòn của Lệ Nương và Chi Lan, thì bỗng nghe một tiếng quát chua loét từ trong kiệu vọng ra:

“ Xem chưởng! ”

Trần Liên Hoa chỉ thấy chưởng phong tanh thối thổi ào ạt, da mặt đau rát, cổ bỏng hầu khô. Phái Long Đỗ cũng xem là nổi danh giang hồ về dùng độc, Trần Liên Hoa từ lúc còn bé đã tiếp xúc với độc rắn cạp nong và lá ngón. Ấy thế mà chỉ vừa hít phải một chút gió độc từ chưởng lực của kẻ nọ đã khiến đầu nàng ta nhức như búa bổ đao chém, xây xẩm cả mặt mày thì đủ hiểu nếu bị đánh trúng thì còn tồn tệ ra sao. Lúc ấy e đứt ruột thối gan cũng chẳng phải lời nói ngoa.

Độc công đã đáng sợ, nhưng võ công của kẻ ra tay cũng hơn nàng xa lắc, khiến Trần Liên Hoa ngay cả cơ hội nâng roi Long Đỗ lên để cản lại cũng không có.

Chỉ nghe ầm một cái…Sau đó có tiếng người rên khẽ.

Trần Liên Hoa ngoái đầu lại, vừa vặn trông thấy một người ăn vận kiểu nhà Nho đứng chắn một chưởng độc cho nàng.

Y nôn ra một búng máu, nhưng cũng vừa kịp vung một gói bột trắng về phía kẻ ra tay. Nói đoạn hét toáng vào tai nàng:

“ Chạy!!!! ”

Trần Liên Hoa giật mình, không kịp nghĩ nhiều, vội vàng xách cổ áo người kia chạy về phía bắc.

Kẻ ra tay là một ả đàn bà luống tuổi, mặc áo hồng cánh sen, người cao dong dỏng, mặt nhọn môi mỏng, nhìn nét mặt ánh mắt thì ra chiều đanh đá lắm. Bấy giờ ả bị người ta ném bột vào mặt, phải nhắm rịt mắt không mở ra được.

Trong kiệu lại lao vút ra một bóng người khác, đứng sóng vai với y thị.

Ấy là một ả đàn bà chạc tuổi cái ả mặc áo hồng, nhưng người đậm và lùn hơn. Y thị vận áo xanh lục, tóc quấn một cái hồ lô, mặt lúc nào cũng có nét cười điềm nhã. Thị toan đuổi theo hai người Trần Liên Hoa thì ả áo hồng đã nói:

“ Không cần, nó trúng một chưởng của em đây, chết là cái chắc. Chị lấy cho em ít dầu để lau, thằng lỏi con khốn nạn này dùng vôi sống, để dính nước thì đến hỏng cả đôi mắt mất. ”

Ả áo xanh cười cười, nói:“ Đấy, chị dặn bao nhiêu lần, tuy ông sao quả tạ kia lên phương bắc đến nay không có tin tức song cũng chớ có tự kiêu. Cuối cùng có sai đâu? May cho mày là thằng kia trúng chưởng, mất nửa cái mạng, không nó vẩy cho một gáo nước thì toi đời. ”

Thị dìu cô em lên kiệu, lại nói với ba người Vũ Nương, Lệ Nương, Chi Lan rằng:

“ Ba đứa viết một bức thư, gửi đến chợ Hạc. Chừng này chắc thánh cô đã đến đó rồi. Xong việc thì rút quân về điện tâu chuyện với thánh chủ. ”

Đoàn người Tuyệt Tình điện dạ ran, răm rắp làm theo sắp xếp của ả đàn bà áo xanh. Y thị sắp xếp xong mọi chuyện, có vẻ an tâm, bèn gỡ hồ lô trên đầu xuống mở nút. Vừa dốc miệng, tức thì có hai viên thuốc màu xanh lăn vào lòng bàn tay ả, kích cỡ đâu độ hạt đỗ, vỏ ngoài láng bóng như ngọc thạch. Thị ném cả hai cho Vũ Nương, nói:

“ Thuốc này một viên cho bay dưỡng thương, chịu một chiêu của ta cũng không dễ gì. Viên còn lại sau khi chịu phạt của thánh chủ thì có thể giữ lại cái mạng. ”

Vũ Nương được thuốc thì mừng quýnh, rối rít lạy tạ, lại thầm kinh hãi trước võ công của hai ả. Bấy giờ ả đàn bà thấp nhỏ mới chui lại vào trong kiệu của mình, buông rèm mặc kệ.

Bồng Ma há có thể không rõ, kì thực ban nãy, cả hai ả phải cùng xuất thủ, phối hợp kín kẽ mới cứu được mạng của mình. Lúc ả áo xanh đỡ mũi mâu thì ả áo hồng dùng một quả cau đánh chệch roi Long Đỗ, sau đó ả áo xanh dùng một thỏi bạc đánh vào cánh tay phải, giúp nàng xoay mình chuyển thân giữa bán không, mới có thể né được nhát chém.

Nếu không phải hai chị em nhà này sớm chiều chung sống, tâm ý đã liên thông, thì Bồng Ma có sống được cũng bị chặt đứt một cánh tay, âm công ắt sẽ bị ảnh hưởng.

[ Không hổ là thánh sứ. ]

Vũ Nương chặc lưỡi, nghĩ thầm sau này không nên trêu chọc vào hai chị em nhà này thì hơn.

Té ra, ả áo hồng xưng là Bắc Đẩu thần quân, áo xanh hiệu là Nam Tào thần quân, người trong giang hồ vẫn quen gọi là sinh tử song sứ của Tuyệt Tình điện, đứng hàng song sứ trong Cầm Ma, thánh nữ, song sứ, thất tuyệt ma.

Trước đó mấy ngày…

Phía Lam Sơn, Lê Lợi cũng cố tình cử hai người, lấy tiếng là thay mặt trại Nghĩa Dũng của Vũ Uy đến nghe ngóng xem thực hư của tin đồn nọ là thế nào.

Các tướng Lam Sơn người nào người nấy đều kiêu dũng, nào phải hạng chịu ngồi yên một chỗ? Dạo gần đây các sơn trại quanh huyện Nga Lạc đều hoặc đã quy thuận trại Nghĩa Dũng, hoặc bị xóa tên, lâu dần cũng hết chuyện để làm, hết người để đánh. Các tướng lâu ngày chỉ quanh quẩn trong trại Nghĩa Dũng, lâu dần đâm chán.

Bà Thương lúc ấy mới khuyên con rằng:

“ Nhàn cư vi bất thiện. Mày cứ để các tướng ngồi mọc mốc trong trại, khó tránh bảo kiếm không chém thành cùn, ngựa hay nhốt chuồng mòn vó. Hà huống chúng nó lại dư thừa sức lực, đương tuổi máu nóng hừng hực, không nơi phát tiết thể nào cũng gây chuyện thị phi cho xem. Nay nhân lúc nước Nam ta có chuyện hệ trọng, Lam Sơn mình chẳng thể đứng ngoài. Mày cử hai người xuống vùng Sơn Vi nghe ngóng một phen là hơn. ”

Chương 359: Hồi hai mươi chín (4)

Lê Lợi thấy mẹ dạy phải, bèn gọi các tướng đến, bảo rằng:

“ Chuyến này xuống miền Sơn Vi e là khó tránh khỏi tai mắt của lão già họ Trương, nên cần người lão luyện cẩn thận mới xong được. Trịnh Công Chứng và Lê Hành ở Hạ Hồng, Phạm Thiện ở Tân Minh, Nguyễn Đặc ở Khoái Châu, Nguyễn Đa Cấu và Trần Nhuế ở Hoàng Giang đều là kẻ có chí lớn, ngặt nỗi thế cô lực bạc, tài đức có hạn. Nếu liên hợp lại được thì là chuyện tốt, còn nếu không thì cũng cần phải uyển chuyển một phen. Ở đây Bùi công là già dặn lõi đời nhất, chuyến này mong bác ra sức giúp cho. ”

Bùi Quốc Hưng bèn đáp:

“ Chủ công đã quá lời. Họ Bùi tôi từ hồi gia nhập đến nay chưa lập được công lao gì. Nay chủ công đã mở lời, nếu mà không nghe, thì há chẳng phải để cả Lam Sơn này cười vào mũi là chỉ biết cậy già lên mặt hay sao? ”

Mọi người bèn cười ầm lên.

Lê Lợi cũng hắng giọng một tiếng, lại tiếp:

“ Lễ và Nguyên Hãn từng đánh mấy trận lớn với giặc, không tiện hiện thân kẻo đánh rắn động cỏ. Lần này không biết nên cử ai thì hợp. Chư tướng có đề cử ai không? ”

Lê Thạch, Lê Khôi đồng loạt lên tiếng xin đi. Bùi Quốc Hưng hơi có vẻ bất bình, nói:

“ Chủ công lẽ nào coi họ Bùi tôi xuất thân quan văn nên trói gà không chặt, hoặc giả là già lão mắt mờ tay chậm chăng? Tôi cũng đang muốn thử xem quần hùng thiên hạ có thể chống nổi mấy đường xà mâu của tôi. ”

Lão ngưng lại vuốt râu, rồi nói tiếp:

“ Người đông dễ lộ, tôi vẫn đi một mình thì hơn. ”

Lê Lợi bèn nói:

“ Bùi công vác xà mâu quả thực uy dũng vô bì, tôi nào dám chê cười? Nhưng phép đánh trên lưng ngựa của tướng quân ngoài sa trường không giống với lối giao đấu của giang hồ hào khách. Nên có một người nữa đi cùng, cả hai chiếu ứng lẫn nhau vẫn là hơn. ”

Bấy giờ, ở ngoài cửa lại có người nói vọng vào:

“ Đi vắng lâu ngày, nay trở về xin tự đề cử bản thân có được hay chăng? ”

Các tướng không khỏi chau mày sụ mặt, đây là chốn chư tướng bàn chuyện họp hành cớ sao lại có kẻ nào ở ngoài nói leo vào? Nhưng chỉ thấy Lê Lợi đứng phắt dậy, mặt mừng như mở cờ, nói to:

“ Ngũ Thư?? ”

Thế là Phạm Ngũ Thư và Bùi Quốc Hưng được chọn làm người xuống Sơn Vi, vào chợ Hạc nghe ngóng tin tức. Từ Lam Sơn bắc thượng, đi ngựa thì hết độ hơn một ngày đường. Bùi Quốc Hưng mặc áo tơi, vận đồ rách, tay nắm một thanh xà mâu dài quá đầu, lưỡi mâu dài đến hơn ba gang tay. Ở đây lại phải nói rõ, lưỡi xà mâu Đại Việt được cấu trúc lượn uốn theo hình toàn thân rắn và có đầu rắn ngóc lên về phía mâu nhận, trái với xà mâu Trung Hoa thì lượn uốn theo hình đuôi rắn và có gắn móc ngạnh hướng về phía mâu khố, tức phần gắn vào cán. Dưới bộ có thể khắc chế thuẫn khiên, trên ngựa phá được đao thương kiếm kích. Đúng là thứ binh khí lợi hại khó được...

(Chú thích thêm của tác giả: Xà mâu là thứ binh khí lai giữa xà thương và câu liêm thương, lưỡi mâu uốn lượn như thân rắn và có một ngạnh phụ - đầu rắn chìa ra. Như vũ khí chúng ta thấy trong phim ảnh tái hiện của Trương Phi hay Lâm Sung thì nó là Thiệt Xà Thương – Thương lưỡi rắn chứ không phải xà mâu)Phạm Ngũ Thư chuyến này muốn che giấu thân phận, nên cất thanh Hùng kiếm ở nhà mà dùng một cây gậy tre ngắn. Y ăn vận như một gã ăn mày, cầm bát mẻ trống gậy, cưỡi lừa lóc cóc theo sau. Bùi Quốc Hưng tuy là không thích có người đi cùng, nhưng không phải hạng mù quáng không phân nặng nhẹ, bằng không há lại có chuyện được các tướng Lam Sơn nể nang? Ông biết đây là chuyện quan trọng nên cũng phối hợp với Phạm Ngũ Thư.

Lúc đầu, thấy Ngũ Thư giả làm ăn mày thì Bùi Quốc Hưng có vẻ coi rẻ, song về sau mới biết là nhầm. Lúc này đang buổi loạn lạc, quân Minh và tham quan quấy nhiễu khắp nơi, nạn dân mất cửa tan nhà phải lưu lạc đến độ cầm bát chống gậy đâu phải ít? Phạm Ngũ Thư ra ngoài giả làm ăn mày, chống lưng cho đám ăn mày, thành thử tiếng lành đồn xa, chẳng mấy mà trong tay y đã có một mạng lưới tình báo phủ khắp hai mươi tư phủ lộ từ nam chí bắc. Cả ngàn người cầm bát chống gậy tề tụ, tự lập một phái, chốn giang hồ xưng là bang Áo Rách. Phạm Ngũ Thư trước đến nay vẫn rất nể ông sư ăn mày, nên bảo cả bọn tôn Khiếu Hóa tăng làn tổ sư của phái, tên nào tên nấy đều hoan hô ầm ĩ. Lại lấy cách làm người của Khiếu Hóa tăng làm tôn chỉ, hành tẩu giang hồ phải lấy tín nghĩa làm đầu, không được nhũng nhiễu lương dân, làm ra chuyện phản dân hại nước.

Bang chúng ai nấy đều tuân thủ môn quy nghiêm ngặt, Phạm Ngũ Thư lại cắt cử phân chia đám ăn mày trong thiên hạ, lấy đốt tre trên cán tre làm ám hiệu. Bang chúng mặc áo rách, lưng đeo cái mai xúc đất, tay cầm bát mẻ, đầu chít khăn. Cả bang Áo Rách có mấy ngàn bang chúng, chia làm hai mươi tư đường ứng với hai mươi bốn phủ lộ, còn ai đứng đầu các châu các huyện thì do đà chủ tự mình chia cắt. Trên đà chủ là bốn trưởng lão gọi theo tứ tượng. Sau chót mới là bang chủ.

Phạm Ngũ Thư là con cháu danh tướng, trong mấy năm qua cẩn thận nghiên cứu, tham khảo nhiều bậc danh gia. Bốn trưởng lão cũng là võ lâm thế gia bị thổ hào hãm hại mà lụn bại, tuy tài sản đã mất nhưng võ học vẫn còn. Năm người hội họp, đã cải biến phép đánh Đảo Nam Nghịch Bắc thành bốn mươi hai đường võ công, lấy cái mai làm chủ, truyền trong bang. Lại nhờ Lê Thận biến tấu thủ pháp ném lá trầu sắt để cho kẻ không có võ công cũng ném được, rồi bảo bọn ăn mày lấy mảnh bát vỡ mảnh kho mà tự vệ.

Hai môn võ này truyền lưu trong bang Áo Rách được ba năm mà không có tên, nhiều kẻ muốn đặt cho chúng cái tên nào nghe oai oai cho dễ đọc. Ngặt nỗi kẻ đi chống gậy cầm bát thì mấy người được học hành tử tế? Thành thử, bốn mươi hai chiêu mai pháp được gọi là Xẻng Xúc Phân, ám khí gọi là Bát Vỡ Bay, cứ thế mà gọi.

Bấy giờ lão mới vỡ ra tại sao Lam Sơn trong tay bà Thương lại có thể âm thầm phát triển một trại Nghĩa Dũng lớn mạnh như bây giờ. Trong chuyện này, công rất lớn e là phải nhờ đến đạo quân ăn mày của Phạm Ngũ Thư. Có họ báo tin, bà Thương mới có thể ra đối sách, kịp thời lánh nặng tìm nhẹ, ẩn giấu phong mang.

Bùi Quốc Hưng trước khi xuất phát đã tháo lưỡi mâu cất trong bọc, mâu bính dùng như một cây Tề Mi côn gọi là phòng thân. Phạm Ngũ Thư thấy lão ở lâu trong Lam Sơn, lại vẫn không quên bản năng của người hành tẩu giang hồ, tính cẩn thận từng trải không khỏi khiến người khác nể phục. Hiện tại đương buổi loạn lạc, cầm thứ vũ khí có trên chiến trường như xà mâu đi lại trên đường quả thực dễ trở thành cái bia nhắm. Tuy bọn lính tuần chưa chắc đã làm khó, nhưng lúc này thân phận hai người đặc thù, nên cứ ăn chắc mặc bền là hơn cả.

Hai người đến Chợ Hạc thì cũng là lúc quần hào thiên hạ bắt đầu đổ dồn về đây. Trên Chợ Khô thì lừa ngựa buộc san sát, dưới Chợ Nước thì thuyền bè đậu nối đuôi, thực đúng là ngựa xe như nước, áo quần như nêm, khung cảnh náo nhiệt phồn hoa vượt xa những nơi khác.

Bùi Quốc Hưng và Phạm Ngũ Thư giao ngựa cho người trong bang, rồi bắt đầu tìm cách trà trộn vào chợ Hạc.

Phạm Ngũ Thư lấy bàn tay để ngang chân mày, suýt soa:
“ Trong thời loạn lạc mà có thể có một chốn thế ngoại đào viên, phồn hoa đô hội như này, đúng là hiếm có. ”

Bùi Quốc Hưng vỗ tay nải, kiểm tra thấy đầu xà mâu vẫn còn trong đấy, rồi nói:

“ Nay nước mất nhà tan, trăm tía ngàn hồng cũng chỉ là cảnh phồn vinh giả tạo, đẹp xuông mà thôi, bên trong trống rỗng. ”

Phạm Ngũ Thư bèn cười:

“ Không hổ là từng vào triều làm quan, lời lẽ sắc bén thật. Nhưng tôi nghe đâu ông anh là quan văn, chỉ đứng dưới cậu Văn Linh, sao lại vác theo thanh xà mâu làm chi? ”

Bùi Quốc Hưng đáp:

“ Kẻ quân tử phải văn thao võ lược kiêm tề, mới xứng lộc vua ban. Vào có thể trị quốc an bang, ra có thể phá tặc trừ khấu. Chỉ biết bút nghiên mà quên cung kiếm thì lấy sức khỏe đâu mà làm việc nước? Chỉ biết múa đao lộng thương mà chẳng quan trau dồi sách vở thánh hiền, có khác nào kẻ man di sơn dã? Còn về chuyện làm quan, Bùi mỗ tài học không phải xuất chúng, chỉ giữ một chức nhỏ thôi, anh bạn khen thế là quá lời rồi đấy. ”

Phạm Ngũ Thư bèn khoát tay, lại nói:

“ Đám ăn mày chúng tôi chỉ cần manh chiếu rách là xong, nhưng Bùi công thì cần một nơi ở lại cho ra trò. Chi bằng chúng ta đến cái miếu thành hoàng tụ tập với bang chúng bang Áo Rách trước, rồi từ từ tính tiếp. ”

Bùi Quốc Hưng nói:

“ Chuyện ấy thì đừng phiền đến anh em trong bang. Chợ Hạc bây giờ là nơi quần anh tụ hội, người đông đất chật. Đoán chừng nhà trọ khách điếm đều đã kín phòng cả rồi. Nếu như đằng nào cũng phải trải chiếu qua đêm, chẳng thà tìm chốn đất bằng, có gió có trăng cho mát, tội gì rúc ở cái chốn hành lang xó bếp cho bí bức con người ra? ”

“ Thế là ông anh chưa tìm hiểu kỹ càng rồi. Ở Chợ Hạc này chắc chắn có một nơi còn chốn có phòng cho thuê, chỉ là nếu ở đấy thì ta phải nhanh, bằng không lộ phí chẳng đủ đâu. ”

Bùi Quốc Hưng cau mày, đoạn hỏi;

“ Ý của cậu là kênh Bạch Hạc? ”

Phạm Ngũ Thư chỉ gật đầu nhẹ một cái, đoạn không đợi Bùi Quốc Hưng từ chối, đã lên tiếng:

“ Thôi thì cứ đến miếu gặp anh em trong bang cái đã, còn chuyện phòng ở ta tính sau. Đằng nào hai ta cũng phải đến con kênh Bạch Hạc kia thám thính tình hình một phen. ”

Bùi Quốc Hưng cho là phải, không nói thêm nữa

Chương 360: Hồi hai mươi chín (5)

Trước phải nói về kênh Bạch Hạc...

Chợ nằm trên miền Sơn Vi, phía Nam là ngã ba sông Bạch Hạc – một nhánh lớn của sông Hồng. Chẳng là độ trăm năm trước, sông Hồng bỗng dưng đổi dòng, xối nước vào con mương lấy nước tưới tiêu trong chợ, khoét rộng con kênh thành một nhánh phụ của sông, bề rộng độ mười lăm trượng gì đó. Dân địa phương gọi là kênh Bạch Hạc, do cùng tên với thần linh của vùng ấy.

Sau khi Chợ Hạc thành lập, kênh Bạch Hạc tức thì trở thành một điểm đệm của hai thế lực. Con kênh kéo sâu vào chợ, cơ hồ phân Chợ Hạc làm đôi, thành thử phái Hy Cương vẫn một mực bảo con kênh thuộc về Chợ Trên, là quyền quản hạt của họ. Nhưng các thế lực kiểm soát Chợ Dưới lại cho rằng, ấy rõ ràng là một con nước lớn, đủ rộng để dùng thuyền lại qua, thì ấy phải thuộc về phía họ mới là phải.

Hai bên tranh cướp lâu ngày, sau cùng phái Hy Cương cậy là thổ hào ở vùng, nói trắng ra là chó cậy gần nhà gà cậy gần chuồng, chiếm được quyền kiểm soát kênh Bạch Hạc.

Tình thế này kéo dài cho đến khi bốn trong Thập Bát Trại chiếm được Chợ Dưới. Phạm Hách mượn uy sơn trang Bách Điểu và thần binh tổ truyền Giao Long Chuy, liên hợp mười tám thủy trại trên sông Hồng lại. Bốn trại chủ nọ ỷ người đông thế mạnh, lại có thể mượn lực của mười bốn trại khác, miễn cưỡng chiếm được thế quân bình với phái Hy Cương. Mà điều đầu tiên bọn chúng muốn bàn lại, tự nhiên là kênh Bạch Hạc.

Chốn này là nơi trung tâm của Chợ Hạc, bình thường là nơi phồn hoa nhiệt náo nhất. Nếu như mở hàng ở đó thì sinh ý mười phần, còn ngồi sau bảo kê thì cũng thu được một số lớn tiền lệ phí của đám phú thương. Trên đời này nào có con mèo chê mỡ? Nhất là bốn tên trại chủ xuất thân đầu trộm đuôi cướp, món hời lớn như thế há có chuyện chúng bỏ qua cho được?

Sau một hồi cãi vã ỏm tỏi, động đao động kiếm, thì có sơn trang Bách Điểu đứng ra hòa giải. Từ ấy phái Hy Cương đón khách trên bến, bốn thủy trại tiếp người xuống kênh. Sơn trang Bách Điểu người đông thế mạnh, phái Hy Cương buộc phải cắn răng chấp nhận điều kiện này, giao mối làm ăn dưới kênh Bạch Hạc cho bốn trại chủ kia.

Bốn trại chủ cũng lại là tay lão luyện, bỏ nhiều tiền mua đứt mười tám hai mươi ả đào nức tiếng nhất kinh thành về, bố trí thuyền hoa, căng lọng phủ điều, ngày đêm đàn hát sênh ca, liếc mắt đưa tình với khách bộ hành trên bến. Khách nhân mê đắm mỹ sắc, chân vừa xuống thuyền, tức thì rượu thơm thức nhắc đã bày lên thịnh soạn, rất biết níu chân người.

Phái Hy Cương thì mở mấy chục gian tiểu viện, trước cửa trồng trúc, sân bày nghê đá, gian của quân tử thì bày mai vàng, gian cho thục nữ thì bày sen trắng. Trong tiểu viện lại sẵn cả đàn cả tiêu, thư phòng tứ bảo đủ cả. Có thể nói là vô cùng văn nhã…

Thành thử, chốn này bỗng chốc trở thành nơi đám công tử con quan đổ về thuê trọ, tiện việc dùi mài kinh sử, chờ ngày lên kinh ứng thí. Lại cố tình tuyển thiếu nữ dung nhan thanh tú, mặt mày sáng sủa về dạy đối thơ ngâm xướng, đàn sáo hát ca. Đám công tử con quan say như điếu đổ, nhưng kinh oai phái Hy Cương, không dám làm gì quá đáng. Chốn ấy gọi là Nhã Hạc cư.

Một nơi quyến rũ tận xương mà lại dễ dãi mời mọc, một chốn thì thanh nhã văn tao mà cao không dám với, mỗi bên lại có một cái mị hoặc riêng khiến người ta chẳng thể di gót cho đặng. Hai bên cứ đấu đá lẫn nhau, thành thử vật giá ở kênh Bạch Hạc cũng càng lúc càng đắt. Đến năm ngoái thì có kẻ cảm thán: “ Gia tài chưa ngàn lạng, gót chớ lưu Bạch Hạc. ” thế mà thành giai thoại.

Song độ mươi ngày trước, phái Hy Cương bỗng nhiên mời các công tử sang một nơi khác ngoài thành, lại đền vàng bạc rất hậu, nói rằng có khách quý đến thăm phái Hy Cương. Đám cậu ấm con quan có vẻ bực dọc, nhưng thấy phái Hy Cương bồi thường hậu hĩnh quá, lại chỉ là tạm thời chuyển đi độ dăm bữa, nên cũng ưng.

Suốt mấy ngày này, lục tục có mấy đoàn người chuyển vào ở trong Nhã Hạc cư. Trong cái lúc đâu đâu cũng có tai mắt chăm chăm vào mỗi biến hóa nhỏ trong Chợ Hạc, động thái này của phái Hy Cương đương nhiên khiến quần hào lộ vẻ hiếu kì.

Đám tiểu thương bình thường tự biết thân biết phận rằng hàng hóa của bọn họ không lọt nổi vào mắt của đám công tử con quan đã nhìn chán kì chân dị bảo, không dám lui tới kênh Bạch Hạc rước nhục. Nhưng bấy giờ phái Hy Cương đãi khách, tám chín phần là người trong chốn giang hồ. Những hào khách võ lâm này võ công tuy chắc là cao cường đấy, nhưng pháp nhãn sao mà so được với các cậu ấm cô chiêu lớn lên trong nhung lụa? Thành thử đám tiểu thương, sạp hàng rong cũng quảy gánh xắp hàng chạy đến kiếm chác một chuyến. Các thế lực kháng Minh khác cũng trà trộn vào những người hàng rong này, hòng thám thính một chuyến.

Thế là, kênh Bạch Hạc quanh năm ưu nhã thanh vắng nay bỗng nhiên trở nên nhộn nhịp như có hội.

Đến hôm qua, thì lại có một con thuyền phủ lụa trắng nhẹ nhàng thả neo ở bến sông kênh Bạch Hạc, đến sáng người ta mới phát hiện nó tồn tại thì trong thuyền đã trống rỗng chẳng còn bóng người nào. Thực là đi không ai biết đến chẳng ai hay, không khác nào u linh.

Lại có kẻ hữu tâm loan tin, rằng gian tiểu viện bày hồ sen trắng nay bỗng nhiên có người vào ở, đứng ngoài có thể loáng thoáng thấy bóng người yểu điệu múc nước thổi cơm, người ta nghe mà bán tin bán nghi. Nhưng cửa nẻo của tiểu viện trước sau vẫn cứ đóng im ỉm, thực là quái lạ mười phần.Lại nói đến tòa biệt viện bày sen, trước vẫn là nơi các tài nữ của phái Hy Cương trú ngụ. Độ tinh sương hôm ấy thì có mấy bóng người nhẹ nhàng từ trong sân phóng lên đầu tường, sau đó phiêu hốt hạ xuống. Động tác chẳng những thanh cao thoát tục, lúc khinh công lại không hề phát ra một tiếng động nào, cho dù là tiếng tóc mai bay múa hay ống quần tay áo xột xoạt cũng không có. Quả thực có thể xứng với tiên nữ đạp mây.

Thiếu nữ dẫn đầu sửa sang đấu bồng trên đầu, đoạn lạnh giọng:

“ Thị Nghi, Hàn Than, hai em đi theo ta. Còn hai em Nhị Khanh thì ở lại đây trông nhà, chớ để đám phàm phu này bước nửa bước chân vào, vấy bẩn hôi tanh cả khuê phòng của ta. ”

Bốn thiếu nữ đeo sa mỏng nhìn nhau một cái, đoạn một nàng lên tiếng:

“ Thánh cô là thân ngàn vàng, sau này có trọng trách kế thừa y bát của thánh chủ. Nhỡ may cô có chuyện gì thì bọn em về biết ăn nói sao với sư phụ? Xin cô nương tình để Nhị Khanh theo cùng, lúc về bọn em dễ bề ăn nói với thánh chủ. ”

Thiếu nữ đội đấu bồng lại cười nhạt, nói:

“ Nếu gặp người võ công cao hơn ta, có thêm các em cũng vô dụng. Hà huống võ lâm đất Nam trừ song sứ và bảy tông sư, ai làm gì nổi ta? Để Hàn Than và Thị Nghi theo cùng là ta đã nể nang lắm rồi đấy. ”

Những lời ấy thực là ngông cuồng ngạo mạn, nhìn quần hào thiên hạ bằng nửa con mắt.

Trên đời những kẻ thùng rỗng kêu to, coi trời bằng vung chẳng thiếu. Cái hạng cô lậu quả văn tự cho mình xuất chúng cũng nói được những lời ngông cuồng khinh mạn như vậy. Song có thể nói bằng ngữ khí đều đều bình thản, trước sau lạnh nhạt như không giống cô gái đội đấu bồng này thì đúng là hiếm có khó tìm.

Song… nàng ta liệu có phải hạng ếch ngồi đáy giếng hay chăng?Chuyện ấy thì tuyệt đối không phải. Bởi với thân phận của mình, nàng ta hiểu rất rõ “ bảy vị tông sư ” ở nước Đại Việt có cân lượng ra sao.

Chỉ tính riêng bốn thiếu nữ đeo sa theo hầu nàng trên giang hồ cũng có thanh danh đủ khiến một môn phái bá chủ một huyện kinh hồn táng đởm, thấp thỏm lo âu rồi.

Hai thiếu nữ được gọi là Nhị Khanh một người dắt tiêu, một người dắt địch bên người, dung nhan dưới lớp sa giống nhau như tượng tạc từ cùng một khuôn. Ngoại trừ Tiêu Ma và Địch Ma trong Thất Tuyệt Ma của Tuyệt Tình điện ra thì còn ai vào đây nữa?

Hai người còn lại, ả Hàn Than ôm một cây đàn nguyệt, đích thị là Nguyệt Ma. Thị Nghi không thấy cầm nhạc khí, nhưng cổ tay cổ chân đều đeo vòng vàng, trên gắn chuông khánh bằng bạc, giang hồ gọi là Linh Ma.

Tuyệt Tình điện, cao nhất là Cầm Ma, dưới nữa là Thánh Nữ, Song Sứ, Thất Tuyệt Ma.

Nay ở Nghi Lâm xuất hiện một bảo vật cực kì trân quý, tương truyền có thể đánh đổ cái thế cục chia năm xẻ bảy của nước Nam. Thành ra đại hội võ lâm mới được mở để phân định nhà nào giữ của báu, ngặt nỗi Cầm Ma còn đang phải bế quan tìm hiểu đàn Mộc Tinh, vậy nên mới phái đệ tử tâm đắc thay mình xuống núi thăm dò nghe ngóng, nếu được thì đoạt lấy vật báu hiệu lệnh thiên hạ.

Đáng nhẽ các đời thánh nữ của Tuyệt Tình điện tuổi chưa qua mười tám thì chưa được hành tẩu giang hồ, nhưng vì sự cấp tòng quyền, nên Đặng Ngọc Bình phá lệ cho nàng ta xuất sơn sớm một năm.

Thánh nữ được chân truyền của cầm ma, tuổi tuy không cao nhưng nội lực cao thâm vô cùng, lại luyện đầy đủ cả Thất Tuyệt Ma Âm và Đoạt Hồn Tiên Kiếm, tự nhiên lời lẽ ngông cuồng ban nãy cũng không phải lời xằng bậy không có cơ sở.

Tiêu Ma và Địch Ma thấy nàng kiên quyết, muốn khuyên cũng không xong, chỉ đành thở dài, nhẹ giọng:

“ Cẩn tuân thánh lệnh của thánh cô. ”

Nói đoạn hai nàng chuyển mình, vọt xuống khỏi đầu tường. Thân pháp ưu nhã mỹ diệu, nhẹ như làn khói, lại nhanh đến độ khiến người ta có thể líu lưỡi lé mắt vì kinh sợ.

Tiêu Ma và Địch Ma đi rồi, thánh nữ mới bảo:

“ Bây giờ chị em ta dạo chợ một hồi. ”

Không đợi hai người còn lại kịp phản ứng, cô nàng đã bung mình lao vút đi, tà áo trắng phau xẹt qua ánh trăng đêm tựa như một tia khói mỏng. Linh Ma và Nguyệt Ma chỉ mới thất thần một hơi thở, ấy vậy mà thánh nữ đã mất hút.

Hai người chỉ biết nhìn nhau một cái, đoạn vội vàng đuổi theo.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau