THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 336 - Chương 340

Chương 336: Võ Lâm Toàn Thư phần 1 - Quốc Tử Giám

Năm ấy là năm Hưng Khánh thứ ba, thời vua Giản Định nhà Hậu Trần (1409). Nước ta bấy giờ vừa mất vào tay quân Minh, bọn gian thần ở chốn cố đô vừa mới dâng biểu xin làm quận huyện, hào kiệt bất mãn trước cảnh nước mất nhà tan nổi dậy khắp nơi. Trong đó có Trần Ngỗi xưng đế ở Mô Độ, được Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân theo hầu cự lại quân Minh…

Hai thầy trò Khiếu Hoá Tăng sửa soạn hành lí, định bụng sẽ đi đến làng Ngũ Xã cho sớm, kẻo hết đồng tốt.

Bấy giờ Đông Đô, hay như tên cũ là Thăng Long, đã thành hang ổ của bọn tham quan ô lại, bán nước cầu vinh. Trong thành nhìn đâu cũng có bóng quân Minh tuần tiễu, xét nẹt. Nhưng hai thầy trò một là ông sư ăn xin rách rưới, một là cô bé con chưa được mấy tuổi đầu, nhìn chẳng có vẻ gì là nguy hại nên bọn lính thủ thành chỉ giữ lại hỏi qua loa mấy câu rồi thôi.

Hai người tản bộ trong cái se lạnh của tiết trời cuối thu độ nửa canh giờ, thì ngang qua bốn trụ đá lớn, xa xa là một cánh cổng đá có dựng bia hạ mã. Khiếu Hoá tăng thẫn thờ đứng lại trước chốn xưa, đoạn chỉ chậm rãi lắc đầu thở dài, than rằng cảnh còn người mất.

Cô bé con - Linh Lan - thì kiễng chân nhìn qua bờ tường, thấy chốn này cây cỏ tốt tươi, cảnh sắc thanh nhã, lầu các đầy vẻ văn tĩnh bèn hỏi:

"Thầy ơi… Đây là nhà phú hộ nào thế?"

Khiếu Hoá tăng chậm rãi xoa đầu cô bé, giải thích:

"Không phải nhà phú hộ gì đâu con, nơi này gọi là Quốc Tử Giám, là nơi sĩ tử dùi mài kinh sử."

Linh Lan vẫn nghe hàng xóm nói với nhau đến Tết ra Văn Miếu xin chữ về treo, nhưng nó chưa bao giờ được đi cả. Nay cuối cùng cũng đến tận nơi, tính tò mò của trẻ con lại trỗi dậy, nằng nặc xin thầy cho vào xem xem chỗ này có gì hay mà người lớn ai cũng thích lui tới như vậy.

Ông sư già thấy trời còn sớm quá, chắc người trong Quốc Tử Giám vẫn còn ngủ chưa dậy, toan từ chối thì đã có tiếng người gọi với từ Văn Miếu Môn ra:

"Ai như thầy Khiếu Hoá tăng thế?"

Đoạn, lại có một cô nàng ăn vận theo lối học trò, tay cầm cái chổi chạy ra.

Khiếu Hoá Tăng ngó nàng ta một hồi, nhưng lại không nhận ra là ai. Hà huống, thuở xưa con gái không được lều chõng đi thi, khoa bảng đỗ đạt. Nên ông sư già đoán chừng nàng chỉ là giúp việc lặt vặt, phụ trách cơm nước mà thôi.

Nhưng đến đây ông lại thấy không đúng lắm… Nếu là người ở, tức không phải người trong chốn giang hồ, sao lại biết Khiếu Hoá tăng ông?

Ông còn đang nghĩ thì cô nàng đã nhanh nhẹn nói:

"Thầy cứ vào trong văn miếu thắp hương lễ lạt trước, con chạy đi gọi Tế Tửu đến."

"Thôi thí chủ không cần nhọc công. Bần tăng đi ngang qua đây, tức cảnh nên đứng lại thoáng chốc, bây giờ có việc phải đi gấp."

Ông nói nửa chừng, thì bỗng lấy trong túi áo ra ba nén hương trầm, một sấp giấy vàng mã, bảo:

"Nhờ thí chủ thắp giúp bần tăng nén hương."

Nói đoạn, dắt bé Linh Lan hãy còn đang phụng phịu đi nhanh về phía bắc, hướng phía hồ Kim Ngưu - hay còn gọi là hồ Tây - mà rảo bước.

Trên đường, cô bé con bèn mở to mắt, tỏ vẻ hiếu kỳ:

"Thầy ơi! Thầy quen người trong Quốc Tử Giám hả thầy?"

Khiếu Hoá Tăng bèn đáp:

"Tính ra cũng là chỗ người quen cũ."

"Tức là Quốc Tử Giám là thế lực chốn võ lâm? Sao thầy bảo là nơi học trò ôn thi?"Cô bé Linh Lan nghiêng đầu, hỏi dồn.

Ông sư già ho khan một cái, lại tiếp:

"Quốc Tử Giám quả thực là do vua lập nên làm nơi dạy học cho sĩ tử, nhưng lại cũng rất có danh vọng trong chốn võ lâm, sánh ngang với thiền phái Trúc Lâm. Tế Tửu, Tư Nghiệp của họ đều là mệnh quan được triều đình sắc phong, văn võ song toàn, có thể làm chuyện lớn, người giang hồ ai cũng kiêng dè kính nể. Thế nên, có thể nói nó là trường hợp đặc biệt, nửa nạc nửa mỡ."

Cô bé "à" một cái tỏ vẻ như đã hiểu, nhưng chưa được bao lâu thì lại hỏi:

"Thế võ công của họ so với thầy thì ai hơn ai ạ?"

"Chết! Khi không đang yên đang lành ai lại chạy vào nơi linh thiêng, văn nhã đòi đánh nhau? Chưa đánh bao giờ sao biết ai mạnh ai yếu?"

Khiếu Hoá tăng xua tay, rồi lại nghĩ cô bé này sau này đi lại chốn giang hồ nhỡ cậy uy mình mà đi chọc Quốc Tử Giám thì hỏng bét, bèn nói thêm:

"Sau này đừng có kiếm chuyện với họ. Tuy là đệ tử Quốc Tử Giám luyện võ chỉ để rèn luyện thân thể, giúp tinh thần minh mẫn để có sức dùi mài kinh sử, nhưng chiêu số võ học truyền lưu từ thời Lí đến nay, được nhiều bậc tông sư thay đổi bổ sung càng thêm thâm sâu huyền diệu, bác đại tinh thâm lắm. Thầy đây cũng nể mấy phần…"

Linh Lan chợt nói:

"Con chẳng tin đâu. Họ mạnh như thế sao không thấy động thái gì, mà như thầy kể, Bảy Tông Sư, Ba Thánh Lệnh sao Quốc Tử Giám không có lấy một cái?"

Khiếu Hoá Tăng nhăn trán, vỗ má, tự trách mình hồi ấy vì dỗ dành cô bé mà kể những chuyện giang hồ võ lâm này để đến nỗi bây giờ bị hỏi vặn. Ngặt nỗi, ngoại trừ giai thoại võ lâm, ông cũng chỉ biết kinh Phật. Mà đọc truyện trong kinh Phật thì Linh Lan càng nghe càng khóc tợn… nên cũng đành chịu.

Ông đành phải giải thích:

"Sở dĩ Quốc Tử Giám bình thường không can dự những chuyện võ lâm nọ là vì họ trọng văn hơn võ. Ấy là nhẽ thứ nhất. Còn nhẽ thứ hai là do trong Quốc Tử Giám cũng chia làm hai phe, gọi là phe Chữ Hán và phe Chữ Nôm.

Hai bên cãi nhau chí choé từ đời thuở nào chẳng ai rõ, chỉ biết mọi quyết sách riêng của Quốc Tử Giám đều phải được hai phe này cùng đồng tình mới được. Thành ra, đệ tử phái này cũng ít xuất hiện trên giang hồ. Nhưng giới võ lâm không ai dám khinh nhờn họ đâu."
Nhưng đúng là gần đây Quốc Tử Giám có vẻ yên ắng thái quá thật, nhất là thời buổi chiến loạn liên miên thế này. Chẳng biết họ an phận thật hay đang ngấm ngầm làm điều gì trong tối…

Ông sư già âm thầm chêm vào hai câu.

Cô bé lại "à" một tiếng, đầu gật như gà mổ thóc. Nó thỉnh thoảng lại ngó về phía ngôi đền đang dần bị bỏ lại sau lưng, không biết đang suy nghĩ gì trong đầu.

Khiếu Hoá tăng những tưởng là xong rồi, thì bỗng Linh Lan hỏi:

"Thầy ơi… sao lại gọi là phe chữ Hán - phe chữ Nôm ạ?"

"Do các tiền bối Quốc Tử Giám đều là bậc tao nhân mặc khách, thành thử chiêu thức võ học của bọn họ đa số được tạo ra bởi thư pháp văn thơ, nên mới phân làm hai phe như vậy."

Ông sư rách rưới vừa nói vừa gãi cái đầu trọc, lại hỏi:

"Con hỏi xong chưa vậy?"

Linh Lan thấy ông đã hơi mất kiên nhẫn, bèn hỏi ngay:

"Thầy ơi… thế, Quốc Tử Giám có món thần binh lợi khí nào không?"

Lời này như gãi đúng vào chỗ ngứa của ông sư già. Khiếu Hoá tăng hí hửng rút cuốn "An Nam Thần Binh phổ" lão ghi chép cả chục năm nay, lật giở một hồi rồi chỉ một trang sách mà nói:

"Con xem, tương truyền bảo giáp và thần công hộ quốc mất tích từ lúc nhà Trần đánh giặc Mông Cổ đang được bảo quản ở Quốc Tử Giám."

Đoạn, ông lại thao thao bất tuyệt mãi về bảo giáp Phù Đổng và hai món võ nghệ Tung Hoành Thiên Hạ - Uy Chấn Bát Phương.

Bé Linh Lan nghiêng đầu, hỏi:

"Thế Quốc Tử Giám có nhận đệ tử là nữ không ạ?"

"Chuyện này… thầy cũng không rõ nữa. Mà con hỏi cái gì khác không được à?"

Ông bất giác nhớ lại cô nàng quét sân ban nãy, chẳng những nhận ra thân phận của một trong bảy tông sư chốn giang hồ mà thái độ đối với Tế Tửu cũng không có vẻ gì là người ở đối với chủ nhà. Thật đúng là không rõ thực hư thế nào.

Khiếu Hoá tăng bỗng thấy hơi tò mò về cô nàng.

"Thầy ơi… thế làng Ngũ Xã có gì hay, môn phái nào ạ?"

Gió thổi vào mặt hồ, sóng gợn lăn tăn…

Lời tác giả:

Đáng nhẽ đây là một phần của phụ chương đặc biệt kết thúc trường thiên thứ hai - Võ Lâm Toàn Thư - tổng kết các thế lực, nhân vật, thần binh lợi khí đã xuất hiện xuyên suốt hơn ba trăm chương truyện. Nhưng nghĩ lại, viết kiểu tóm lược bình thường thì chán quá, lại dài, sợ bạn đọc khó theo dõi, thế nên từ bây giờ đến lúc hoàn thiện, đăng tải hồi cuối cùng của thiên tác sẽ cố gắng viết mỗi tuần một chương ngắn thế này, về một môn phái hoặc nhân vật, dưới góc nhìn và lời kể của thầy trò Khiếu Hoá tăng - Linh Lan để mọi người tiện theo dõi…

Cứ coi như Võ Lâm Toàn Thư là một dạng sách phụ đi kèm theo chính truyện của Thuận Thiên Kiếm - Rồng Không Đuôi đi ạ

Chương 337: Võ Lâm Toàn Thư phần 2 - Làng Ngũ Xã và võ nồi Đậu gia

Hai thầy trò Khiếu Hoá tăng đi về phía bắc một lúc thì đến bên bờ hồ Tây. Bấy giờ đang độ cuối thu, lá vàng lác đác rơi xuống mặt hồ, điểm xuyết trên đầu thuyền, đậu lên cả vành nón của lão lái đò.

Khiếu Hoá tăng vào gõ mũi thuyền bốn cái, rồi lại đập vào mái chèo ba cái, đoạn ngâm:

"Ngoạ long dược mã chung hoàng thổ,

Nhân sự âm thư mạn tịch liêu."

Ông chài kéo mũ xuống, trừng mắt nhìn, lại vuốt râu, rồi nói:

"Đây làm nghề chở khách, không bán cá."

Khiếu Hoá tăng bèn đáp:

"Thế khách đến đi đò mua cá thì sao?"

Ông chài nhổ nhành liễu trong miệng ra, gõ tay vào ván thuyền ba cái:

"Ba đồng chẵn, không thêm không bớt."

Ông sư ăn xin trả tiền đò, rồi vẫy tay bảo cô bé con ngồi xuống cùng.

Ông chài chờ hai người ngồi vững rồi mới nhổ neo chống sào đẩy thuyền ra xa.

Cô bé Linh Lan thấy hai người nói chuyện lung tung không ăn nhập gì với nhau cả, đang định mở lời hỏi thì ông lái đò đã lên tiếng:

"Hiếm khi thầy Khiếu Hoá tăng hạ cố đến đi đò, không biết thầy muốn sang bên nào?"

Khiếu Hoá tăng bèn đáp:

"Cung chủ cho đò sang đền Quán Thánh đặng đón người quen, rồi xin chèo sang Ngũ Xã giúp."

Ông nói xong thì lão lãi đó cũng chống sào, nhắm bờ bắc chèo gấp. Thuyền lướt đi độ uống xong chung trà thì neo lại bên bờ, Khiếu Hoá tăng chỏ vào ngôi đền cổ kính nằm khuất dưới bóng cây đa cổ thụ, nói:

"Kìa, con xem, đến nơi rồi."

Đoạn ông đỡ Linh Lan lên bờ, rảo bước về phía cổng đền.

Cô bé bèn hỏi:

"Ông à, từ chỗ ban nãy gọi đò đến đây có một đoạn ngắn tí, mình đi bộ cũng được mà, cần gì phải thuê người chở?"

Khiếu Hoá tăng cười, đáp:

"Không có cung chủ dẫn vào, người bình thường đừng mong gặp được người cần gặp ở Ngũ Xã."

Linh Lan bèn nói:

"Cung chủ? Ông lái đò ấy có lai lịch ghê gớm lắm ạ?"

Ông sư già vỗ tóc cô bé một cái, đoạn nói:

"Tất nhiên. Người nọ ngoại hiệu là Thần Phù Mặc Vưu, một trong chín cung chủ của phái Cửu Cung, một phái lớn ở miền bắc ta. Con thấy tấm lưới cá cất trong xó thuyền không, các mắt lưới đều có buộc lưỡi dao, là vũ khí độc môn của phái đó đấy."

Linh Lan bèn hỏi:

"Con vẫn không rõ, mình đến Ngũ Xã thì cứ vào thôi, sao lại cần người dẫn đường ạ?"

Ông sư già lần tràng hạt một cái, cười bảo:

"Đây là đất kinh kì, trên đầu có đức thánh thượng, bên cạnh có thiên tử binh. Con nghĩ người giang hồ bình thường ai mà dám nghêng ngang vác đao đeo kiếm như chỗ khác? Các môn các phái ở kinh đô, muốn rèn khí giới thì hoặc là đi Đa Sỹ, hoặc là đến Ngũ Xã này.

Đa Sỹ thì xa, khuân khí giới vào thành có điều bất tiện, nên thường là chọn Ngũ Xã này. Tuy là làng nghề đồng, nhưng tay nghề rèn sắt cũng được lắm."

Ông ngừng một chốc, đoạn kéo cô bé đến chỗ con voi đá bày ở góc sân, gần cái lò đốt vàng mã. Khiếu Hoá tăng lấy tay gõ vào đầu voi hai cái, lại lấy hai quả chuông bạc - khí giới của ông ra - đánh một hồi nghe coong coong. Đoạn, ông mới giải thích nốt:

"Đây là đất thiên tử, ai người ta dám cho dân thường cầm vũ khí? Ở Ngũ Xã có người trong gjang hồ, nể mặt bè bạn mới nhận làm, nhưng cũng cần phải kín đáo một chút. Để đề phòng quan binh trà trộn vào điều tra, phe Quần Hùng mới dứt khoát giao cho phái Cửu Cung trấn thủ ở đây, làm người dẫn đường. Bè bạn giang hồ ở Thăng Long muốn rèn đúc sửa chữa binh khí thì đến tìm cung chủ, để ông ta dẫn vào gặp vị kia, thì mới xong được…"

Hai người chờ một chốc, thì có một vị sư già đẩy cửa phòng củi, dẫn hai đứa nhóc con tóc để trái đào ra. Ông chắp tay chào Khiếu Hoá tăng một cái, đoạn chỏ ông sư rách rưới mà bảo hai thằng cu:

"Hai đứa theo ông này đi một chuyến đi thôi. Yên tâm đừng sợ, ông ấy là chỗ quen biết của cha ruột hai đứa, không hại hai đứa đâu."

Ba người quay trở lại cái thuyền nan, Thần Phù Mặc Vưu bèn chống sào chèo về phía đông bắc, được một chốc thì gặp một bán đảo, ấy là làng Ngũ Xã bây giờ.

Ông đò chống sào đẩy thuyền dọc theo bờ nam, ôm một vòng lớn rồi xuôi theo một lạch nhỏ đi sâu vào làng. Dọc theo con nước quanh co là đâu đó những gánh hàng rong vừa đi vừa nghêu ngao giọng hò rao bán, lác đác một vài cô hàng xén ế khách phẩy quạt đuổi ruồi. Chếch chếch mũi thuyền lại có lão kia buông cần gà gật, mũ kéo xụp che mặt. Lúc thuyền ngang qua, động mồi câu, thế là lão bật dậy chửi bới ì xèo.

Thần Phù Mặc Vưu nhảy xuống, buộc đò, cười:
"Này ông bạn, sao lại mắng thần tài thế? Xem tôi mang ai đến đây?"

Lão nọ kéo nón lên nhìn, thấy ông sư mập mạp đang cười hoà ái thì vỗ tay, nói:

"Đúng là thần tài thật, thầy Khiếu Hoá tăng đây mà."

Lại qua một chốc, thì ông thợ câu đã xách cần đeo giỏ, dẫn bốn người một già ba trẻ đến cái lều tồi tàn lụp xụp của lão. Y ngồi xuống sập, rót trà nguội ngắt ra mời bốn người, lại hỏi:

"Lần này bạch thầy đến tìm tôi chắc lại muốn phỏng chế thứ thần binh lợi khí gì phỏng?"

Bản thân y cũng biết lão Khiếu Hoá tăng đang chép cuốn An Nam Thần Binh phổ, ghi chép thần binh lợi khí khắp cõi trời Nam. Ông sư ăn xin cũng mấy lần tìm y nhờ phỏng chế lại mấy món binh khí trong đồn đại. Có thành, có bại, nhưng cứ lần nào Khiếu Hoá tăng xuất hiện thì thể nào người thợ câu cũng có món hời.

Nhưng tiền bạc cũng chỉ là vật ngoài thân, cái y kiếm tìm hiện giờ là giới hạn của bản thân, xem xem cái nghề gia truyền ấy của y rốt cuộc huyền diệu tới đâu.

Ông sư già không vội lên tiếng, mà chỉ cười rồi ra hiệu cho y tạm thời đừng lên tiếng vội. Nói đoạn lại nhìn sang, hỏi hai đứa nhóc:

"Hai con tên Văn, Võ phải không?"

Hai cậu nhóc nhìn chạc tuổi nhau, cỡ lên bảy lên tám gì đó, gật đầu vẻ rụt rè.

Ông sư cười, đoạn hỏi:

"Hai con thích binh khí gì không, để ông dạy cho mấy đường mà phòng thân."

Thấy hai đứa Văn, Võ vẫn ngơ ngác nhìn thầy mình, cô bé Linh Lan bèn nói:

"Hai cậu thích môn gì thì cứ lên tiếng đi, thầy tớ giỏi lắm, một trong bảy người mạnh nhất nước ta bây giờ cơ mà."

Hai cậu nhóc nghe thế thì hơi kinh ngạc, nhưng thấy cô bé không có vẻ gì đang nói dối cả. Thằng em, Võ, bèn nói:

"Con muốn dùng…"

Thằng cu đang định nói nó muốn kế thừa võ nồi của cha chú, thì thằng anh là Văn đã che miệng em mình lại. Nói rồi, lại nhìn Khiếu Hoá tăng, bảo:

"Ngày trước cha và chú dùng môn nào, thì bạch thầy cứ dạy cho hai đứa con môn đó. Còn nếu thầy không đoán ra được binh khí tuỳ thân của họ thì chúng con không học đâu…"

Ông thợ câu nghe xong thì vỗ đùi đánh đét một cái, lại chép miệng tỏ vẻ tiếc rẻ. Song Khiếu Hoá tăng đã mở lời từ trước nên cũng không tiện nói gì thêm.

Khiếu Hoá tăng cười, lại hỏi:

"Thế thì được rồi, từ nay hai đứa sẽ dùng một cái nồi làm binh khí tuỳ thân."

Trong lúc hai đứa nhóc đang há miệng á khẩu vì không ngờ ông sư lại đoán ra được thứ binh khí cổ quái độc môn của nhà họ Đậu thì Khiếu Hoá Tăng đã lôi ra một cái nồi từ trong bọc hành lí, giao cho ông thợ câu, đoạn nói:

"Bác Hùng cứ án theo cái nồi Càn Khôn này làm cho tôi một bộ, nhưng dùng lá thiếc cho nhẹ."
Lão Hùng dùng một ngón tay rờ thân nồi, lại mở vung nhìn bên trong. Một lúc sau mới liếm môi một cái, hỏi:

"Thực là nồi Càn Khôn của anh em họ Đậu?"

"Sao mà giả được?"

Khiếu Hoá tăng nói xong, lại giao tiền cho lão Hùng, rồi bảo:

"Thế thì mai tôi đến lấy. Giờ tôi dẫn bọn nhỏ qua chỗ chùa Châu Long nghỉ lại cái đã."

Trên đường, hai anh em Đậu Văn, Đậu Võ thì dắt tay nhau đi nép vào bên đường, cách thầy trò Khiếu Hoá tăng một quãng. Còn Linh Lan thì cứ giật gấu áo ông sư ăn xin, đoạn hỏi:

"Thầy này, sao chỗ ông Hùng không có đe, có bễ gì? Chẳng nhẽ ông ta rèn bằng tay?"

Khiếu Hoá tăng bèn bảo:

"Con thấy nhà chài lưới nào lại có cả lò, cả đe cả bễ chưa?"

Cô nhóc bèn "à" một tiếng, đoán là ông Hùng dùng thân phận thợ câu che mắt, cái chòi lụp xụp đó là nơi để nhận đơn hàng, còn lò rèn đặt ở nơi khác.

Đến chùa Châu Long thì sắc trời cũng không còn sớm lắm…

Cửa chùa vốn lấy từ bi làm gốc, lại thấy bọn họ một già ba trẻ sáng sủa hiền từ, không có vẻ gì có ác ý cả nên bốn người được nhận vào cho tá túc qua đêm.

Khiếu Hoá tăng cắt Linh Lan mượn bếp mua củi, lại vo gạo thổi cơm chay, đoạn ngồi ngay trên sân gạch mà giảng cho hai anh em Đậu Văn, Đậu Võ:

"Cha của hai đứa - Đậu Trung Kiên Đậu Chí Dũng vốn là anh kiệt ở đời, chẳng may bỏ mạng ở Tây Đô. Mà cái nồi Càn Khôn kia thì chính là vũ khí tổ truyền của dòng họ nhà các cháu."

Ông ngừng một chốc chờ hai đứa ngấm đã, rồi mới nói tiếp:

"Nói về gốc gác thì hai đứa là hậu nhân nhiều đời của Lạc Tướng Nồi Hầu từ thời An Dương Vương, sau có loạn Triệu Đà mà phải thay tên đổi họ, đọc trại thành Đậu để che giấu tung tích. Nồi Càn Khôn và một trăm lẻ tám đường võ nồi chính là của gia truyền của hai đứa, tương truyền được sáng tạo cùng thời với nỏ thần! Bây giờ hãy nhớ này…"

Ông nói xong bèn lấy cái vung nồi cơm, hai ngón tay kẹp lấy cái núm vung, khua tay một cái, nói:

"Vung nồi là càn, đại diện cho trời, thừa dương khuyết âm, nên mới cần bảy mươi hai thế địa sát để cân bằng âm dương cho hài hoà. Đây vốn là võ học thành danh của người anh - Đậu Trung Kiên. Vung nồi dùng để xoay, chém, cứa, vỗ, đấu pháp gần giống như Nga Mi Thích. Đậu Văn, võ học của cha con, con hãy học cho tốt."

Đoạn lấy trong tay nải ra một quyển sách nhàu nát, giao cho Đậu Văn.

Liền đó, ông bèn lấy cái thân nồi lên đeo vào tay, cười với Đậu Võ:

"Thân nồi là khôn, đại diện cho đất, thiếu dương thừa âm, thành ra mới cần phối hợp với ba sáu đường thiên cang để bổ khuyết. Nồi này dùng như một cái quyền sáo. Cậu em Đậu Trí Dũng từng dùng ba mươi sáu đường biến hoá này hành hiệp trượng nghĩa, giúp nước cứu đời. Đậu Võ, học võ của cha, phải kế thừa tinh thần thượng võ nghĩa khí của cha có hiểu chưa?"

Rồi cũng giao sách ghi lại cách dùng thân nồi cho Đậu Võ.

Lúc này, Đậu Văn Đậu Võ bèn quỳ sụp xuống vái ông sư già, rưng rưng nước mắt mà rằng:

"Bọn con những tưởng thần công của tổ tiên đã thất truyền khi cha, chú ngã xuống. Mấy năm nay bà, mẹ ở nhà vẫn thường trăn trở khổ đau. May mà gặp được thầy, xin nhận của chúng con ba lạy này."

Thì ra từ sau khi anh em họ Đậu bị hại ở Tây Đô, Khiếu Hoá tăng vừa làm việc nước, vừa đi tìm nồi Càn Khôn, lại vừa sưu tầm tổng kết lại cho kì được một trăm linh tám đường thiên cương địa sát của võ nồi. Tốn ròng rã ba năm, đi hết bàng chi đến thứ tộc của nhà họ Đậu, mới tổng hợp được hai quyển bí kíp võ nồi này giao lại cho hai anh em Đậu Văn, Đậu Võ vốn là truyền nhân chính tông của thần công.

Ông thấy nồi Càn Khôn vung thép, thân gang này quá nặng, trẻ con không dùng được, nên mới tìm lão Hùng để phỏng chế lại một cái nồi nhẹ hơn để anh em Đậu Văn, Đậu Võ tập luyện đến khi đủ sức dùng nồi của cha, chú.

Ông sư già dành cả buổi hôm đó giảng giải những chỗ hai anh em Đậu Văn, Đậu Võ còn chưa hiểu. Đến sáng, lúc hai anh em nọ mơ màng tỉnh lại thì đã thấy Thần Phù Mặc Vưu ôn tồn nói với chúng:

"Sau này các con luyện võ có gì khó hiểu cứ hỏi ta. Còn chớ có tìm thầy Khiếu Hoá tăng nữa, ông ấy đi từ lâu rồi."

Hai anh em Đậu Văn, Đậu Võ đứng trên mũi con thuyền nan của Thần Phù Mặc Vưu, vừa cố sức hét gọi tên Khiếu Hoá tăng. Tiếng cảm tạ của hai đứa nhỏ vang vọng khắp cả một góc hồ…

Linh Lan hí hoáy chép vào quyển sổ riêng của nó xong xuôi đâu đấy rồi, mới hỏi Khiếu Hoá tăng:

"Thầy ơi, giờ mình đi đâu!"

Ông sư già phe phẩy cái mo cau, quảy gánh hành lí nhẹ tênh trên vai, nhìn về phía xa:

"Lên sơn trang Bách Điểu một chuyến vậy."

Lời tác giả:

Cái nồi Hán - Việt là "oa", "nồi pháp" vốn là cụm vô nghĩa. Không nhớ tác có từng dùng thay thế "võ nồi" trong truyện không, nhưng nếu có thì đấy là sai lầm, đúng chuẩn phải là "oa pháp". Nay xin cải chính, để bạn đọc tiện bề theo dõi

Nhân tiện, thì phần ngoại truyện Võ Lâm Toàn Thư này sẽ chỉ có công dụng tổng hợp tóm lược / làm rõ các thế lực đã xuất hiện và sắp xuất hiện trong truyện mà thôi

Chương 338: Võ Lâm Toàn Thư phần 3 - Thập Bát Liên Trại / Phái Long Đỗ

Phụ lục chương 3 - Thập Bát Liên Trại / Phái Long Đỗ

Khiếu Hoá tăng dắt Linh Lan ra khỏi cửa bắc thành Thanh Long, đi một chốc thì đến bên bờ sông Hồng. Mùa lũ đã qua, sông Hồng đã cởi bỏ tấm mặt nạ hung tợn dữ dằn và bộ áo đỏ diễm lệ…

Hai thầy trò ngồi chờ đò, nhìn mặt sông trải ngút tầm mắt như nhập vào một với bầu không, lẩn khuất giữa khói sóng nơi cù lao là mấy mái nhà lợp tranh của một cái thôn nhỏ. Ông sư già duỗi chân, thở ra một hơi khoan khoát, miệng ngâm:

"Vạn lí thanh giang vạn lí thiên.

Nhất thôn tang giá nhất thôn yên."

(Sông xanh muôn dặm, trời muôn dặm,

Một xóm dâu gai, xóm khói mây. - Ngư Nhàn - Thiền Sư Không Lộ / Hàn Ốc)

Cô bé Linh Lan nghe không hiểu, bèn vọc chân xuống bờ sông nghịch nước, chán thì lại đứng dậy tìm khắp bãi cỏ bắt ốc sên.

Được một chốc, thì Khiếu Hoá tăng lẩm bẩm:

"Bình thường giờ này phải có đò rồi chứ nhỉ?"

Sông Hồng vốn là con đường thuỷ quan trọng nối từ hai miền đông - tây của vùng Kinh Bắc, đoạn chảy qua kinh thành thì lại càng náo nhiệt vô cùng. Cho dù đang buổi chiến loạn, thì cũng sẽ không thiếu người qua sông, ông lái đò phải bận tối mày tối mặt mới phải. Nhưng Khiếu Hoá tăng nhẩm tính thì thời gian nãy giờ ông ngồi đây chờ cũng đủ mấy chuyến đò rồi. Thế mà đến nay vẫn không thấy một bóng người…

Đoán là có sự không lành, ông sư ăn xin bèn ra dấu cho Linh Lan về, dặn phải bám sát để ông còn dễ bề hành sự.

Gió nổi…

Nhưng lần này, chỉ khiến người ta lạnh sống lưng.

Đợi thêm một chốc, thì cô bé Linh Lan bỗng chỏ về phía xa, nói:

"Thầy ơi, đò kìa."

Khiếu Hoá tăng nheo mắt nhìn về phía tay cô bé chỉ, phát hiện giữa sóng nước đang có dăm con thuyền đuổi nhau.

Cô bé Linh Lan cũng đã nhận ra điều khác thường, bèn nói:

"Thầy ơi, bốn cái đò cờ đỏ đuổi cái thuyền nan kia là vì sao? Họ tranh giành khách với nhau hả thầy?"

Ông sư già bèn cười, đáp:

"Đúng là đang tranh! Nhưng không phải giành khách đâu. Hơn nữa, hai bên đang đuổi nhau cũng không phải đối thủ tranh giành."

Linh Lan thấy Khiếu Hoá tăng cứ úp úp mở mở, gặng hỏi thêm mãi mà không được, nên đành im lặng chờ xem chuyện gì sắp xảy ra.

Con thuyền nan rẽ nước đi thêm một chốc, nhác thấy còn độ hai trượng nữa là vào đến bờ thì có một con thuyền treo cờ đỏ vọt lên trước, ngăn mũi thuyền lại.

Lập tức, ba con thuyền treo cờ đỏ còn lại cũng xáp lại, vây con thuyền con vào giữa.

Trong ba kẻ đang ngồi trên con thuyền đỏ gần bờ, một kẻ đứng dậy ôm quyền hướng về phía bờ sông, hô to:

"Đây là chuyện của phái Long Đỗ, xin bạn bè chốn giang hồ chớ nhúng tay vào!"
Linh Lan bèn kéo tay áo ông, hỏi:

"Mình có nhúng tay không hả thầy?"

"Xem đã. Huống chi, chưa chắc người ta đã nói chuyện với thầy trò mình đâu."

Ông sư già vừa nói dứt lời, thì lớp bùn ở bờ sông bỗng nhúc nhích. Nói đoạn, gần ba mươi người đóng khố cởi trần bỗng đội bùn đứng dậy. Vừa xuất hiện, tên nào tên nấy đã tuốt khí giới tuất trần, vẻ mặt nanh ác nhìn chằm chằm vào con thuyền nan.

Nói đoạn, có một tên thư sinh mặt trắng môi mỏng, tay cầm quạt xếp nhảy từ chạc một cây cổ thụ xuống. Y chậm rãi tiến thêm hai bước, cười mà nói:

"Chết thật. Món hàng này Thập Bát Liên Trại chúng ta cũng nhắm vào rồi, miếng ăn đến miệng chả nhẽ còn để phái Long Đỗ cướp mất? Thật khó xử quá, không biết phải nể mặt các vị ra sao."

Lúc y lên tiếng tuy thần thái đĩnh đạc, lời lẽ nhã nhặn, nhưng đôi chân mày lại có vẻ âm hiểm cực độ.

Thư sinh ngưng một chốc, đoạn lại quay sang phía hai thầy trò, cười mà rằng:

"Nếu vãn bối nhớ không nhầm, thì Khiếu Hoá tăng tiền bối cũng có chút khúc mắc với phái Long Đỗ. Chẳng hay tiền bối có muốn nhân lúc này…"

Môn nhân phái Long Đỗ thấy phía Thập Bát Liên Trại rõ ràng người đông thế mạnh, vậy mà còn đi cầu viện. Nhưng lúc nghe đến ba chữ "Khiếu Hoá tăng" thì sắc mặt tên nào tên nấy bỗng nghệt ra như mất sổ gạo.

Ngày trước truy sát Khỉ Lông Xanh Huỳnh Bách Việt, môn nhân của chúng có đụng phải Khiếu Hoá tăng, bị ông dạy cho một bài học nhớ đời.

Thế mà nay oan gia ngõ hẹp thế nào, bọn chúng lại đụng trúng ông se ăn xin ở nơi này.

Kẻ dẫn đầu thầm chửi tên thư sinh vô sỉ, đang định tìm lời nói mát thì Khiếu Hoá tăng đã lên tiếng:

"Ấy không. Chuyện thị phi giữa các vị thì các vị cứ giải quyết với nhau. Bảo bần tăng ngồi xem thì được, nhưng chớ bắt bần tăng nhúng tay vào."

Ông ngừng một chốc, lại cười:
"Nhưng nay đang buổi loạn lạc nhiễu nhương, giang hồ ta phải chung tay hợp lực đánh giặc cứu nước mới phải. Ngoài ta thì hôm nay bần tăng có dẫn theo đứa học trò nhỏ, trẻ con sợ cảnh máu chảy đầu rơi. Thế nên chư vị xin hãy giơ cao đánh khẽ cho, chớ hại đến mạng người kẻo tổn thương hoà khí, làm tiểu đồ sợ hãi."

Hai phe nghe hết yêu cầu của lão thì ngẩn người ra, song cũng chẳng ai dám nói nửa chữ không. Cứ như thế, cảnh tượng gió tanh mưa máu ở bên bến sông đã không xảy ra. Hai bên tỉ thí một hồi, phái Long Đỗ thắng nửa chiêu, bèn giải năm người trên con thuyền nan về.

Thầy trò Khiếu Hoá Tăng thấy sắc trời đã muộn, bèn đốt một đống lửa, lấy lương khô ra ăn. Ông sư già không ăn mặn, nên nếu muốn ăn thịt ăn cá thì Linh Lan thường phải tự đi bắt, hoặc nếu ở trong thành thì tự đi mua. Hôm nay cũng không phải ngoại lệ… Được cái cô bé xuất thân con nhà bần hàn, làm những chuyện đặt nơm bắn ná đã quen tay, cũng không khổ sở gì.

Xong bữa cơm, như thường lệ, Linh Lan lại hỏi thầy về chuyện giang hồ. Lần này là hai môn phái vừa gặp ban nãy.

Khiếu Hoá tăng bèn nói:

"Cái đám người đi thuyền treo cờ đỏ là phái Long Đỗ, tên phái đặt theo thần thành hoàng của thành Thăng Long. Tổng bộ đâu như đặt ở gần đền Bạch Mã."

Linh Lan reo lên:

"Cái này con biết. Đền Bạch Mã là đông trấn, đền Quán Thánh hôm nọ là bắc trấn, đều là một trong Thăng Long tứ trấn cả."

Ông sư già cười, gật đầu:

"Đúng rồi. Môn nhân phái Long Đỗ vốn thiện về hai môn là dùng roi mềm và ám khí, nhưng phép đánh roi thì chỉ có hộ pháp trở lên mới được học. Roi của họ một đầu buộc đuôi của con cá đuối, đánh vào người là tróc da nát thịt như chơi. Ám khí thì gọi là Long Đỗ truy, to độ hai ngón, trên có bôi độc lá ngón."

Ngừng một chốc, ông sư lại lim dim mắt. Cô bé Linh Lan nhìn vẻ mặt thầy, bụng bảo dạ thể nào thầy cô cũng đang tơ tưởng đến thứ thần binh lợi khí nào đó đây.

Ông sư ăn xin bèn tiếp:

"Trưởng môn của họ là một cô nàng, họ Trần. Hiện tại nàng ta đang giữ một trong tám món thần khí bằng đồng đen do thánh tổ Khổng Lồ để lại là ngọn roi Long Đỗ. Tương truyền thứ này nửa roi nửa kiếm, vô cùng thần kì. Sau này con đi lại chốn giang hồ cứ thấy có kiệu bát cống sơn đỏ là biết trưởng môn phái Long Đỗ ra ngoài đấy."

Linh Lan bèn hỏi:

"Thế còn bọn người kia? Con nghe họ tự xưng là Thập Bát Liên Trại."

"Thập Bát Liên Trại là mười tám ổ cướp dọc sông Hồng đến tận cửa biển. Có mười tám trại chủ, gần ngàn tên thảo khấu đầu trộm đuôi cướp chuyên làm nghề cướp phá thuyền buôn, thu tiền lệ phí, đấm mõm thương nhân nhũng nhiễu cả một vùng Kinh Bắc.

Đứng đầu Thập Bát Liên Trại là Hồng Giang Giao Long Phạm Hách, con cháu của danh tướng Yết Kiêu. Tiếc là y thừa kế được một trong tám thần binh Giao Long Chuy, còn bao nhiêu cái đức tính tốt đẹp của cụ Phạm Hữu Thế thì lại chả thừa kế được tí nào."

Linh Lan bèn hỏi:

"Thầy ơi, thế tên thư sinh kia cũng là một trại chủ ạ?"

Khiếu Hoá tăng đáp:

"Chắc là mới lên thay trại chủ nào đấy, chứ thầy cũng chưa thấy y bao giờ. Nhưng có thể chắc chắn rằng Phạm Hách kia được chức thống lĩnh của Thập Bát Liên Trại là do phúc ấm của tổ tiên là chính, chứ y tầm mắt hạn hẹp, võ công bình bình, chẳng đáng làm thủ lĩnh."

Lửa reo tí tách, phản chiếu nơi mặt sông một đốm sáng cam cam vàng vàng.

Lời tác giả:

Thực tình đang gặm bí hồi cuối cùng, không biết bao giờ mới đăng được. Hi vọng mọi người bỏ quá cho

Chương 339: Hồi hai mươi tám (1)

Cao sơn, lưu thủy nghênh nghĩa sĩ

Bóng đao, ánh kiếm tiễn anh hùng

Trước kể đến ở Lam Sơn, bà Thương chợt đưa ra đề nghị hai người Lê Lợi, Phạm Ngọc Trần, kết mối duyên lành giữa Lam Sơn và Hổ Vương Đề Lãm. Chư tướng, bao gồm cả Đinh Lễ, nhiệt thành ủng hộ, mà bên đàng gái lại không có ý kiến gì. Lê Lợi là bậc nam nhi, chẳng nhẽ lại từ chối cho được?

Bản thân Lê Lợi cũng biết, hiện giờ đang lúc Lam Sơn tự lực, nếu có trợ giúp của Hổ Vương thì ắt chuyện sẽ xuôi chèo mát mái hơn nhiều. Song, chàng vẫn có điều chưa yên trong dạ, bèn nói:

“ Nếu thế thì xin u cho con mấy ngày, con nghĩ kỹ rồi sẽ tính tiếp. ”

Bà Thương thấy cô nàng Ngọc Trần cúi gằm mặt, thì bảo cô dẫn mình vào buồng. Giữa đường lại đánh mắt nói khẽ:

“ Thằng Lợi nhà bác trông thế thôi chứ nó cứng cỏi lắm, chuyện xin thánh chỉ con cũng biết rồi. Chuyện này để nó nghĩ thông thì xong, đừng có gượng ép. ”

Nói đoạn, bà lại bảo:

“ U đoán chắc nó còn chưa hiểu sao con lại thích nó, trong dạ lại đang áy náy với con Lữ đấy. Mấy chuyện trai gái lứa đôi này chỉ có người trong cuộc chúng bay gỡ mới xong, chứ u bó tay thôi. ”

Phạm Ngọc Trần bèn thở dài, hỏi:

“ U này, trước con nói thích Đinh Lễ, mà sau lại phải lòng anh Lợi, liệu có phải con hai lòng không? ”

Bà Thương nhìn cô nàng một cái, chớp chớp mắt, rồi cười:

“ Đúng là thiếu nữ mới yêu, vừa lên tiếng một cái là lộ ra ngay. ”

Phạm Ngọc Trần cúi đầu, nói:

“ U à… ”

Bà Thương thấy cô nàng trông có vẻ khổ sở, bèn không trêu chọc nữa, nói:

“ Đứa ngốc, tình yêu theo kiểu vừa gặp đã yêu, cả đời không đổi cố nhiên là rất đẹp, nhưng chỉ có thể ngộ, không thể cưỡng cầu, lại càng không phải cách duy nhất tim con rung động. Cho dù không có duyên được tình yêu đẹp như thế, thì cũng có làm sao? Con càng cố chấp rằng cả đời con chỉ có thể yêu một người, không thể rung động với người khác, thì tình cảm chân thành của con bỗng chốc hóa thành gông cùm nhà ngục, tự làm khổ bản thân. Tình yêu như thế mà đẹp nỗi gì? ”

Phạm Ngọc Trần nghe bà nói, như có điều vỡ ra, bèn hỏi:

“ Thế… u tại sao không tái giá? Mà theo u, yêu thế nào mới là đẹp đây? ”

Bà Thương lim dim mắt, cười mà đáp:

“ Câu hỏi thứ nhất của con, thì u xin đáp trước. Sau khi thầy thằng Lợi mất, thằng Học cũng bỏ u mà đi, thì u có bao nhiêu việc phải lo. Từ chuyện của Lam Sơn, chuyện nhà họ Lê, lại dạy dỗ nuôi nấng thằng Trừ và thằng Lợi, bận bù đầu bù cổ tối mặt tối mũi, thời gian đâu mà yêu với đương? Hà huống, u bệnh thế này, sức vóc đâu dư thừa được như người ta, không đủ tinh lực phân tâm. Hơn nữa, cạn tình còn nghĩa. Thầy thằng Trừ tận tình với u, u cũng phải hết nghĩa với chàng thôi. ”

Nói xong, bà lại tiếp:

“ Giờ trả lời câu hỏi thứ hai, thực ra đơn giản lắm. Tình yêu đẹp ấy mà, là thứ tình cảm khiến người ta cố gắng sống tốt hơn, vì yêu mà tự cải thiện. Con cứ nhìn thằng Lợi là thấy, từ hồi nó phải lòng con Lữ nó biết nghĩ hơn nhiều, càng ngày càng ra dáng nam nhi đội trời đạp đất. Con Lữ ở bên khuyên can chồng, hỗ trợ chồng cùng gánh vác nghiệp lớn kháng Minh. Hai đứa nó như thế, thì người đời há dám nói con Lữ là hồng nhan họa thủy? ”

Xưa nay, người ta vẫn nói hồng nhan họa thủy.

Nhưng xét kỹ lại, thì chẳng phải cả vị hồng nhan kia, lẫn vua đương thời đều có lỗi hay sao?Người đẹp mà như nguyên phi Ỷ Lan, biết khuyên bảo đấng chí tôn, cùng gánh vác trọng trách của ngai vàng thì người đời khen chẳng hết lời, nào dám bàn ra tán vào? Nhưng tuy là các nàng có lỗi, cũng chỉ là tội nhỏ.

Đế vương nếu như vì tình yêu với khách má hồng mà biết tu tỉnh bản thân, chăm lo chính sự, vì dân vì nước, thì liệu có mang tiếng hôn quân ngàn đời? Nhưng đắm chìm trong biển hoa, quên đi việc dân việc nước, để bản thân sa vào nữ sắc, thì ấy là tội to! Vì một người mà vứt bỏ cả thiên hạ, có người nghe thì thích tai khoái chí, khen ngợi ầm ầm, kẻ khác nghe lại chỉ cười nhạo chê bai.

Suy cho cùng…

Đắc Kỷ, Muội Hỉ, Bao Tự, Dương Ngọc Hoàn.v.v… thực chất đều chỉ có một cái lỗi: đó là các nàng không biết cách yêu vua chúa.

Người đời sau biết các nàng bị gọi là hồng nhan họa thủy, mà cũng quên mất Thương Trụ, Hạ Kiệt, U Vương, Đường Huyền Tông cũng bị hậu thế chê cười, tiếng xấu ngàn đời hay chăng? Tuy hồng nhan không tránh khỏi liên quan phần nào, nhưng nếu bao nhiêu tội lỗi đều đổ hết lên đầu nữ nhi yếu đuối cũng thực là chuyện chẳng vẻ vang gì.

Lại nhắc đến Lê Lợi, sau khi bàn chuyện với các tướng thì trở về phòng mình, tiếp tục chong đèn xem sổ sách mấy năm qua của Lam Sơn.

Trịnh Ngọc Lữ nấu một ấm nước chè đặc cho chồng, đặt bên án sách, lại nói:

“ Hôm nay mình từ chối như vậy, Ngọc Trần mất mặt lắm đấy. ”

“ Đâu đã từ chối, tôi cần mấy ngày suy nghĩ thôi. ”

Chàng uống cạn cốc chè, rồi mới nhún vai, đáp chỏng.

Trịnh Ngọc Lữ thở dài, nói:

“ Tính mình sao em biết. Nếu như mình thực sự cân nhắc chuyện này, thì bây giờ đang ngồi vắt tay lên trán nâng lên đặt xuống mãi, chứ đâu có thảnh thơi ngồi xem sổ sách như bây giờ. ”

Lê Lợi ngẩn người, chợt cười vuốt tóc vợ, nói:

“ Đúng là tôi không qua mắt được mình. ”
Trịnh Ngọc Lữ thở ra một hơi, rồi lại hỏi:

“ Ngọc Trần có gì không tốt đâu, xinh đẹp hoạt bát, lại môn đăng hộ đối, sao chàng cứ phải chối từ? ”

Chàng không ngờ vợ cũng ủng hộ ý của bà Thương, bèn nghiêm sắc mặt:

“ U nhờ mình đến thuyết phục tôi à? ”

Trịnh Ngọc Lữ cười, lấy ngón tay đẩy trán chàng một cái, nói:

“ Chàng tưởng u rảnh rỗi đến thế sao? Chuyện chúng ta là do chàng chưa con cháu gì, nên u mới phải can dự vào đấy thôi. ”

Lê Lợi bèn nói:

“ Dẫu là thế, nhưng nếu là vì chuyện nàng bị chòm xóm lời ra tiếng vào, thì vợ chồng tối lửa tắt đèn là được, đâu cần phải lấy thêm vợ làm gì? U cũng không phải người quan tâm đến những chuyện này… ”

Trịnh Ngọc Lữ nhìn chồng, rồi nói:

“ Đã nghĩ được đến thế rồi mà mình vẫn còn không hiểu thì em cũng hết cách. ”

Lê Lợi chau mày, chợt nghĩ tới một khả năng mà chàng đã mấy lần tự mình bác bỏ, ấy là Ngọc Trần thực sự có tình cảm với chàng. Nhưng… từ bao giờ? Và tại sao? Những chuyện này chàng không hề biết. Thành thử, mới nghĩ khả năng này chẳng thể xảy ra được.

Nhưng nay, được vợ nhắc nhở, chàng mới cẩn thận nghĩ kỹ lại tính cách của người trong cuộc, tức thì thấy được nhiều điểm đáng ngờ.

Bà Thương không phải người để bụng những chuyện nhỏ nhặt, càng chẳng để tâm đến lời thiên hạ. Bằng không, bà đã không chọn cách nhẫn nhục, chịu tiếng đớn hèn, đút lót quân Minh và bọn hàng tướng để đổi lấy thời gian âm thầm xây dựng Lam Sơn.

Phạm Ngọc Trần cá tính cứng cỏi có khi còn hơn cả Lê Lợi. Có lí do đàng hoàng tử tế mà muốn ép cô nàng gả cho người mà nàng không có cảm tình đã là chuyện khó hơn lên trời. Huống chi, nguyên do giữ thể diện cho Ngọc Lữ thực sự quá mức vô lí, bất công, Con gái nhà bình thường chưa chắc đã đồng ý, huống chi là con gái rượu của bá chủ một phương như Hổ Vương, người kiêu ngạo như Phạm Ngọc Trần?

Thế nên, rất có thể hư danh của Ngọc Lữ chỉ là cái cớ bà Thương dùng để tác hợp lứa đôi theo đúng nguyện vọng của cô nàng Ngọc Trần mà thôi.

Lê Lợi nghĩ thầm:

[ Không khéo bác Lãm nhúng tay vào chuyện này, cố tình giúp cô nàng trà trộn vào doanh trại quân Hậu Trần cũng nên. Có câu lâu ngày sinh tình, chẳng nhẽ… ]

Chàng nghĩ đến cảnh có một cô nàng âm thầm quan sát mình trong tối suốt mấy năm qua, mà toàn thân nổi da gà, sống lưng ớn lạnh, giật mình sặc cả nước trà.

Trịnh Ngọc Lữ thấy chồng lúng túng, bật cười mà nói:

“ Hiểu ra là tốt. Mai mình mau cho cô nàng một câu trả lời thỏa đáng, bằng không em cấm cửa không cho vào buồng đâu. ”

Nói đoạn, nhẹ nhàng tựa đầu vào vai chàng.

Lê Lợi nhìn ra cửa sổ, hướng về vầng trăng khuyết treo giữa rèm mây, thở dài:

“ Lữ, tôi phát hiện ra một chuyện. Kẻ thích làm vua, tuyệt không thể là một vị vua tốt. Mà kẻ không thích làm vua, lại có thể trở thành một đấng minh quân. Mình thử nói xem là vì sao? ”

Chương 340: Hồi hai mươi tám (2)

Trịnh Ngọc Lữ bèn đáp:

“ Ý của mình có phải là: người ta thích làm vua là bởi chỉ biết chăm chăm vào quyền uy, lợi lộc khi làm vua. Kẻ không hiểu trách nhiệm trọng đại của ngôi cửu ngũ, ngồi lên ngai vàng, chỉ tổ hại dân hại nước, chẳng sớm thì muộn cũng bị người dân lật đổ. ”

Nàng ngừng một chốc, rồi tiếp:

“ Mà kẻ không thích làm vua, lại có hai loại. Một loại là không ưa công danh lợi lộc, muốn được tiêu dao tự tại như cánh chim. Loại người này nếu ép y lên ngôi, cũng chỉ có thể thành hôn quân ngu muội, bỏ bê triều chính.

Duy độc có hạng người ghét làm vua vì biết cái ngai vàng kia nặng như thế nào, nhưng vì dân vì nước mà không thể không làm, mới có thể thành một vua tốt. ”

Lê Lợi cười, nói:

“ Không sai. Trước đây Nguyễn Trãi từng nói với tôi một câu là: vua khổ thì dân sướng. Nay ngẫm lại, câu từ đơn giản mà ẩn ý hàm súc, thực chẳng sai chút nào. Người ta làm vua, phần nhiều là chỉ nhìn thấy được cái lợi, mà không thấy nghĩa vụ đi kèm. Trong lòng chỉ muốn ăn trên ngồi trốc, hiệu lệnh thiên hạ. Nếu gò bó như thế, thì làm vua để làm gì? ”

Trịnh Ngọc Lữ bèn tiếp:

“ Thế nên, muốn yêu được người có chí làm vua, cũng đâu có đơn giản? Làm vợ của vua, phải hiểu rằng cho dù thánh thượng chỉ có một mình mình là phi đi nữa, thì cũng chẳng thể độc chiếm được người. Trái tim người… dành cho giang sơn, dành cho trăm họ. Nếu kẻ làm vợ, làm phi mà chỉ biết thân mình, không hiểu được cái hùng tâm tráng chí, cái bất đắc dĩ, cái hi sinh này của người, càng không thể san sẻ cho vua thì đâu phải là yêu? ”

Lê Lợi cười, hỏi:

“ Thế Lữ có định làm nguyên phi Ỷ Lan, lo liệu hậu phương, đốt lên đấu tâm của tôi hay không? ”

Trịnh Ngọc Lữ cười, đáp nửa đùa nửa thật rằng:

“ Bậc nữ lưu anh kiệt, tài cao bắc đẩu như nguyên phi Ỷ Lan trăm năm khó gặp, mình nói thế em thấy áp lực lắm. ”

Nửa tháng sau, Lê Lợi chính thức rước Phạm Ngọc Trần về dinh, tổ chức đám cưới. Chàng không lập vợ chính, cả nàng và Ngọc Lữ ngang hàng nhau.

Lúc hai người làm lễ kết tóc se duyên, Hổ Vương giữ bí mật không đến, nhưng lại cho người bí mật đưa trăm con ngựa chiến đến doanh trại làm quà mừng. Quân Lam Sơn có ngựa nòi, chẳng những tải đồ đánh cướp dễ dàng, còn có thể xây dựng kị binh, cuộc sống đỡ kham khổ hẳn.

Tháng mười, năm Trùng Quang thứ năm, Hoàng Thiên Hóa cùng mấy tử sĩ đến ám sát Trương Phụ, nhưng lại cứa nhầm cổ Hoàng Trung. Đảo chủ lại đến ám sát nữa, song lần này quân Minh đã đề phòng

Cả bọn bị Phạm Hách bày kế lùa vào chỗ nước xoáy rồi tung lưới, trên lưới buộc lưỡi dao, lại cho ném chất bẩn xuống đầu tử sĩ. Hai người bị bắt, còn đảo chủ đảo Bạch Long thì may mắn thoát đi được, song cũng bị ngộp nước, toàn thân bị dao chém trọng thương, chất bẩn nhiễm vào thành ra nhiễm trùng. Tuy là không chết, nhưng ốm liệt giường mấy ngày liền, trong ba tháng không thể vận công.

Nhiều người trên giang hồ không biết, tuy rằng Hoàng Thiên Hóa xưng là đảo chủ, nhưng cướp được đảo Bạch Long, trở thành chúa đảo cũng do bị người ta đưa đến. Kì thực thủy tính của y rất tệ.

Tháng chạp…

Hoàng Phúc dẫn người ra biển, càn quét liên tiếp mấy đảo, đánh phá đốt sạch hết sào huyệt của cướp biển. Rốt cuộc cả Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung đều bị bắt.

Cảnh Dị mắng chửi Phụ rằng: “ Chính ta muốn giết mày, bây giờ lại bị mày bắt! ”.Trương Phụ khuyên hàng không được, bèn cho chém đầu, giải qua mấy châu huyện liền để thị uy. Dân chúng căm phẫn mà lại sợ uy lão, ấm ức để bụng mà lòng như lửa. Đầu của hai tướng bị đưa đến Lam Sơn, Lê Lợi bấy giờ đang tiếp bọn hàng quan được cử đến, lúc hay tin thì bàng hoàng không nén được đau thương, giật mình buông đũa. Bên bàn rượu có kẻ hỏi:

“ Quan phụ đạo ta biết tin giặc Ngụy Trần chết đáng lí phải vui mừng, sao lại đánh rơi cả đũa thế? ”

Tức thì có kẻ phụ họa:

“ Bây giờ trong dân gian có tin đồn cậu lớn đây làm đến tận chức Kim Ngô tướng quân của Ngụy Trần. Tuy bọn tôi biết đấy là tin phét chẳng có cơ sở, nhưng cậu cũng phải cẩn thận kẻ có ý đấy… ”

Lê Lợi biết bọn này sớm đã được tin quân Minh giải đầu hai vị tướng qua, nên mới hẹn đến phủ, cốt để bẫy chàng. Nay hai tên này đã giăng bẫy, nếu không xử lí cho khéo chắc chắn bọn chúng sẽ báo lại cho Trương Phụ, buộc phải nặn ra một nụ cười, đáp:

“ Ngày xưa vua Trần Nghệ Tông thấy đầu Chế Bồng Nga cũng giật mình như vậy. Là do tin vui đến bất ngờ quá, lại hơi quá chén, mất hứng của mọi người. Xin tự phạt ba li để tạ tội. ”

Nói đoạn nâng chén, nuốt rượu, nuốt cả nước mắt vào lòng.

Bọn quan lại đều nói:

“ Quan phụ đạo đúng là sảng khoái, anh hùng xuất thiếu niên. ”

Bọn chúng thấy không bắt thóp được chàng, hết hứng ăn uống, được một chốc thì lục tục kéo nhau đi về.

Bấy giờ, Lê Lợi mới đứng lên, ngửa cổ muốn hét một tiếng thật to để giải nỗi bi phẫn trong lòng mà không gào ra tiếng được. Chàng đi khỏi căn phòng khách, sau lưng lưu lại hai hàng dấu chân màu máu.
Té ra ban nãy chàng phải lấy móng tay bấu vào đùi, dùng đau đớn để tự nhắc bản thân không được để lộ cảm xúc, bằng không bọn quan lại sẽ nhìn ra ngay. Dùng lực tới độ móng tay bấm thủng cả da chân…

Lại qua mấy ngày, Đế Quý Khoáng chạy sang Lão Qua, Nguyễn Súy chạy sang Minh Linh cũng đều bị quân nhà Minh bắt. Hậu Trần chính thức bị diệt.

Sau đấy, Trần Quý Khoáng nhân đêm quân gác tù không để ý, cắn lưỡi tuẫn tiết. Sáng ra Trương Phụ hay tin, tức mình chửi bới một hồi. Tên Lương Nhữ Hốt, Vương Sài Hồ và mấy tướng như Mã Kỳ, Phương Chính lại rỉ tai lão nói một thôi một hồi, Trương Phụ bèn đến một làng gần đó, gọi hết dân chúng ra, rồi dùng hình phạt ngũ mã phanh thây với xác của Trùng Quang đế.

Nguyễn Súy bấy giờ đeo gông, cười mà rằng:

“ Ngươi có xé xác ngài cũng vậy, khí tiết ngài trọn vẹn, đã hồn hòa vào sông núi rồi. Càng làm thì người ta chỉ càng thấy Trương Phụ nhà ngươi lòng dạ hẹp hòi, tiểu nhân ti tiện mà thôi. ”

Lão thấy thế, cười rằng:

“ Thằng Nguyễn Khuyến cũng chửi, Nguyễn Cảnh Dị cũng chửi, giờ thêm cả mày. Người Nam chỉ giỏi to mồm, nhưng đánh trận lại thua thì khác gì con chó sủa trăng? Mày đã bảo hắn tròn khí tiết, thế còn mày? ”

Rồi hạ lệnh cho người chích hết máu trong người Nguyễn Súy, hành hạ đến chết. Dân chúng trong lòng căm phẫn tột độ, nhưng hễ ai rơi lệ thì bị chém đầu ngay.

Lê Lợi cho các tướng ở sơn trại để tang vua tôi nhà Trần, treo cờ trắng mặc áo tang, cướp phá quan tham thông địch các nơi. Chư tướng nhiều người nể phục Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Suý nên ủng hộ nhiệt liệt, mà dân chúng thấy hào kiệt dưới trướng Vũ Uy mặc áo tang, biết là quân nhân nghĩa, cũng âm thầm trợ giúp.

Đám quan tham cứ dăm tháng, nửa năm lại bị gõ đầu cho nôn của tham lam ra, căm tức vạn phần. Bọn hắn từng đề đạt với Lê Lợi huy động sức dân lên núi đánh bẫy chim, chặt gỗ quý đem cống cho bọn Mã Kỳ, Phương Chính thì chàng gạt đi, lấy cớ rằng đám cướp núi chưa dẹp được, không dám cho dân lên núi kẻo chết phí mạng. Bọn chúng cũng muốn phản đối, nhưng thấy Lê Phủ cũng mất nào tiền nào gạo, nên chẳng truy cứu được.

Nào có biết những tiền bạc lương thực ấy đều là quân lương bà Thương và Lê Lợi thưởng cho tướng sĩ?

Lê Lợi lại nói:

“ Thôi bây giờ tôi và các vị đại nhân gom góp kẻ ăn người ở trong nhà sao cho được mấy trăm hương dũng, rồi đích thân tôi sẽ dẫn quân lên đánh trại giặc, được không? ”

Đám quan lại thấy bùi tai, bèn đồng ý.

Ngày ra trận, Lê Lợi cho gọi mấy trăm hào kiệt muốn theo đến giả làm gia nhân trong nhà, bắp đùi buộc vải tang rồi lấy ống quần phủ lên làm dấu. Nói đoạn chàng và Đinh Lễ dẫn quân lên núi, cố tình dắt cả đoàn lòng vòng, hết đạp phải mẻ kho lại rơi hố bẫy, sau chót còn trúng “ mai phục ” của Vũ Uy.

Rốt cuộc, Đinh Lễ “ liều mạng phá vây ”, cứu Lê Lợi trọng thương trở về. Lần này dùng khổ nhục kế, chàng bảo Đinh Lễ tống cho mình hai đấm, diễn cho tròn vai. Cậu chàng trời sinh thần lực, lại học được Phiên Thiên chân ngôn khác nào hổ mọc thêm cánh? Chỉ hai đấm mà Lê Lợi gãy xương hộc máu, bị thương nặng đến độ tưởng mất nửa cái mạng. Mà ấy còn là Đinh Lễ nương tay chỉ dùng ba phần sức, chứ nếu đánh thật thì chủ công của cậu ta về chầu ông vải rồi.

Đám tai mắt của Trương Phụ thấy chủ tớ hai người đánh cướp thua trận, phải gắng gượng dìu nhau về, mình mẩy be bét máu thì không còn nói ra nói vào gì nữa. Bọn chúng thấy thế còn cho rằng chàng không có thực tài, thế là tâu lên rằng Lê Lợi ở Lam Sơn tài văn xoàng xĩnh, tài võ thô thiển, chẳng qua là hưởnh phước từ tiên tổ. Kể cả có dã tâm thì cũng là lực bất tòng tâm, không trâu bắt chó đi cày mà thôi.

Vũ Uy giải mấy trăm hương dũng về núi, ai buộc vải ở đùi thì tha bổng, nhận làm bộ hạ. Còn không có thì doạ nạt một phen, sau đó dựa theo xuất thân mà tính. Ai là trăm họ bị ép buộc thì thả về, còn như kẻ ăn người ở của đám quan tham thì giết đi.

Các tướng Lam Sơn đeo mặt nạ, chia quân đi đánh dẹp đám cướp trong vùng, nuốt trọn mấy băng đảng lớn, nháy mắt thanh thế “ đảng cướp ” đã lớn nhất vùng. Từ ấy những con đường huyết mạch của Lam Sơn không đâu là không có bóng cướp.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau