THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 351 - Chương 355

Chương 351: Hồi hai mươi tám (13)

Cô nàng hít sâu một hơi, rồi bảo:

“ Giờ Cẩu giúp Hương tìm khắp cái phòng này, biết đâu cái khó ló cái khôn, có thứ gì có thể giúp chúng ta thoát khốn thì sao? ”

Thế là hai người bắt đầu chia nhau lục lọi căn lầu. Phòng không lớn, lại đã có kinh nghiệm từ hồi kiểm tra phòng thây sắt dưới mộ Lí Thân nên lần này hai người không phí bao nhiêu thời gian đã kiểm tra ngôi lầu này một lượt, không chừa ngõ ngách nào.

[ Kể cũng kì lạ, chỉ trong vòng chưa đầy một tháng mà mình với Hương đã bị vây khốn trong tuyệt địa đến hai lần. Không biết lần này còn may mắn hóa nguy thành an được không đây. ]

Tạng Cẩu ngó Hồ Phiêu Hương, bụng bảo dạ.

Còn Hồ Phiêu Hương thì chính đang thở dài, nói:

“ Từ trên xuống dưới, ngoại trừ lọng với trướng ra chẳng có thứ gì dùng được. Quả nhiên Chu Đệ nếu đã cố tình sắp xếp cho chúng ta đến đây, tự nhiên sẽ không chừa bất cứ cơ hội nào. ”

Tạng Cẩu bèn gãi đầu, thắc mắc:

“ Nhưng hắn động tay động chân lúc nào nhỉ? ”

Cô nàng bèn đáp:

“ Y là hoàng đế, nói một câu là tự khắc sẽ có cả đống người đến đây làm chu toàn mọi việc. Hà huống, chắc gì tên thái giám dẫn đường đã cho mình đi thẳng một lèo tới đây? Y dẫn mình lòng vòng đi đâu thì chỉ có bọn họ biết với nhau. ”

Hồ Phiêu Hương nói xong, bèn chậm rãi ngồi xuống.

Lúc này, nếu như gấp gáp nóng lòng, thì sẽ trúng kế của Chu Đệ.

Cô nàng thở ra, lại lẩm nhẩm:

“ Hiện tại, mấu chốt là không đoán được liệu lão nói đốt đuốc là dọa suông, hay có ý định làm thật. Aiiiiiii… cái lão vua này hành sự còn khó lường hơn cả tên nửa điên nửa tỉnh Tửu Thôn đồng tử. ”

Tạng Cẩu nói:

“ Bây giờ chuyện quan trọng vẫn là làm thế nào mới có thể an ổn nhảy xuống mà không cần khinh công. ”

Cậu chàng vung kiếm Thuận Thiên hai cái, lại tiếp:

“ Đồng đen là thứ kim khí của sáu trăm năm sau, bị đốt một lúc không suy suyển được nó đâu. Nếu mình bị chết cháy trên này, thì kiếm vẫn sẽ vào tay lão ta thôi. ”

Hồ Phiêu Hương nhìn sang, đoạn nhoẻn miệng cười:

“ Cẩu biết suy nghĩ chu toàn như thế từ bao giờ vậy? ”

Tạng Cẩu nhún vai, đáp:

“ Bị ai đấy dạy hư. ”

Hai người đùa nhau một câu, bấy giờ đã có thể bình tĩnh lại ít nhiều. Hồ Phiêu Hương bèn nói:

“ Không sai. Ấy cũng là nguyên do hắn đồng ý để mình mang kiếm lên. ”

Tạng Cẩu chặc lưỡi, hỏi:

“ Vậy tức là tiến thoái lưỡng nan rồi? ”

Hồ Phiêu Hương im lặng, không nói gì cả. Cô nàng chậm rãi bước về phía lan can bằng gỗ, phóng mắt nhìn ra xa. In trong đôi mắt Phiêu Hương là điện Thái Hòa, với lầu vàng gác ngọc.

Tạng Cẩu lại buột miệng, lẩm bẩm nói một mình:

“ Nếu chẳng may chết trên này, thì đúng là không biết phải báo cho Tửu Thôn lỡ hẹn tái chiến với hắn ra sao đây. ”

Lúc này, Hồ Phiêu Hương đang mải suy tư, nên không chú ý tới câu này.

Bất giác…

Hai người cùng nhìn nhau, buột miệng nói:

“ Tửu Thôn??? ”

Hồ Phiêu Hương bất chợt nhớ tới tên kiếm khách này là do ban nãy đã so sánh Chu Đệ với gã.

Còn Tạng Cẩu, nhớ đến gã là bởi hai người còn cái hẹn tái đấu.

Nguyên nhân thì khác nhau, song lúc này cả Tạng Cẩu lẫn Phiêu Hương đều đang nghĩ tới cùng một chuyện. Xảy ra vào bảy năm trước, có liên quan tới tên điên nọ.

Tửu Thôn đồng tử và hai tên đồng đảng leo lên mái điện Thái Hòa, dùng một thứ trông như cánh diều để lướt ra khỏi hoàng cung, chạy trốn ngay dưới mắt của mấy trăm cấm quân.

Hồ Phiêu Hương nói:

“ Này, trong quyển sách Thiên Lí Kì Thư do Cao Biền để lại có nhắc tới diều Thiên Lí. Cẩu đọc lại một lần cho Hương nghe. ”Tạng Cẩu có tài nhìn qua là nhớ, nhiều thứ trong Thiên Lí Kì Thư cậu chàng vốn đã thuộc nằm lòng. Bấy giờ nghe cô nàng nhắc tới, cậu chàng bèn gãi gáy:

“ Trên này đến cốc nước còn chả có, tìm đâu ra cái mớ nguyên liệu kì quặc đó mà luyện diều Thiên Lí?? ”

Hồ Phiêu Hương cười, nói:

“ Không! Ý Hương là cái đoạn chỉ cách để diều hạ xuống ấy. ”

Tạng Cẩu lẩm nhẩm trong đầu, rồi nói:

“ Nó bảo, sở dĩ diều Thiên Lí có thể từ từ hạ xuống từ chín tầng mây mà không rơi xuống, là do có dòng khí từ bên dưới thổi vào cánh diều, giúp người ta rơi chậm lại. ”

Hồ Phiêu Hương cười, nói:

“ Thế thì được rồi. Còn tưởng là nó lại nói những chuyện thần quái, song cái lần ba người bọn Tửu Thôn chạy thoát chẳng phải là bằng chứng rõ nhất hay sao? Chúng ta học theo cách này, ôm lọng, căng trướng nhảy xuống. ”

Hai người bắt đầu lên lầu Vọng Nguyệt là buổi chiều, loay hoay gỡ lọng một lúc thì trăng đã chếch trên đỉnh đầu.

Lúc này, bên dưới lầu đã có ánh lửa vàng vọt hắt lên. Hai người Tạng Cẩu từ lan can nhòm ra, thấy cái thang bị chặt nát đã bắt đầu đượm lửa. Ánh đuốc trên tay bọn cận vệ hắt lên gương mặt tái mét của đám thái giám đứng hầu. Chu Đệ nửa nằm trên ghế, ghé mắt nhìn sang phía hai người Hồ Nguyên Trừng – Nguyễn Phi Khanh, rồi lại chuyển ánh nhìn lên lầu cao.

Nguyễn Phi Khanh thấy lửa đã cháy, nhưng vẫn im hơi lặng tiếng không nói nửa lời. Chu Đệ bấm bụng:

[ Xem ra y không biết thật. ]

Lão lại nhìn Hồ Nguyên Trừng một cái, thấy y mấy lần định lên tiếng nhưng lại thôi, thì chỉ cười nhạt.

Ánh lửa càng lúc càng rực, thế lửa càng lúc càng lớn, tàn đóm cuộn trong khói mù, mờ mờ ảo ảo, bay lên không trung tựa như một bầy đom đóm rời tổ.

Đẹp. Đẹp đến yên bình. Nhưng đương nhiên chẳng ai có tâm tình đi thưởng thức cảnh đẹp này cả, Bởi, từ tên thái giám, bọn xưởng vệ cho đến Nguyễn Phi Khanh đều biết lửa hồng chỉ là vỏ bọc, che giấu sát cơ.

Tựa như kẻ đang mặc long bào, nửa nằm nửa ngồi, vẻ mặt bình thản như không để tâm đến cuộc cá cược đang xảy ra.

Ngoài mặt, Chu Đệ quả thực tỏ ra hết sức thản nhiên.

Song thực chất, trong lòng lão cũng đang rất háo hức.

Hiển nhiên, hành động tháo lọng gỡ trướng ban nãy của hai người Tạng Cẩu, Phiêu Hương lão cũng đã nhìn thấy, đương nhiên kẻ như lão sẽ không cho rằng ấy là hai người kia bí quá hóa liều mà làm bừa cầu may. Bởi dù chỉ một vết thương thôi, thì hai người sẽ thua cược Chu Đệ không khỏi nghĩ thầm, võ đoán hai người nọ định phá giải nan đề lão đưa ra như thế nào.

Lửa bắt đầu cháy to, bén vào bãi cỏ, lan dần về phía lầu Vọng Nguyệt…

Tạng Cẩu và Phiêu Hương vẫn chưa lên tiếng.

Chu Đệ nhướn mày, đoạn cười, nói to:

“ Thiếu hiệp và cô nương thực là hơn người, nay chết ở đây chẳng phải uống phí lắm hay sao? ”Lão ngừng một chốc, rồi nói:

“ Chỉ cần hai người hứa phụng sự cho trẫm, trẫm đảm bảo hai người có thể xuống đất bình an. Bảo kiếm cũng có thể để hai người giữ? Thế nào? ”

Thực ra, chính lão cũng đang cược. Cược là trước khi lửa cháy đến chân lầu Vọng Nguyệt, Tạng Cẩu và Phiêu Hương sẽ chịu thua. Bằng không, đến khi lửa lan ra quá lớn, thì cho dù là điều động cả ngàn người đi nữa cũng khó lòng khống chế được đám cháy.

Song, chỉ có tiếng reo lách tách của ngọn lửa đáp lại lão.

Lửa càng đượm, thì ngọn lửa trong lòng hai người Nguyễn Phi Khanh, Hồ Nguyên Trừng lại càng hung hãn hơn thế nhiều. Hai người cứ bồn chồn hết nhìn tòa lầu, lại nhìn ánh lửa, bàn tay đưa lên miệng, mới phát hiện móng tay đã bị cắn ngắn ngủi từ bao giờ. Thế là chỉ đành gãi gãi lưng bàn tay, không dám thở mạnh.

Lúc này, thời gian như thể càng trôi lại càng chậm…

Bỗng…

Hai bóng người xuất hiện ở bên lan can.

Tạng Cẩu đặt một chân lên lan can gỗ, cười nói:

“ Vĩnh Lạc đế, cổ nhân dạy đại trượng phu lấy tín nghĩa làm đầu, hà huống quân vô hí ngôn, ngài nói được phải làm được đấy! ”

Chu Đệ cười nhạt, đáp:

“ Thiếu hiệp xuống đất bình an vô sự, trẫm ắt sẽ tuân thủ định ước. ”

Tạng Cẩu bấy giờ mới quay vào, nắm tay Phiêu Hương, nhẹ giọng:

“ Sẵn sàng chưa? ”

Cô nàng gật đầu, không nói gì cả.

Hít sâu một hơi, lại ho khan mấy tiếng vì nhỡ miệng hít phải khói, cậu chàng bèn quát:

“ Nhảy! ”

Đoạn cả hai búng mình, nhảy từ trên lầu cao hơn chục trượng xuống.

“ Nhảy thật sao? ”

“ Hai cái đứa này… ”

Cả Chu Đệ, cả Nguyễn Phi Khanh và Hồ Nguyên Trừng, cả bọn thái giám và xưởng vệ đều không dám tin vào mắt mình.

Tạng Cẩu và Hồ Phiêu Hương lại dám liều mình nhảy từ trên lầu cao xuống đất.

Lúc này, trong lòng mấy chục người đang xem có vô vàn cảm xúc, mỗi loại người lại một khác. Khâm phục có, khinh bỉ cũng có, mà chán trường, thất vọng cũng có.

Khâm phục, vì tự thấy trên đời không có bao nhiêu người đủ dũng khí nhảy từ hơn chục trượng xuống đất. Chí ít, xưởng vệ bọn hắn không có thứ dũng khí ấy.

Khinh bỉ, vì hai người họ ngu ngốc. Nếu đằng nào cũng thua cược, tại sao không nhận thua, ít ra còn được quan cao lộc hậu. Chẳng như bọn hắn, có được hoàng thượng sủng ái thì cũng không làm quan được. Bọn thái giám nghĩ như vậy…

Chán nản và thất vọng, tự nhiên là tâm trạng hiện tại của Hồ Nguyên Trừng và Nguyễn Phi Khanh. Hành động của Tạng Cẩu và Hồ Phiêu Hương họ cũng đoán được, cũng không thấy ấy là sai lầm. Chẳng qua, trước sau hai người vẫn ôm hi vọng nhỡ đâu Hồ Phiêu Hương nghĩ ra cách gì đó để hóa nguy thành an.

Thế còn Chu Đệ?

Hiện tại lão đang nghĩ gì?

Chu Đệ nhấp chung trà, ánh mắt bình thản nhìn về phía ngôi lầu đang chuẩn bị bốc cháy, cũng như hai bóng người vừa phóng vút ra từ tầng lầu cao nhất.

Lão lúc này, trông có vẻ gì như hào hứng, như chờ mong…

Quả nhiên…

Như lão sở liệu.

Trước con mắt kinh ngạc của mọi người, Tạng Cẩu và Phiêu Hương bắt đầu rơi chậm lại. Dưới ánh lửa nồng, rốt cuộc người ta cũng phát hiện được đôi lọng căng phồng hai người đang bám chặt lấy để đu xuống đất. Khí nóng của ngọn lửa đẩy vào tán lọng, nâng hai người lên, lướt trên đầu biển lửa.

Thấy thế lửa hung hãn, Tạng Cẩu bèn rút kiếm Thuận Thiên, chém mạnh một cái. Kình lực thổi bạt ra, làm bức tường cháy rực đang cản lối hai người thoáng xuất hiện một kẽ hở.

Bịch.

Hai người bình an hạ xuống bãi cỏ trước mặt Chu Đệ.

Chương 352: Hồi hai mươi tám (14)

Tạng Cẩu ném đôi lọng vào ngọn lửa, lấy tay phủi bớt tro tàn trên người. Lúc này mặt mũi cậu chàng lấm lem đen đuốc, khiến nụ cười toe toét của cậu chàng càng lộ rõ hơn.

“ Bệ hạ, xuống được khỏi lầu mà không dùng khinh công, có phải chúng tôi thắng rồi không? ”

Hồ Phiêu Hương nói xong, lại thi nửa lễ với lão, cười mà rằng;

“ Cũng phải cảm ơn bệ hạ, nếu không phải ngài cho phép mang kiếm Thuận Thiên lên lầu thì e lúc nhảy xuống bọn tôi đã bị lửa đốt bị thương. Mà như thế thì thế trận này phải đảo chiều rồi. ”

Cô nàng lặng lẽ chờ xem phản ứng của Chu Đệ.

Lão sẽ nổi giận?

Sẽ lật lọng?

Dù thế nào, thì cũng sẽ phải lộ ra tác dụng thứ hai của cuộc cá cược.

Thế nhưng, Chu Đệ lại chỉ bình thản vỗ tay tán thưởng một cái, rồi nói:

“ Quân vô hí ngôn. Hai người nếu đã thắng trận này, thì có thể ra về. Ba ngày sau quả nhân sẽ cho người đến truyền chỉ, cho hai ngươi biết việc cần làm. ”

Dứt lời, lão bèn phất tay, cho quân xử lí đám cháy rồi rời khỏi.

Một tên thái giám trông có vẻ biết việc, hiểu chuyện thì thay Chu Đệ dẫn bốn người ra khỏi cấm cung, mặc kệ cho về phủ đệ. Thái độ sảng khoái thái quá này của Vĩnh Lạc đế càng khiến Nguyễn Phi Khanh, Hồ Nguyên Trừng và Phiêu Hương thấy bất an. Ngay cả Tạng Cẩu cũng cảm thấy có gì không đúng. Chu Đệ chẳng nhẽ từ bỏ kiếm Thuận Thiên dễ dàng như vậy sao? Song cậu chàng nghĩ nát óc cũng không thể lí giải được, nên đành gác chuyện này sang một bên.

Hai người Tạng Cẩu Phiêu Hương thử ra cửa thành dò la, quả nhiên ngay từ lúc hai người lên lầu Vọng Nguyệt Chu Đệ đã hạ thánh chỉ đóng cổng thành giới nghiêm ba ngày, không cho ai ra vào. Trên cáo thị thì viết là làm như vậy để truy quét trọng phạm, đặng yên lòng dân. Quân thủ thành cũng được cắt cử đông gấp ba bình thường, thành thử Tạng Cẩu muốn lẻn ra ngoài như cái cách hôm kia cậu chàng lẻn vào thành cũng đành bó tay chịu thua.

Biết đã bị giam lỏng, hai người chỉ có cách trở về phủ của Hồ Nguyên Trừng, án binh bất động.

Mấy ngày tiếp theo, Chu Đệ quả nhiên cắt cử độ năm trăm quân đến đóng xung quanh phủ, vây chật kín như nêm cối. Đối ngoại thì nói là để bảo đảm an toàn cho trăm họ trong lúc truy quét nghịch tặc.

Sau cơn hung hiểm, Hồ Nguyên Trừng bèn đóng cửa ru rú trong nhà, hai người Tạng Cẩu cũng chỉ biết nói chuyện với Nguyễn Phi Khanh làm vui.

Hồ Phiêu Hương có hỏi đến Thanh Hằng, thì được biết là từ sau khi Lí Bân hủy hôn bỏ đi biệt xứ thì cũng không rõ tung tích của cô nàng nữa.

Lúc này, ba người đang nói rõ đầu đuôi sự thể chuyện xảy ra trong mộ cổ của Thánh Chèm. Suốt cả buổi trời, Nguyễn Phi Khanh chỉ biết im lặng mà nghe. Ông lại nhìn đao Lĩnh Nam và kiếm Thuận Thiên, chặc lưỡi than rằng:

“ Ai mà ngờ nổi đồng đen lại là vật từ hơn sáu trăm năm sau. ”

Ngừng một chốc, Hồ Phiêu Hương rốt cuộc mới lên tiếng:

“ Có chuyện này con nghĩ mãi mà không hiểu. Cao Biền chẳng nhẽ không tính đến chuyện dân mình quật cường quá, bất chấp cảnh cáo của Mã Viện mà nhổ bật trụ đồng lên sao? ”

Nguyễn Phi Khanh đáp:

“ Bác thì không tính là tay cự phách, song cũng biết chút ít về thuật địa lí phong thủy. Nếu trận này sinh ra để cướp khí long mạch nước ta, thì nếu nhổ sớm thời hạn, chỉ tổ khiến long mạch nước ta thất thoát ra ngoài, đến mức khô kiệt mà tiêu vong. Hắn không được gì, nhưng ta thì mất hết. Hạng người này cũng nham hiểm thật. ”

Hít sâu một hơi, ông lại nói:

“ Song, Cao Biền rời khỏi đời Tần khi nào? Nếu như y rời khỏi rồi, mộ Lý Thân mới được khởi công thì cái người tên Tả Ao kia cũng là hạng đáo để đấy. Vào thời Tần, Tả Ao ắt hẳn đã từng giao thủ với Cao Biền, vậy nên ông mới biết được tài phép của họ Cao mà chuẩn bị cơ quan trong mộ để chuyên trị đối phó y. Trái lại thì Cao Biền hẳn cũng đã lường trước chuyện con thắc mắc, nên mới cố tình nói lộ cho đối thủ hậu hoạn khôn lường nếu phá trận sai cách. Y làm như thế, một là đe dọa để Tả Ao không thể phá trận bừa. Hai là có thể ép ông ở vào cái thế nếu ném chuột thì vỡ bình quý, buộc lòng phải lưu truyền chuyện này trong dân gian, bảo vệ trận pháp giúp hắn.

Song cái anh Tả Ao kia cũng chẳng vừa, cố tình dạy dân nếu gặp chuyện thì ném đá chôn vùi, xóa sạch vết tích trụ đồng đi. Cao Biền sơ sểnh bỏ qua điểm này, nên đi tong cả ván cờ. Y muốn vớt vát đôi chút, đến trộm mộ của Lý Thân, thì lại trúng ngay sắp xếp của Tả Ao. ”

Nguyễn Phi Khanh nói xong bèn nhún vai, kết luận:

“ Đấu đá tính kế nhau xuyên suốt mấy trăm năm, hai người Tả Ao – Cao Biền đúng thật là đôi kì phùng địch thủ hiếm có đấy. ”
Hai người Tạng Cẩu nghe mà hết hồn.

Nếu suy đoán của Nguyễn Phi Khanh là thật, vậy thì cậu chàng thoát được nanh vuốt của Cao Biền thực là có phần may mắn.

Hồ Phiêu Hương chợt nhớ đến một yêu cầu của Chu Đệ, bèn hỏi sang chuyện khác:

“ Bác này, độ ba tháng trước bác có gửi thư cho con bảo nước Nam có người đến gặp, quả nhiên sang tháng có ông Khiếu Hóa tăng đến giúp phá giải trận Tam Thiên Đại Thiên thế giới, bí mật gửi cho con cái túi thơm. Nếu không có ông ấy chưa chắc chúng con phá được mộ thánh Chèm lấy kiếm Thuận Thiên. Ắt hẳn, người mời sư Khiếu Hóa sang ắt là bác. Con chỉ nghĩ, cất công sang tận đây chẳng nhẽ chỉ để nói mấy lời đó thôi sao? ”

Nguyễn Phi Khanh cười, đáp:

“ Quả không giấu được con. Nhưng bác lại thắc mắc là rốt cuộc con làm thế nào mà cái gì cũng nhét được vào đây thế? ”

Nói đoan lấy hai ngón tay đẩy nhẹ vào trán Hồ Phiêu Hương. Cô nàng ôm đầu cau mày kêu khẽ một tiếng, đoạn nghiêng người tránh đi.

Ngừng một chốc, ông bèn nói:

“ Thực ra Quốc Tử Giám có chuyện muốn nói với bác, ngặt nỗi hiện tại biên cương phòng vệ nghiêm mật, nửa bước khó đi.

Gặp dịp có người quen của Khiếu Hóa tăng đến xin sách vở nói về chìa khóa Loa thành, cao tầng mới bảo họ đánh tiếng với sư thầy nhờ chuyển lời giúp cho một lần, coi như là một cuộc bán mua. Chính nhờ có ghi chép của Quốc Tử giám, chúng ta mới biết trận Rồng Không Đuôi có liên can tới lần đi sứ đó của Thánh Tổ. ”

Tạng Cẩu thầm nghĩ:

[ Những “ người quen ” này hẳn là bốn lão Địa Khuyết Thiên Tàn chứ không ai khác. ]

Hồ Phiêu Hương bèn hỏi:

“ Lạ nhỉ, Quốc Tử Giám nhọc công đến thế để chuyển lời cho bác, ắt hẳn phải là chuyện trọng đại lắm đây? ”

“ Chút chuyện nội bộ của Quốc Tử Giám thôi, cháu đâu cần tra khảo bác như phạm nhân thế chứ? ”

Nguyễn Phi Khanh nhún vai, đáp.
Hồ Phiêu Hương bèn cười:

“ Con đâu dám, chẳng qua, Chu Đệ trước nay vẫn để ý nhất cử nhất động của ta. Chuyện Khiếu Hóa tăng đến tìm bác chuyển lời e rằng y sớm đã biết rồi. Mà nay, bọn con còn phải làm giúp y một chuyện thì mới yên được. ”

Cô nàng nói đến đây thì ngừng, hấp háy mắt nhìn ông bác.

Nguyễn Phi Khanh thở dài, nói:

“ Cứ án theo những gì hai đứa cá cược với hắn, thì chúng ta còn phải làm giúp hắn một việc. Song, lúc này hắn muốn gì chỉ có trời biết, đất biết, hắn biết. Thành ra, muốn chiếm lại tiên cơ từ trong tay hắn thì đúng là khó khăn vạn phần. ”

Hồ Phiêu Hương bèn nói thêm:

“ Muốn cướp được tiên cơ, thì phải lường trước được hắn muốn gì. Mà yêu cầu của hắn lại rất có khả năng là liên quan đến những gì bác và thầy Khiếu Hóa tăng nói với nhau. ”

Nguyễn Phi Khanh chầm chậm thở ra một hơi, nói:

“ Cũng không có chuyện gì to tát, chỉ là một vài chuyện ai ở nước Nam cũng biết, đại khái là: Trùng Quang đế Trần Quý Khoáng, hai vị Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị đều tuẫn quốc. Quân Minh không được lòng dân, chiến loạn nổi lên liên miên, tiêu biểu có mấy người Nguyễn Chích, Nguyễn Liễu, Nông Văn Lịch. Song hai người sau thì đều đã trúng độc kế của Nguyễn Huân mà chết thảm, nghĩa binh dưới trướng tứ tán. ”

Ông ngừng một chốc, rồi thấp giọng:

“ Ngoài ra, Quốc Tử Giám còn báo với bác là đã phái ba vị sứ giả Hộ Long tìm kiếm, bảo vệ chân mạng thiên tử ẩn trong dân gian. Song chuyện này được nói bằng ám hiệu chỉ có các đời Tế Tửu mới hiểu, ngay cả Khiếu Hóa tăng cũng không hiểu ông ấy nói cái gì với bác. Hàng quan ngày xưa bác cũng có quen biết, ngoại trừ bản thân bác ra không còn người thứ hai hội đủ yêu cầu này. Thế nên, có thể loại trừ khả năng Chu Đệ sẽ bắt các con cản trở ba vị sứ giả. ”

Tạng Cẩu bèn hỏi:

“ Nguyễn Huân, hắn có phải hàng tướng Đại Ngu ngày xưa không bác? ”

Nguyễn Phi Khanh đáp:

“ Hắn là chỗ thân thiết với Mạc Thúy, có lẽ hôm ấy cũng góp một tay trong chuyện đốt phá thôn làng của con. ”

Cậu chàng thu chặt nắm đấm, nghiến răng.

Hồ Phiêu Hương đặt tay lên vai cậu chàng, nói:

“ Nóng giận hại thân, đợi khi được tự do, Hương về Đại Việt trả thù cùng Cẩu. ”

Nguyễn Phi Khanh ho khan một cái, rồi lại lườm Tạng Cẩu một cái, cố tình nói tảng sang chuyện khác:

“ Hồi hôm hai đứa vừa làm lễ Tào Khang, nên chuyện vợ chồng xong mà mày đã dắt vợ chạy nhảy ầm ầm thế à? Lại còn đu lọng từ lầu cao mười trượng xuống thì con gái con đứa nào chịu nổi? ”

Hồ Phiêu Hương bèn cười:

“ Hôm ấy mà không có con thì Cẩu thành cục than trên lầu rồi. ”

Nguyễn Phi Khanh nghiêm mặt, nói:

“ Chớ có được nghĩ vậy, sức khỏe làm đầu. Lần này sự tình trọng đại bác mới bỏ qua, chứ sau này không được như thế. Mà con vừa mới thất thân xong không thấy sao à? ”

Đoạn lại nhìn Tạng Cẩu, ánh mắt lộ vẻ hoài nghi, bụng thầm nghĩ:

[ Thằng này nội lực kinh người, công phu ngoại gia cũng không yếu, chả nhẽ con bé lại không bị gì cho được? ]

Chương 353: Hồi hai mươi tám (15)

Tạng Cẩu thì gãi gãi tai, đỏ mặt nói:

“ Bọn con cùng lắm chỉ ngủ chung một cái giường, đắp chung cái chăn, hồi bé vẫn làm thế suốt. Bác cứ làm quá lên thế. ”

Cậu chàng nói chưa dứt câu thì ông bác đã phun ngụm trà ra, há hốc mồm, mắt đảo tới tới lui lui giữa hai người. Nói đoạn, Nguyễn Phi Khanh ho khan một hồi, hắng giọng:

“ Hai đứa… Đừng bảo bác hai đứa nghĩ ngủ chung cũng gọi là làm chuyện vợ chồng nhé. ”

“ Không phải sao? ”

Lần này đến lượt Hồ Phiêu Hương và Tạng Cẩu tỏ ra kinh ngạc.

Kì thực cũng khó trách, Tạng Cẩu mồ côi từ tấm bé, tám tuổi đã lưu lạc khắp nơi, ai lại đi dạy cậu chàng những chuyện nam nữ này? Hồ Phiêu Hương thì là con nhà vương tộc, lại có lão Bộc và Hồ Nguyên Trừng dạy dỗ nên cũng biết là trai chưa vợ gái chưa chồng thì không nên thân mật, bằng không sẽ có hậu hoạn. Song Hồ Nguyên Trừng là người đọc sách, lão Bộc mặc cảm mình là người ngoài… những chuyện phòng the chăn gối kia hai người cũng không dạy cô nàng.

Qua năm năm, tuy hai người Tạng Cẩu Phiêu Hương đã lớn, nhưng cả hai đều là người luyện võ, tâm trí vững vàng. Chỉ cần không bị ảnh hưởng từ bên ngoài như trúng thuốc, vận công một lần là áp chế được bản năng của cơ thể ngay.

Thành thử, hai người tuy ngủ với nhau mấy lần, song lại chưa từng phát sinh chuyện gì cả.

Nguyễn Phi Khanh nghe xong, đoán được đầu đuôi sự thể, bèn nghĩ rằng thôi thì cứ thuận theo tự nhiên vậy. Ông lại vỗ vai Tạng Cẩu, lại hất đầu về phía Phiêu Hương, dặn:

“ Hai đứa bay đã nên vợ chồng, thì phải chăm sóc để ý đến nhà mày nhiều hơn, hiểu không? ”

Nguyễn Phi Khanh mất vợ từ sớm, gà chống nuôi con, thành thử thấy hai người Tạng Cẩu Phiêu Hương chẳng tránh khỏi chạnh lòng nhớ về vợ, nên mới để tâm như vậy.

Hồ Phiêu Hương bèn nói:

“ Lại có chuyện này cháu cứ thắc mắc mãi. Hôm nọ bác giục hai đứa nhanh chóng đồng sàng, hẳn là còn có nguyên do khác. Nhưng cháu nghĩ mãi cũng không hiểu bác định làm gì. ”

Nguyễn Phi Khanh thở ra một hơi, đáp gọn:

“ Chẳng là trước đây từng có lúc Chu Đệ bóng gió nói muốn hỏi cháu cho thái tử. Lúc đó cậu Trừng nói mình không phải bác ruột, không quyết được chuyện chung thân của bay. Bác thì lấy cớ nói nước Nam ta phong tục khác biệt, từ bé cháu không bó chân, không được chân sen gót ngọc, Kim Liên Tam Thốn như phụ nữ Trung Hoa. Hà huống còn là dân vong quốc, vào cung của thái tử hẳn là sẽ dính dáng nhiều chuyện thị phi, khiến hậu cung xào xáo. Nhưng thấy lão ta dường như chưa bỏ ý định, bác mới đánh bạo nói cháu đã thất thân với Tạng Cẩu, tự định chung thân, có làm thiếp cũng không xứng. ”

Ngừng một chốc, ông bèn tiếp:

“ Thế nên lúc cháu trở về, nhắc chuyện hai đứa đã thề nguyền ước hẹn rồi, bác mới giục gấp. Được như thế thì Chu Đệ chẳng còn gì để nói nữa. ”

Bốn người bình đạm được thêm vài ngài, thì bỗng tinh mơ một hôm nọ có một thái giám đến cửa, nói là truyền khẩu dụ của Chu Đệ.

Gã thái giám nọ hắng giọng, nói:

“ Thiếu hiệp, ở đây có hai thánh chỉ, một thì giữ lại, một thì đốt đi. Bệ hạ có khẩu dụ rằng hết mực trọng tài của cậu, nếu cậu quyết định vào triều làm quan thì không thiếu quan to lộc hậu. Cậu chỉ gật đầu một cái, thì ngày mai vào diện thánh hãy mang theo thánh chỉ trong hộp vàng này. ”

Lão ta ngừng một chốc, rồi lại cất giọng the thé:

“ Còn nhược bằng thiếu hiệp vẫn kiên quyết ý tiêu diêu tự tại, thì trong hộp sắt này là thánh chỉ đề yêu cầu của bệ hạ, đúng theo ước hẹn Vọng Nguyệt Lầu. ”

Hồ Phiêu Hương thầm nghĩ:

[ Chỉ có vào triều làm quan, hoặc tiêu diêu tự tại, không có lựa chọn thứ ba là về nước đánh giặc. Xem chừng tên thái giám này cũng chú ý ngôn ngữ lắm. Hoặc giả, đây là bẫy của Chu Đệ chăng? ]Cô nàng bèn lên tiếng:

“ Nếu thế thì xin đội ơn hoàng đế triều Minh. Xin hỏi vị thái giám này, có thể để chúng tôi mở hộp đọc kỹ thánh chỉ rồi mới quyết định hay không? ”

Thái giám bèn nói:

“ Đây là mật chỉ của bệ hạ, đâu thể muốn đọc là đọc được? Cứ như khẩu dụ mà làm, cậu chọn một, đốt bỏ một. Trước đó không được mở hộp ra. ”

Tạng Cẩu nghe xong chỉ cười, đoạt rút kiếm Thuận Thiên, một nhát kiếm chém đứt đôi cả hai cái hộp. Hai tờ thánh chỉ đứt đôi, lăn dài, để lộ những hàng chữ giống nhau như đúc.

Cậu chàng nhún vai:

“ Cả hai cái hộp tôi đều chưa từng mở, còn thánh chỉ thì cứ nói lại với Chu Đệ là cả hai tờ đều đã hóa ra tro rồi. ”

Thái giám nọ mặt tái mét, run rẩy nhặt cả hai tờ thánh chỉ lên, bụng dạ lầm bầm chửi rủa hai người chẳng biết thân biết phận. Song, Thuận Thiên kiếm sắc bén thế nào chính lão cũng đã thể nghiệm, thành thử những lời oán độc ấy lão tuyệt không dám thở ra khỏi mồm đến nửa chữ.

Tạng Cẩu cũng chẳng thèm chấp…

Lại qua một chốc, thì có một tên Xưởng Vệ tìm đến phủ, nói:

“ Tạng Cẩu, Hồ Phiêu Hương hãy đến nghe chỉ. ”

Nói đoạn, hắn hắng giọng một cái, nói:

“ Trẫm trước nay vẫn quý tài hai khanh, nhiều lần có ý giữ lại để dùng, song các khanh vẫn nhất mực từ chối. Nếu quả chưa chín, có hái ăn cũng chẳng ra gì. Ý hai khanh đã quyết, thì trẫm cũng thành toàn cho vậy. Nhưng cứ theo ước định giữa hai bên, thì hai khanh còn phải làm thay trẫm một việc trước đã. ”

Y ngừng một chốc, chờ hai người chuẩn bị tinh thần, rồi mới đọc:
“ Nay trẫm mới vừa bình định phương nam, thánh uy của thiên triều chưa kịp phủ xuống, lời dạy của thánh hiền chưa đặng giáo hóa kẻ man di. Thành thử Giao Chỉ vẫn còn nạn giặc cướp nhiễu nhương, trăm họ chẳng tài nào an cư lạc nghiệp. Trẫm nay là đức thiên tử, trên tuân mệnh trời, dưới thuận lòng dân, thay cho trăm họ nhờ Tạng Cẩu mang kiếm thần Thuận Thiên đến vùng Lam Sơn tiễu trừ tặc phỉ, trả lại thái bình cho bá tánh. ”

Lúc đọc đến đây, Nguyễn Phi Khanh không khỏi giật mình, mặt lúc đen lúc trắng.

Phản ứng của ông nào có thoát nổi con mắt xăm xoi của xưởng vệ nọ? Song, y không tỏ thái độ gì bất thường, chỉ chầm chậm đọc tiếp:

“ Để tránh chuyện đả thảo kinh xà, trẫm lần này chỉ có thể để một mình Tạng Cẩu về nước Nam. Sau khi xong việc về phục mệnh, có thể đón Lê Phiêu Hương đi cùng. Quan binh cả nước phải lấy lễ đưa tiễn, nếu ai không tuân, chém đầu thị chúng. ”

Đến đây thì y ôm quyền thi lễ, rồi từ tạ trở về.

Tạng Cẩu và Hồ Phiêu Hương nhìn nhau một cái, đoạn lại ngó Nguyễn Phi Khanh. Bấy giờ trông mặt ông tái xám, cơ hồ thoáng chốc già đi mấy chục tuổi. Ông loạng choạng, rồi ngã ngồi, ánh mắt thẫn thờ nhìn ra bên ngoài bờ tường.

Hồ Phiêu Hương thở dài, đoạn kéo tay Tạng Cẩu, nói:

“ Cẩu theo Hương vào đây một lát. ”

Cô nàng dẫn cậu chàng vào buồng, rồi lặng lẽ chạy xuống bếp. Tạng Cẩu, lúc này cũng đã mơ hồ đoán được tại sao hai người Nguyễn Phi Khanh, Hồ Phiêu Hương lại hành xử như hiện tại, chỉ biết ngó trân trân thanh kiếm Thuận Thiên trong tay.

Nguyễn Phi Khanh đã phản ứng dữ dội đến thế, thì chỉ có một khả năng mà thôi.

Vị “ thủ lĩnh sơn tặc ” kia ắt hẳn là một nghĩa sĩ kháng Minh. Mà đã có thể lọt vào mắt Chu Đệ thì há lại có thể là kẻ tầm thường cho được? Thậm chí, y là lá cờ đầu trong việc đánh giặc cứu nước cũng không biết chừng.

Thành thử, Tạng Cẩu tuyệt đối không thể ra tay giết y được.

Song…

Điều ấy nghĩa là cậu chàng không thể hoàn thành được cuộc đánh cá với Chu Đệ.

Cũng có nghĩa…

Hoặc là cậu chàng ở lại Nam Kinh cả đời không đi đâu cả, hoặc là từ nay không bao giờ được gặp Hồ Phiêu Hương lần nữa.

Lúc này, Tạng Cẩu bất giác nhớ lại những gì Nguyễn Phi Khanh nhờ cậy.

Phải mang được kiếm Thuận Thiên về nước, tìm cho ra sách báu Binh Thư Yếu Lược!

Cậu chàng nghiến răng, siết chặt nắm đấm đến độ các lóng tay trắng bệch. Mặt Tạng Cẩu đỏ lên như gấc, mấy lần há miệng muốn gào lên cho hả nhưng chẳng thể nào cất lời. Tiếng hét thất thanh cứ nghẹn mãi ở cổ họng…

Tạng Cẩu từng trải qua nhiều biến cố người thường chẳng hình dung nổi, cũng từng đánh với nhiều đối thủ ghê gớm khó nhằn, từ hung vật viễn cổ đến oan hồn trăm năm. Thế nhưng, hiện tại cậu chàng thấy, chính cái sự giằng xé trong tâm khảm mới khó giải quyết nhất.

Một mặt, cậu chàng hi vọng cái vị thủ lĩnh sơn tặc kia là bậc minh quân hiếm thấy mà nước Nam đang chờ, có thể sớm ngày cứu cả dân tộc khỏi chảo lửa hung tàn của ách thuộc địa. Nhưng mặt khác, cậu chàng lại mong sao y cũng chỉ thường thường thôi, thậm chí là hạng tiểu nhân ti bỉ cũng tốt… Có vậy, cậu chàng xuống tay mới không áy náy, có thể đoàn tụ với Hồ Phiêu Hương. Tạng Cẩu cứ mãi mâu thuẫn, đắn đo, về một người chưa biết, về một tương lai mờ mịt.

Chẳng rõ là bao lâu sau, Hồ Phiêu Hương đẩy cửa phòng bước vào, tay bưng hai khay gỗ đặt tám đĩa thức ăn.

Tạng Cẩu ngóc đầu nhìn, thấy khóe mắt cô nàng hơi đỏ lên, hẳn nhiên trước đấy đã khóc một lần, lòng càng loạn như tơ rối.

Chương 354: Hồi hai mươi tám (16)

Hồ Phiêu Hương đặt hũ rượu xuống bàn, nắp bùn bị bóp vỡ, hương nho thoang thoảng nức lòng. Cô nàng nén lệ nơi hàng mi, cười mà rằng:

“ Món thứ nhất, Nghi Lâm đấu Túy Tiên, Huyết Bồ Đào cứu mạng. ”

Rồi món thứ nhất được đặt lên bàn.

Một chõ bánh hấp, cô nàng còn cố tình làm bốn màu, xanh trắng hồng vàng, trông cực kì sặc sỡ.

“ Món thứ hai: Thái Nguyên cản tứ đại đương gia. ”

Một đĩa rau xào, bày theo hình bát quái.

“ Món thứ ba: Tất gia trang liều mạng phá Bát Quái thần chưởng. ”

Món thứ ba cô nàng bày lên bàn, là một nồi thịt ngựa:

“ Món thứ tư: Nhạn môn quan ác đấu Gia Luật Sở Tài… ”

Lúc này, chén rượu bồ đào đặt trước mặt Tạng Cẩu không ngừng xao động lăn tăn. Mà tâm cảnh của cậu chàng, cũng như mặt rượu kia, xuất hiện sóng gợn không ngớt. Cho dù có dùng vô ngã, cũng chẳng thể ngăn nổi.

Hồ Phiêu Hương kín đáo đưa tay lên, quệt dòng lệ, lại đặt đĩa thức ăn thứ tư xuống bàn.

Một bát cháo hoa, mười tám cọng mộc nhĩ thái mảnh.

“ Món thứ năm: chùa Thiếu Lâm phá trận người đồng. ”

Cô nàng nói đến đây, bỗng nấc một cái, đoạn cười:

“ Cẩu chớ có ngăn cản, cũng đừng nói gì cả. Hôm nay là ngày rất đặc biệt, Hương phải nói kỹ càng cặn kẽ cả tám món mới thôi. ”

Lúc này, nắm tay Tạng Cẩu đặt trên bàn đã thả lỏng ra. Cậu chàng vẫn không nói gì, cũng không có phản ứng gì thái quá, chỉ im lặng nhỏ nước mắt vào chén rượu.

Hồ Phiêu Hương hít sâu một hơi, lại cười khổ, nói:

“ Món thứ sáu: Tam Môn Hiệp cứu Tần Trảm, đánh Gia Luật Vân. ”

Trên đĩa là một con gà, trong bụng nhồi trứng luộc, trước mỏ lại đặt một quả trứng bị bửa làm đôi, lấy ý là cha hại con…

“ Món thứ bảy: Tây An trúng kế Lí Thông. ”

Hồ Phiêu Hương đặt một túi thơm lên bàn, hương hoa thoang thoảng khiến lòng người như say đi. Tạng Cẩu nuốt khan một cái, định nói gì đó, song lại thôi.

Sau cùng, cô nàng đặt một bát canh lên bàn, đoạn tuốt đao Lĩnh Nam chém phăng cái chôn bát.

“ Cuối cùng: Mộ Thiên Vương sâu như đầm không đáy, nguy hiểm trùng trùng. ”

Bày biện xong xuôi, Hồ Phiêu Hương mới chậm rãi ngồi xuống đối diện với Tạng Cẩu, nói:

“ Xong rồi, Hương mất công chuẩn bị thế này, Cẩu không ăn bằng hết thì không được đâu. ”

Tạng Cẩu nghiến chặt răng, tóm Thuận Thiên kiếm đứng dậy, nói:

“ Hương! Chúng ta xông ra ngoài! ”

Hồ Phiêu Hương lắc đầu, đáp:

“ Chẳng ích gì đâu. Chớ nói bên ngoài có trọng binh vây tầng tầng lớp lớp, cho dù Cẩu phá được vòng vây, thì bác Trừng biết phải làm sao? Về nước? Đâu còn đường nào mà đi nữa? Hà huống, tai mắt Chu Đệ trải khắp thiên hạ, tin tức linh thông nhanh hơn cả vó ngựa. Chỉ cần lão ta có lòng theo dõi, chúng ta chạy lên trời lão cũng biết.

Chạy không thoát, tức là chỉ có chết. Nếu thế thì kiếm báu về tay người Tàu rồi còn đâu? Chuyện này hệ trọng, liên quan tới sinh tử tồn vong của Đại Việt, tự chủ tự cường của người Nam. Cẩu không thể vì xúc động nhất thời mà khiến dân ta lần nữa lầm than cả ngàn năm được. ”

Cô nàng ngừng một chốc, rồi tiếp:

“ Chúng ta đã hứa với bác Khanh, giá nào cũng phải mang kiếm thần Thuận Thiên và chìa khóa Loa thành về, tìm cho kì được sách báu Binh Thư Yếu Lược của Hưng Đạo Đại Vương. Theo như truyền thuyết, thành Cổ Loa có chín vòng tường đất, nhưng nay lại chỉ còn ba. Vậy thì bí mật của chiếc chìa khóa Loa thành hẳn có liên quan tới sáu vòng thành đã biến mất kia. Cẩu mang kiếm về nước, có thể bắt đầu từ manh mối đó. ”

Thấy Tạng Cẩu vẫn không nói không rằng, Hồ Phiêu Hương mới thở phào, tỏ ý an lòng. Cô nàng lại lấy trong áo ra một túi gấm, đưa cho cậu chàng, dặn rằng:

“ Cẩu về nước, đến biên ải thì mở túi gấm, sẽ biết phải làm gì. Còn có, hãy mang theo đao Lĩnh Nam. Đây là thánh vật của thánh tổ Nguyễn Minh Không để lại cho võ lâm đất Nam, không thể chôn cùng Hương ở xứ người được. ”

Bấy giờ, Tạng Cẩu mới ngẩng đầu, mắt đỏ ngầu nhìn cô nàng, hỏi:

“ Vậy… sau này Hương có dự tính gì? ”

Chỉ thấy Phiêu Hương cúi thấp đầu, không đáp không rằng. Cậu chàng bèn cắn răng, đoạn xé áo cắt đầu ngón tay, viết một bức huyết thư giao cho cô nàng.

Hồ Phiêu Hương thấy đó là thư thôi vợ, không khỏi giật mình một cái, đoạn nước mắt lại lăn dài không kiềm chế được nữa. Hai người ôm sát nhau, thổn thức từng tiếng, biết rõ trong lòng lần này Tạng Cẩu dứt áo ra đi thì tương phùng sẽ xa như lên trời vậy.

Tạng Cẩu biết bản tính Phiêu Hương vốn ương bướng lại cứng cỏi, sợ cô nàng sẽ ở vậy mà lỡ mất thanh xuân, thế nên mới viết thư thôi vợ.

Lúc này, cách phủ viện của Hồ Nguyên Trừng không xa, trong một ngôi lầu nhỏ ở thượng uyển, Chu Đệ đang ngồi thưởng trà một mình. Sau lưng y, một tên Xưởng Vệ đang quỳ một gối chờ được miễn lễ. Có lẽ y vừa bẩm báo gi đó với Vĩnh Lạc.

Chu Đệ nâng chén, cạn một nửa, đoạn nói:

“ Được rồi, quả nhân đã biết. Nhà ngươi làm tốt lắm. ”

Xưởng vệ nọ như kẻ được ân xá, vội vàng xin cáo lui.

Chỉ còn một mình trong khu vườn, Vĩnh Lạc đế chầm chậm nhắm mắt, thưởng hương trà thấm vào gan ruột. Nói đoạn bẵng đi một cái, sau lưng lão đã xuất hiện một tên thái giám già.

Cỏ không lay, cây không động, chẳng có lấy một âm thanh hay dấu hiệu gì. Lão thái giám già cứ như thể bỗng nhiên hiện ra từ không khí vậy.

Lão cất tiếng nói ồm ồm, lành lạnh:

“ Bệ hạ, tiểu tử kia tài võ không tệ, thiên hạ này e chỉ có mấy người khống chế nổi nó. Nay thả nó về nước, khác nào thả hổ về rừng? ”

Vĩnh Lạc đế không đáp, chỉ cười:

“ Lí khanh gia, khanh có phải đang thắc mắc tại sao trẫm lại dễ dãi với bọn An Nam như vậy? ”

Y ngừng một chốc, thấy tay thái giám vẫn im lặng, lại nói:

“ Lí đại nhân đây đường đường là quan cao nhất phẩm, xưa nay trẫm dùng khanh cũng vì khanh tài trí hơn người, thế mà lần này lại không đoán ra à? ”

Người nọ ngẩng đầu, té ra chính là cái lão Lí công công từng bị Gia Luật Sở Tài “ giết chết ”, tráo người của mình vào cung. Nay y chẳng những còn sống sờ sờ, tính tình còn khác hẳn, thật đúng là quái lạ.

Y bèn nói:

“ Đại quan đầu triều hay thái giám thì chẳng qua cũng chỉ là một thân phận. Bệ hạ thích ban thì thần được hưởng, thích thu lại thần cũng chẳng oán trách chi được. Nhưng thần nhớ rõ ràng hồi trước bệ hạ nói chuyện với Vương Sài Hồ, có nói kiếm Thuận Thiên là thật hay giả chẳng quan trọng, miễn là đám An Nam tin ấy là biểu tượng cho đế quyền là được. Tại sao nay lại đổi ý? ”

Vĩnh Lạc cười, đáp:

“ Nói đúng lắm. Thanh kiếm đó tuy đúng là báu vật có một không hai, nhưng thực chất là kiếm giả mà thôi. Thời Tần Triệu xưa, dân An Nam dùng chữ Khoa Đẩu, nay đã thất truyền chẳng còn ai đọc được. Trên kiếm thần há lại có chuyện có hai chữ “ Thuận Thiên ” như thế? ”

Lí công công bèn hỏi:
“ Vậy… bệ hạ cố tình thả tiểu tử kia ra, chẳng qua là đổ dầu vào lửa? ”

Chu Đệ cười gằn, nói:

“ Trẫm há lại không biết thằng nhóc này sẽ tráo trở, về nước đánh quân thiên triều ta? Ta muốn dùng Lê Trừng, đương nhiên sẽ không giết y. Cũng không thể tung quân giam lỏng chúng cả đời cho được. Nếu kiếm đã giả, chi bằng ta tương kế tựu kế? ”

Vĩnh Lạc đế đứng phắt dậy, phủi tay áo bào, ngẩng đầu lên không nói.

Lí công công bèn tiếp:

“ Thần đã hiểu. Thần sẽ cho người cố ý nói lộ ra cho tai mắt bọn An Nam biết, tiểu tử này cầm kiếm giả về giết sơn tặc Lam Sơn, sau đó mạo nhận làm thiên tử nước Nam, thần phục thiên triều ta vĩnh viễn. Nó đã từng có thời theo hai vị vương gia, lại có nghĩa huynh đệ với Liễu tướng quân. Tri nhân tri diện bất tri tâm. thế hẳn là đủ khiến đám giang hồ thảo mãng tin sái cổ. ”

Chu Đệ gật gù, cười:

“ Làm tốt lắm. ”

Lão thái giám Lí nọ lại quỳ gối, nói:

“ Tên thế thân của thần bị quân Mông Cổ giết hại, trà trộn vào triều ta, hẳn cũng là sắp xếp của bệ hạ. Tuy chỉ là con tốt thí, đã hết tác dụng, song cũng coi như chết vì xã tắc. Nay thần đã về triều, khẩn xin hoàng thượng thăng quan cho anh của y một bậc, coi như là an ủi. ”

“ Chút chuyện nhỏ này ngươi cứ tiền trảm hậu tấu là được. ”

Chu Đệ cười nhạt.

Chẳng là lúc bắt đầu khởi công Đại Vận Hà, lão đã cử thái giám thân tín là Lí công công rời cung. Để che mắt thiên hạ, đã tìm một thế thân cho y – là cậu em trong một đôi anh em song sinh, vốn là tử sĩ được nuôi dạy từ nhỏ, rất mực trung thành. Tráo người xong, Vĩnh Lạc cũng không trọng dụng gì tên thế thân nọ. Thành ra người này chức vị tuy cao, có thể biết vài chuyện cơ mật, song lại không quá thân cận với Vĩnh Lạc. Cả hậu cung đồn ầm lên chuyện lão ta thất sủng.

Vĩnh Lạc thấy thế, biết là tên thế thân nọ là mục tiêu béo bở cho bọn Gia Luật Sở Tài và Tửu Thôn đồng tử, bèn cho Xưởng vệ theo dõi thế thân của Lí công công nhất cử nhất động. Quả nhiên gian tế của Mông Cổ đã lấy thân phận của y, trà trộn vào cung.

Như thế, Chu Đệ chuyển từ bị động sang chủ động, Gia Luật Sở Tài và Tửu Thôn đồng tử tưởng là đã cài được tai mắt vào bên cạnh y, kì thực chỉ được biết những gì y muốn chúng biết. Đến khi thời cơ chín muồi, lại lợi dụng tên gian tế này, dẫn dụ Tửu Thôn đồng tử đến ám sát lão, mượn cớ thanh trừ quan lại cựu triều còn chống đối.

Vĩnh Lạc những tưởng võ công y ẩn giấu là đủ để trấn áp thích khách, nào ngờ Tửu Thôn đồng tử quá ư hung mãnh. May sao, lúc ấy Tạng Cẩu lại đến, giúp y kéo dài thời gian.

Sau khi cậu em chết, Vĩnh Lạc tiếp tục để người anh vào sắm vai Lí công công. Cái người hôm trước dẫn Tạng Cẩu vào cung là y, còn hôm nay Lí công công thật mới trở về. Trong hoàng cung thời xưa, chết một hai tên thái giám, dăm người cung nữ cũng khó mà có người biết được. Nhưng Vĩnh Lạc không muốn thế thân của Lí công công chết, đơn giản là giữ sẵn đường khôi phục thân phận cho tay thân tín của mình.

Thành thử, mới dùng người anh trong đôi song sinh.

Chuyện cũ chỉ có thế…

Nay, lại là chuyện mới.

Sự thực y để Tạng Cẩu về nước là muốn lợi dụng cậu chàng như cây gậy khuấy biển, làm nước Nam rối tinh rối mù, đấu đá lẫn nhau. Các lộ nghĩa binh vốn như đám bèo, nay càng thêm năm bè bảy mảng, nghi kị đối phương, khó mà quy về một mối, thờ chung một chủ.

Hà huống, kiếm Thuận Thiên về nước, nào có ai quan tâm là kiếm thật hay giả? Chỉ cần nó đại diện cho ngôi cửu ngũ chí tôn, tự khắc sẽ kiến các lộ nghĩa binh nước Nam tranh giành đấu đá đến sứt trán mẻ đầu. Qua vài năm, đợi quân Minh khôi phục, sẽ dùng thế lũ cuốn đất sạt, quét phăng hết các lộ nghĩa quân.

Chim nhiều thóc ít, mật ngọt chết ruồi…

Mặt khác, còn là để tách hai người Tạng Cẩu Phiêu Hương ra, không cho cùng tiến cùng lui như trước.

Lão đoán rằng lần này trở về, ắt hai người sẽ đi tìm Binh Thư Yếu Lược. Sách báu đã được cất giấu bấy lâu nay cũng không có tăm tích, nước Minh cướp được Đại Việt rồi mà vẫn chưa thấy anh hùng hào kiệt nào lấy ra dùng. Điều đó chứng tỏ muốn tìm được sách báu, có lẽ không đến nỗi khó khăn nghìn trùng như tìm kiếm Thuận Thiên, nhưng cũng tuyệt chẳng phải chuyện dễ dàng gì.

Giam lỏng Hồ Phiêu Hương, cũng như lấy đi khối óc của Tạng Cẩu vậy. Lại thêm chuyện li gián, võ lâm nước Nam nghi kị đuổi giết, e rằng cả đời cậu chàng cũng khó lòng tìm ra nổi sách Binh Thư Yếu Lược

Ấy cũng là một lí do tại sao lão thả Tạng Cẩu về nước.

[ Nó bị người nước Nam đuổi giết một hồi, tuyệt vọng sinh oán hận, sẽ dốc sức vì thiên triều cũng không chừng. ]

Chu Đệ nghĩ thầm, trong lúc thưởng thức hương trà còn lảng vảng mãi nơi cuống họng.

Rốt cuộc…

Sáng sớm một hôm nọ, Tạng Cẩu vai đeo gánh hành lí, trong ngực áo có túi gấm của Hồ Phiêu Hương. Nơi yên cương buộc thanh kiếm Thuận Thiên và đao Lĩnh Nam chung một chỗ.

Trước mặt là dòng Tần Hoài mênh mang, bóng thuyền đã loáng thoáng nơi đầu sóng. Cậu chàng bất giác ngoái đầu về phía phủ đệ của Hồ Nguyên Trừng một cái, nháy mắt biết bao ký ức ùa về.

Trong phủ đệ, Hồ Phiêu Hương chẳng thấy tăm hơi, chỉ có Nguyễn Phi Khanh và Lê Trừng chắp tay cùng sá về phương Nam, vừa để chia sầu, vừa chúc Tạng Cẩu bình an hoàn thành sứ mệnh. Bấy giờ, Nguyễn Phi Khanh lại quay sang:

“ Thế chú đã có dự định gì chưa? ”Lê Trừng bèn đáp:

“ Chẳng giấu gì anh. Em thấy người bắc coi thường nước Nam ta, âu cũng vì dân họ nghĩ mình là hạng man di không có văn hiến thổ phong riêng. Lại hiếm có sách vở gì lưu truyền trong dân gian cho người ta biết về các nhân tài dị sĩ trong nước. Nay em muốn chép một sách, bằng Hán văn cho người Tàu đọc mà biết rằng nước Nam cũng là văn hiến chi bang chứ chẳng thua gì ai. ”

Nguyễn Phi Khanh vỗ vai, cười mà không nói không rằng.

Nói đoạn, Tạng Cẩu tế ngựa, chọn đường phóng ra ngoài thành. Đám binh sĩ thủ thành có buông lời trêu chọc đùa cợt, song cậu chàng chẳng tâm trạng đâu mà để ý tới chúng, thành ra được một lúc thì bọn này chán. Kiểm tra giấy thông hành xong, chúng cũng thả cho Tạng Cẩu đi.

Bấy giờ, một mình một ngựa trên quan đạo, cô phong thổi áo bào bay phần phật. Loáng thoáng bên tai là tiếng trăm họ chuyện trò, bàn tán rằng Liễu Thăng đã phá được quân hải tặc Bồng Lai ở phía đông. Tạng Cẩu lại nghĩ, biết đến bao giờ người nước Nam mới được như vậy, hào hứng kể cho nhau nghe chuyện đánh đuổi ngoại xâm?

Chẳng biết là bao lâu sau, nhưng nếu tìm được sách Binh Thư Yếu Lược, chắc chắn ngày thái bình sẽ sớm ngày quay lại với núi sông Đại Việt…

Thế là cậu chàng xiết bàn tay quanh chuôi kiếm Thuận Thiên, lòng quyết tâm càng thêm sắt đá. Tạng Cẩu tế ngựa, giục cương, tiếng vó ngựa khua rổn rảng như đang gieo vang trên đường lớn…

Hiệp khách ruổi ngựa về cố quốc, lòng vừa thương tâm lại vừa có hào khí cháy hừng hực, bỗng nhiên ngửa mặt mà ngâm thật to rằng:

“ Mãn giang hà xứ hưởng đông đinh,

Dạ nguyệt thiên kinh cửu khách tình.

Nhất chủng Tiêu quan chinh phụ oán,

Tổng tương ly hận nhập thu thanh. ”

( Dịch nghĩa

Từ đâu vẳng đến khắp sông tiếng nện thình thình?

Trong đêm qua làm kinh động lòng khách trú lâu ngày ở đây

(Như) một nỗi ta thán của người chinh phụ có chồng đang ở chốn Tiêu quan

Cả một niềm ly hận như thấm vào tiếng thu

Dịch thơ:

Tiếng nện thình thình khắp sông khơi,

Trăng đêm lữ thứ não dạ người.

Oán lòng chinh phụ sầu quan ải,

Đong đầy ly hận tiếng thu rơi.

Thôn Xá Thu Châm – Nguyễn Trãi, bản dịch của Viên Thông tại thivien.net)

Tựa như chưa đủ nói hết tâm tình trong dạ, cậu chàng lại vận công khởi kình, tiếng ngâm nga vang khắp cả mấy dặm đường đất, vó ngựa chẳng sao át đi nổi:

“ Sinh thế na kham tiện trượng phu,

Ly khâm nhẫn đới lệ ngân khô.

Nhật trầm Kiến Lĩnh minh đầu quán,

Tuyết tễ Trường Châu thự giới đồ.

Thiên địa vị dung tư đạo xả,

Giang sơn khẳng ngoại thử thân cô.

Minh thời thảng hiệu hào phân bổ,

Vạn lý ninh từ ngã bộc phu. ”

( Dịch nghĩa:

Sống trên đời chịu sao được tiếng trượng phu hèn,

Vạt áo chia ly đành mang theo ngấn lệ khô.

Mặt trời lặn trên Kiến Lĩnh, nhá nhem tìm quán trọ,

Tuyết ráo đất Trường Châu, tảng sáng đậy dò đường.

Trời đất chưa nở để đạo này bị xoá bỏ,

Non sông cũng chưa bỏ ra rìa tấm thân cô đơn này.

Ví chăng có gắng gỏi báo đáp được mảy may nào cho đời thịnh,

Đường đi vạn dặm, dù thầy tớ mệt nhoài, đâu dám từ nan.

Dịch thơ:

Tiếng trượng phu hèn khó nuốt trôi

Chia ly vạt áo lệ khô rồi

Chiều buông Kiến Lĩnh tìm nơi trọ

Tuyết dứt Trường Châu sớm bước thôi

Trời đất đạo này chưa vứt bỏ

Non sông thân độc vẫn dùng tôi

Đáp đền gắng gỏi đời thêm thịnh

Vạn dặm ngại đâu mệt rã rời.

Khách Lộ - Nguyễn Phi Khanh, bản dịch của Nguyễn Văn Dũng Vicar, thivien.net)

Phương xa, lại có hai ông già, một lão đạo ăn bận lôi thôi, một ông già mặc áo sờn thắt đai cỏ nhưng sạch sẽ chỉnh tề. Họ nói với nhau mấy lời, nhưng tiếng vó ngựa vang rền, nên không nghe rõ…

Chương 355: Lời kết thiên

1. Đính chính:

_ Cả Đại Việt Sử Ký lẫn Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục đều có chép rõ việc Bùi Nột Ngôn, Hồ Nguyên Trừng và Hồ Nghiện Thần, nhưng Minh Thực Lục không thấy ghi đến. Ở đây, để tránh việc có người bảo tác lập lờ, muốn rửa tội bán nước cho Hồ Nguyên Trừng, thì tác xin được tổng hợp tóm tắt tất cả các trường hợp có thể xảy ra như sau:

+) Bùi Nột Ngôn nói lời gian trá để triệt hạ Nghiện Thần

+) Bùi Nột Ngôn nói thực, Hồ Nguyên Trừng và Hồ Nghiện Thần bán nước.

Ở trường hợp thứ hai, tác giả thấy có hai điểm hơi mâu thuẫn là:

a) Năm 1411 thì sứ đoàn sang Tàu, cứ như chính sử thì từ lúc ấy bố phòng trong nước đã bị quân Minh biết. Đến năm 1413 thì Phan Quý Hựu hàng, cũng nói hết quân cơ bố phòng cho Trương Phụ, chẳng phải thừa hay sao? Đáng nói là, sử cũng chép vì biết những chuyện này nên Phụ mới thôi do dự, quyết ý lấy được Hoá châu. Và chỉ ba tháng sau khi Quý Hựu hàng giặc thì Hậu Trần mất. Cũng tức là: nếu Hồ Nguyên Trừng và Hồ Nghiện Thần cấu kết thật, thì nhà Hậu Trần phải mất nước sớm hơn. Ở đây không ngoại trừ khả năng Hồ Nghiện Thần nói quân cơ giả để cho qua, rồi bị Bùi Nột Ngôn hãm hại. Ta coi là một nhánh nhỏ của 2 trường hợp

b) Điều thứ hai, ấy là nếu Hồ Nguyên Trừng bán nước cầu vinh thật, thì đáng nhẽ sách Nam Ông Mộng Lục của ông ta phải đầy lời lẽ mạt hạng đớn hèn, thậm chí tự coi là người Tàu như tên Lê Tắc khi soạn Đại Nam thực lục mới phải. Hoặc, ngay như cùng thời Hồ mạt thuộc Minh cũng có Mạc Thuý viết tấu trương tự nhận là man di, xin làm quận huyện cho giặc. Nhưng Nam Ông Mộng Lục lại đầy vẻ tự tôn, muốn cho người Tàu biết dân ta cũng có bề dày văn hoá lâu đời, người tài lớp lớp. Nước ta cũng là “văn hiến chi bang” như Nguyễn Trãi chép trong Bình Ngô Đại Cáo. Viết như vậy, mình thấy chẳng thêm được lợi lộc gì với một tên bán nước. Văn học là tiếng lòng, không thể giả dối, càng khó mà giấu được người đời sau. Ấy cũng là nguyên do mình tin Hồ Nguyên Trừng không bán nước…

_ Đương nhiên, cũng có người nói ấy là Hồ Nguyên Trừng cuối đời thấy tủi hổ, muốn chuộc tội với núi sông. Ấy cũng có lẽ là thật. Nhưng thiết tưởng tội “bán nước” là cái tội nặng tày trời, đáng bị đời sau khinh thường. Thành thử, trước khi viện sử học và các giáo sư tiến sĩ trong ngành, hiểu rõ cặn kẽ hơn xa những người ngoài nghề như mình đưa ra kết luận sau cùng về Hồ Nguyên Trừng thì tác không muốn hàm hồ khép cho ông một tội nặng như vậy. Huống chi, Hồ Nguyên Trừng còn được đặt tên đường cho nhiều thành phố từ bắc chí nam. Nếu ai không biết thì quy trình xét duyệt để được đặt tên đường gắt gao lắm các bạn ạ. Đến như ông Nguyễn Cao Luyện, người được mệnh danh là cha đẻ của kiến trúc hiện đại Việt Nam, có công rất lớn với cách mạng mà gần đây mới được vinh danh ở Hà Nội và Đà Nẵng cơ mà. Mình nghĩ viện sử học, Đảng và nhà nước sẽ không tự nhiên vinh danh một con người “bán nước”. Thế nên, mới có tình tiết xuyên suốt thiên thứ hai trong truyện. Mình nghĩ đây là sự tổng hoà trung dung nhất, vừa không kết tội Hồ Nguyên Trừng một cách bất cẩn, vừa tránh gây ra mâu thuẫn nêu ở trên trong sách chép, lại vừa cho Bùi Nột Ngôn lợi ích hoài nghi, cũng giải thích được tại sao từ một Tả Tướng Quốc: “thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi” Hồ Nguyên Trừng lại đầu hàng, làm quan cho nhà Minh.

_ Nhân đây, tác cũng xin nhắc lại quan điểm về lịch sử của bản thân. Sử là một môn khoa học, mà đã là khoa học thì luôn luôn mở rộng, luôn chào đón và có chỗ cho các cải chính, các sửa đổi và các phát hiện mới. Thế nên, tác không đồng tình với ý nghĩ: “chính sử là tuyệt đối” như nhiều tác giả khác viết cùng thể loại, vì với mình thì ý nghĩ ấy phản khoa học. Đối với tác, lật sử là một âm mưu đê hèn nhằm phủ nhận thành quả cách mạng nước ta và cần có sự đấu tranh phản đối của mọi người. Song, nhiều bạn / anh (chị) lại đánh đồng sử cận đại với lịch sử trung đại, lại gán cho bất kì ai hoài nghi tính chân thực của sự kiện Hồ Nguyên Trừng – Hồ Nghiện Thần – Bùi Nột Ngôn là “rửa tội bán nước”, là “lật sử”, là “không hiểu bản chất”, là “sai cơ bản” thì mình thấy thế là không đúng. Sử cận đại mình nghĩ có thể tin cậy hoàn toàn được do các nhân chứng sống của một thời khói lửa đạn bom hãy còn sống, còn thuật lại cho đời sau những điều mắt thấy tai nghe, tự mình trải nghiệm. Nhưng sử trung đại thì không nên tiếp cận như vậy. Lấy ví dụ, nếu như ta coi chính sử mà là tuyệt đối thì đã không có các buổi toạ đàm, nghiên cứu mà giới sử học cãi nhau sứt đầu mẻ trán. Những người như Mạc Thái Tổ, Quang Trung hoàng đế cũng sẽ không được minh oan. Những việc như Mai Thúc Loan khởi nghĩa kéo dài đến vài năm chứ không ngắn ngủi như trong sách, nguyên nhân ông khởi nghĩa không phải do nạn cống vải.v.v… cũng không được cải chính. Thế nên, mỗi giai đoạn lịch sử ta lại cần một cách tiếp cận riêng cho phù hợp. Ngoài ra, đọc sách sử, cũng phải thận trọng, vừa phân tích, vừa sàng lọc xử lí lại thông tin.

_ Về Nguyễn Trãi: lúc đầu đặt bút viết thì mình không nghĩ có ngày phải nói lời này, song do trong quá trình mình gặp vài thành phần khá là ba chấm nên buộc phải lên tiếng luôn để mọi người đỡ thắc mắc. Trước tiên, việc cụ ở cái lúc nửa ông nửa thằng và có nhiệm vụ đi tìm sách Binh Thư Yếu Lược đã được lên kế hoạch từ thiên thứ nhất, cuối hồi mười hai, cụ thể là ở chương thứ chín mươi bảy. Đây cũng là sự giải thích của mình cho việc cụ không có mặt ở hội thề Lũng Nhai mà lưu lạc mười năm ròng không có lấy một ghi chép.

Ngoài ra, ý kiến cho rằng cụ Trãi đứng đầu Lam Sơn cầm tay chỉ việc cho các tướng là sai, nhưng cũng có vài thành phần tìm hiểu nửa vời bảo cụ là “vô dụng” thì lại càng lầm lẫn. Thứ nhất, cụ Nguyễn Trãi một mình kiêm bốn chức dưới thời của Lê thái tổ: là Nhập Nội Hành Khiển, Lại Bộ Thượng Thư, Khu Mật Viện Sử và Tiền Liệt đại phu. Trong đó, Nhập Nội Hành Khiển và Khu Mật Viện Sử là hai chức quan đầu triều, chỉ thua tam công (bạn đọc ai chưa hình dung thì cứ hiểu nôm na tam công là tể tướng, chỉ dưới vua cho dễ). Chỉ cần kể đến hai người từng nắm chức Nhập Nội Hành Khiển trong quá khứ là Lý Thường Kiệt và Trần Quang Khải cũng đủ thấy sức nặng của chức vị này. Ngoài ra, thượng thư đứng đầu một bộ cũng là một chức quan trọng, cỡ tòng nhị phẩm.

Lê Lợi Lê thái tổ giỏi nhất là dùng người, chả nhẽ lại giao đến bốn chức quan trọng cho một người không có tài cán gì hay sao??

Điểm mù của lịch sử mà nhiều người – trong đó có không ít kẻ tiểu nhân – bỏ qua là thảm án Lệ Chi Viên. Dính tội khi quân thì biết bao tác phẩm, biết bao công trình, biết bao công lao bị phủ nhận? Cho dù sau này Nguyễn Trãi có được minh oan thì cũng là chuyện của cả hai đời vua sau đấy, công lao đã hoá tro tàn thì biết đâu nữa mà lần? Chẳng nhẽ chép bịa vào?Lại có ý kiến khác nói Lam Sơn thực lục không ghi công Nguyễn Trãi, mà do ấy là sách “Lê thái tổ viết” nên không bị sửa đổi. Thế lại càng sai lầm, vì sách ấy do Nguyễn Trãi biên soạn, Lê thái tổ chỉ viết tựa và ký là Lam Sơn động chúa mà thôi. Chớ nói Nguyễn Trãi sẽ không tự soạn sách khen mình, mà cho dù có đi nữa, thì Lam Sơn Thực Lục càng là mục tiêu bị sửa đổi, xoá công mới phải.

Còn như sau khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Trãi đi “ cãi nhau với thái giám ” thì mình thấy càng nực cười. Một người nếu lòng dạ nhỏ nhen như thế thì có mấy lần đã về ở ẩn rồi lại được vời ra giúp nước không? Các vua Lê chả nhẽ ấm đầu chăng? Đây có thể là một chi tiết được chép vào nhằm hạ thấp, bôi nhọ cụ.

Phan Huy Chú chép Nguyễn Trãi chỉ có công danh đứng hàng thứ chín trong khởi nghĩa Lam Sơn, ở đây mình không rõ ông tham khảo nguồn nào vì cả ba nguồn chính mình dùng là Đại Việt Sử Ký, Khâm Định Việt Sử và Lam Sơn Thực Lục đều chỉ nêu ba mức khen thưởng, và vài cái tên tiêu biểu được ban quốc tính. Thế nên mình chả rõ ông ta tham khảo nguồn nào, có đáng tin hay không.

Trên đây là các ý kiến hạ thấp Nguyễn Trãi do mình lượm lặt được, đa số đến từ những thành phần mà mình xin phép gọi là thùng rỗng kêu to, bản thân tiếp cận sai lại cho rằng kẻ khác “sai cơ bản”.

Tóm lại là:

=>Mình sẽ không thần thánh hoá cụ Trãi, nhưng cũng sẽ không hạ thấp cụ. Tác nghĩ chúng ta cứ thống nhất trước, không đến lúc viết rồi lại có người lôi họ hàng gia đình mình lên chửi thì không hay.

_ Ngoài ra, tác cũng đã thay đổi vài thứ nho nhỏ, song không có ảnh hưởng gì to tát đến chính sử. Những thay đổi này phần lớn trong phần lời tác giả cuối mỗi hồi đã có chú ý rồi nên thiết nghĩ không cần ghi lại nữa
2. Góc tri ân:

Thiên thứ hai kết thúc đánh dấu hành trình dài của Tạng Cẩu đã đi hết một nửa. Suốt chặng đường này có vui có buồn, có hào khí có chán trường, vô vàn cảm xúc lẫn lộn.

Kết thiên, tác xin được tri ân hai người có ảnh hưởng lớn đến tác.

_ Người đầu tiên, không ai khác, là bà ngoại của tác. Nếu như ông nội là người gieo mầm cho mình thích thú với sử, thì bà ngoại là người cho mình hứng thú với con chữ và chuyện viết lách. Chính bà đã giới thiệu người thứ hai cần tri ân cho tác, góp phần rất lớn trong việc hình thành nhân cách của mình. Ngoài ra, những kiến thức cơ bản về kinh mạch, huyệt đạo, đông y.v.v… mình nhắc tới trong truyện thực ra cũng có một phần da lông học hỏi từ bà, do nhà ngoại mình làm y gia truyền.

Bà mất hồi tháng 2 năm ngoái do ung thư, mà mình thì ở cách mấy ngàn cây số, chẳng thể nào về gặp bà thắp hương lần cuối. Hình ảnh mẹ Lê Lợi – bà Trịnh Thị Ngọc Thương – mình lấy cảm hứng rất nhiều từ bà ngoại, cũng là sự tri ân của mình tới bà trong truyện.

_ Người thứ hai là người vừa giúp tác hình thành phong cách, vừa giúp tác hiểu thêm về chủ nghĩa anh hùng, về chữ “hiệp”. Không ai khác, ông chính là cố tiểu thuyết gia Kim Dung – võ lâm minh chủ của thể loại võ hiệp. Từ hồi chưa biết chữ, bà ngoại đã đọc cho tác mấy đoạn Kim Dung. Truyền hình cũng liên tục chiếu các bản chuyển thể tiểu thuyết của ông, nên có thể nói mình như lớn lên với tiểu thuyết của Kim lão. Cái cách ông biến tiểu thuyết của mình thành một quyển Bách Khoa Toàn Thư về văn hoá Trung Quốc cũng là mục tiêu tác đang hướng tới, dù biết chắc rằng đường phải đi còn rất xa.

Tác chưa bao giờ muốn giấu, mà có thì cũng chẳng giấu được, là truyện của tác nhuốm màu sắc của truyện Kim Dung rất nhiều. Một sự thật mà thiết nghĩ bạn đọc nào cũng có thể nhận ra. Nhất là cái phong cách kể chuyện trái hẳn với truyện mạng bây giờ của cụ: “ văn của Kim Dung như nồi nước đặt lên bếp lửa, ban đầu thì tầm thường, nhưng càng để lâu càng sôi sục, càng cao trào, càng lôi cuốn ”…

Mình thấy ở điểm này, Kim lão có một nét rất tương đồng với cụ Nguyễn Đình Chiểu, xin trích nhận định của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng: “ Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng. Văn thơ Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy ”.

Có thể nói, nếu không có Kim Dung, có lẽ mình đã viết thể loại khác, với một cách kể chuyện khác hẳn bây giờ.

Đôi lời tri ân, trước khi chuyện tiến vào một hành trình mới…

Tác cũng xin được dừng truyện một thời gian, độ mươi ngày đổ lại trước khi bắt tay vào thiên thứ ba. Lí do là gần đây mình hơi bức xúc một số việc mà không tiện nêu ra trên trang truyện, nên cần có thời gian điều chỉnh lại cảm xúc rồi mới dám viết truyện tiếp. Tác tin rằng sáng tác là để hướng thiện con người, nếu như chính tác cũng ôm một bụng cảm xúc tiêu cực để mà viết chẳng phải hỏng bét, chẳng phải phản bội lại chính câu chuyện mình kể hay sao? Mong bạn đọc hiểu và lượng thứ

Nguyện sớm gặp lại trên giang hồ…

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau