THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 326 - Chương 330

Chương 326: Hồi hai mươi bảy (12)

Trần Nguyên Hãn thấy Lê Lợi thấy chàng hiển oai rồi mà không lấy gì làm kinh sợ, ngược lại trấn định thản nhiên. Chẳng những là mắt nhìn người tinh tường, mà khí phách của chàng đều không nhỏ, trong lòng thầm lấy làm phục, nhưng vì kiêu ngạo nên không nói ra lời. Có câu kẻ sĩ chết vì người chi kỷ. Lúc này y đã phần nào hiểu được tại sao một người vóc dáng bình phàm lại khiến cho bao nhiêu danh thần dũng tướng xin theo. Anh họ y và quan Bình Chương Hậu Trần là Đặng Dung đánh giá cao Lê Lợi như vậy thật không oan chút nào.

Trần Nguyên Hãn bèn cười, nói thầm:

“ Chúa Lam Sơn thực không phải vật trong ao. Ngày sau ắt sẽ cá kình vượt biển giương vây nhảy, cọp dữ lìa rừng mượn cánh bay (*). ”

Lê Lợi gãi đầu tỏ vẻ bối rối, đoạn hỏi:

“ Tướng quân tại sao lại đoán ra thân phận của tôi? ”

Trần Nguyên Hãn cười, không đáp ngay mà chậm rãi ngâm:

“ Hiệp giả đại đạo vô nhân tẩu.

Gian nhân tiểu lộ vạn khách hành. ”

Nghe được lời thơ của người cũ, Lê Lợi chợt sực tỉnh. Ngày trước chàng có lòng mời Nguyễn Trãi ở lại Lam Sơn phò trợ mình, nhưng người sau nói trên người còn có chuyện cần làm, chưa thể theo ngay. Nay Trần Nguyên Hãn ngâm đọc hai câu này, thì chàng đoán lần này y đến đây hẳn có liên quan đến Nguyễn Trãi.

Lê Lợi bèn nói:

“ Nơi này tai vách mạch rừng, tướng quân vào sơn trại cũng không tiện. Tạm thời ngài cứ về phủ, sớm mai tôi sẽ đến gặp. Còn chuyện ở đây cũng xin ngài giữ kín cho. ”

Trần Nguyên Hãn cũng biết nơi này không phải chỗ để nói chuyện, bèn thi lễ với Lê Lợi và chư tướng một cái, đoạn vác khí giới lên vai, giáp trụ treo ở đầu kích, nghênh ngang rời khỏi.

Bấy giờ, Lê Lợi mới đánh mắt với Vũ Uy, ra hiệu cho mọi người thu quân về trại.

Lần này có người đến tận cửa khiêu chiến, đánh trọng thương cả Nguyễn Xí, tự nhiên là khiến cho sơn trại náo loạn lên một hồi. Vũ Uy, Lê Lễ chia nhau ra lệnh trấn an mọi người, lại đốc thúc ba quân đề cao cảnh giác, canh phòng nghiêm ngặt.

Tạm thời giải quyết được Trần Nguyên Hãn, Lê Lợi bèn đến hỏi Lê Sát, hi vọng có thể biết được thân thế của đối phương. Nhưng y chỉ lắc đầu, bảo:

“ Không giấu gì cậu, sư phụ của tôi là danh tướng Trần Khát Chân. Ngoài ra, người còn nhận một đệ tử nữa là tên Lương Nhữ Hốt táng tận lương tâm kia, nhưng tuyệt không lấy đâu ra đệ tử thứ ba. Sau này, sư phụ bị Hồ Quý Li giết chết, bọn tôi mỗi người trốn đến một phương. Chỉ đáng hận là tên sư đệ không ra gì kia của tôi lại theo quân giặc, bán nước cầu vinh! ”

Nói đến tên Lương Nhữ Hốt làm ô uế tiếng thơm của Trần Khát Chân, vấy bẩn thanh danh của sư môn mà Lê Sát hận đến ngứa răng, không nén nổi dậm chân một cái.

Lê Lợi nghĩ kỹ lại những gì hai người nói với nhau, rồi lên tiếng:

“ Nếu tôi nhớ không nhầm, phái anh có hai môn võ công là Tung Hoành Thiên Hạ và Uy Trấn Bát Phương. Mà cậu thanh niên kia lại biết cả hai. ”

Lê Sát khi nãy nghiêm cẩn đối chiến, không suy nghĩ được nhiều đến thế. Nay Lê Lợi nhắc đến chuyện này, y cũng cẩn thận ngẫm lại, phát hiện đúng là mình bỏ qua điểm quan trọng ấy.

Hồi còn học với Trần Khát Chân, Lê Sát tính chuyên cần, trước sau chỉ để tâm đến luyện võ mà không nghĩ đến chuyện gì khác. Mà Trần Khát Chân dạy trò lẽ nào còn bận chiến giáp ngoài sa trường? Tên Lương Nhữ Hốt vốn là hạng tắt mắt, lân la gợi chuyện với bộ tướng của Trần Khát Chân nên biết sư phụ có bảo vật, mà bảo vật này chính là thần giáp đã mất tích lâu nay Giáp Phù Đổng. Thành ra, lúc nãy Lê Sát thấy giáp báu của sư phụ nhưng lại không nhận ra.

Lê Lợi vỗ vai Lê Sát, nói:

“ Sư phụ anh chỉ nhận hai học trò, nhưng sư tổ anh chưa chắc chỉ có mình thượng tướng bình Chiêm Trần Khát Chân là đồ đệ đâu. ”

“ Ý cậu là… thiếu niên vừa rồi có thể là sư thúc của tôi hay sao? ”

Thấy vẻ ngạc nhiên của Lê Sát, chàng chỉ cười mà không đáp. Nói đoạn, chàng nhờ một binh sĩ dẫn mình đến thăm Nguyễn Xí một chuyến. Tuy bộ hạ từng khẳng định cậu ta không bị nguy hiểm tới tính mạng, nhưng Lê Lợi cũng vẫn đến kiểm tra một chốc cho an tâm.

Trong sơn trại có mấy gian nhà dùng làm bệnh xá.

Gian ngoài cùng là nơi bốc thuốc kê đơn, ở giữa là nơi thầy lang và học đồng nghỉ lại, trong cùng mới là chỗ cho bệnh nhân nằm nghỉ. Lúc Lê Lợi tìm đến, thầy lang chính đang bốc thuốc kê đơn cho Nguyễn Xí. Lang y này tuổi không quá lớn, chắc độ ba mươi mấy, để ria con kiến, tóc búi củ hành. Gương mặt y có phần đôn hậu, nhưng chân mày rất sắc, giống như hai thanh kiếm quắc lên trời vậy.

Lê Lợi lễ phép chào hỏi thầy lang, mở lời xin được vào thăm cậu ta một lúc. Người sau bèn nói:

“ Tính mạng tướng quân không đáng ngại, nhưng thương thế đúng là không nhẹ, hiện tại cần phải được nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, không nên làm phiền. Xin cậu cứ về cho, ngày khác lại đến thăm hỏi. ”

Lê Lợi còn hỏi thăm cậy nhờ thêm mấy chuyện, rồi mới tạ từ rời khỏi.
Lê Sát theo sau quan sát tất thảy, lúc ra khỏi bệnh xá mới chạy tới kề tai chàng nói nhỏ rằng:

“ Ông lang này rất quái lạ. ”

Lê Lợi cũng gật đầu, nói:

“ Người ta là người tài năng kiệt xuất, chỉ là chưa muốn ra giúp nước. Không cần phải miễn cưỡng làm gì. ”

Mà trong bệnh xá, một học đồng nãy giờ ngồi vê thuốc thấy khách đã đi khuất cũng ngóc cổ lên hỏi ông lang:

“ Thầy trước giờ nói chuyện với đại vương cũng giữ thái độ ngang hàng, nay hà tất lại phải lễ phép với người thanh niên đó vậy? ”

Người lang y nọ ngừng tay, không đáp mà hỏi:

“ Theo con thì người thanh niên đó ra sao? ”

Học đồng nghĩ ngợi một chút, rồi nói:

“ Con thấy thì y trông cũng thường, so với đại vương và Lê Lễ tướng quân, Nguyễn Xí tiên phong thì không uy dũng bằng. So với kẻ đi sau y còn hơi kém phân. ”

Nó tự nhiên đang nhắc tới Lê Sát.

Thầy lang bèn trách:

“ Thằng này đúng là biết một chẳng biết hai, số không làm chuyện lớn được là phải. ”

Nói đoạn, y nhìn ra phía xa, nói nhỏ:

“ Táo Tháo khi ruống rượu luận anh hùng từng nói: rồng có thể biến lớn, có thể hóa nhỏ, lúc thì bay cao, lúc thì ẩn nấp. Khi biến lớn thì đạp mây, nhả sương. Lúc hóa nhỏ thì thu mình ẩn tích. Khi bay cao thì lượn khắp vũ trụ. Lúc tạm ẩn thì nấp trong sóng lớn.

Lúc ẩn mình thì nội liễm hàm súc, khi xuất thế thì hùng phong vạn trượng. Ấy mới là rồng. Những kẻ hùng hùng hổ hổ, hết chín là thùng rỗng kêu to, bề ngoài sơn son bên trong mục nát. Một phần còn lại, thì là bậc hổ tướng trên sa trường như Đinh Lễ, Nguyễn Xí. Song chắc chắn không phải bậc vương giả đáng theo hầu. ”

Học đồng thấy thế, lè lưỡi nói:

“ Nếu như thầy đánh giá y cao như thế, sao còn chưa đến đầu phục, ẩn nhẫn ở đây làm một thầy lang bốc thuốc kiếm cơm, che giấu hết tài hoa bản lĩnh, thực là chuyện quái lạ. ”Lang y còn chưa kịp đáp, thì ngoài cửa đã có người nói chen vào:

“ Anh Xảo đây cao giá, muốn được người ta tam cố mao lư mới chịu xuất sơn kia. ”

Học đồng nhìn ra ngoài cửa, phát hiện một ông thầy tướng số ăn mặc rách rưới.

Thầy lang thì lại nói:

“ Giọng ai như giọng ông Ức Trai đây mà? ”

Nói rồi ra cửa mời người xem tướng đó vào, dẫn vào buồng ở, lại bảo học đồng châm trà mời rồi ra nhà ngoài chờ tiếp khách.

Người xuất hiện tự nhiên chính là Nguyễn Trãi.

Y đón chén trà từ tay thầy lang, nhấp một ngụm nhỏ. Vị trà vừa đắng vừa chát, lại không thơm, đương nhiên không phải thứ trà gì tốt cả. Song Nguyễn Trãi vẫn từ tốn uống hết nguyên một cốc.

Bấy giờ y mới lên tiếng:

“ Nếu tôi nói tiện đường đi qua xin ngụm nước uống chắc anh Xảo chẳng tin. ”

Thầy lang cười, đáp:

“ Chúng ta ai nấy đều có nhiệm vụ cần hoàn thành càng sớm càng tốt, đương nhiên không có thì giờ để phí phạm. ”

Y lại sắp lại chồng giấy, đảo đảo cây bút trên tay, nói:

“ Hôm nay chỗ tôi có một bệnh nhân. ”

“ Ông anh mua may bán đắt, nhưng thằng em đây lại không biết nên vui hay buồn đây. ”

Nguyễn Trãi chắp tay, đáp.

Thầy lang lại nói tiếp:

“ Bệnh nhân thì không đáng nhắc tới, đáng nói là cách y bị thương. ”

“ Xin rửa tai lắng nghe… ”

Nguyễn Trãi nghe giọng của thầy lang, đồ rằng có sự quan trọng gì đây, bèn nghiêm hẳn sắc mặt.

Thầy lang tằng hắng một tiếng, rồi nói:

“ Cậu ta bị thương bởi thần công hộ quốc trong Quốc Tử Giám ta: Tung Hoành Thiên Hạ. Lúc binh sĩ dìu bệnh nhân đến đây, có nói hung khí đả thương là một ngọn thanh long kích. ”

“ Thằng Hãn?? Chết thật, bảo nó đến ra mắt chúa Lam Sơn, nó lại đi gây sự với người ta, đánh thương cả một tướng thế này. ”

Nguyễn Trãi nghe thầy lang tả lại mọi việc, người đầu tiên y nghĩ tới chính là Trần Nguyên Hãn.

Lại nói về thân thế, mẹ của Nguyễn Trãi và Trần Thúc Dao – cha của Trần Nguyên Hãn đều là con của quan tư đồ cũ nhà Trần là Trần Nguyên Đán. Thành thử, hai người là có thể coi là anh em họ. Sau này Nguyễn Trãi làm thái học sinh nhà Hồ, cha y Nguyễn Phi Khanh làm Tế Tửu của Quốc Tử Giám hai nhà mới ít đi lại.

Mà sau trận chiến Đại Ngu – Minh năm nào, Trần Thúc Dao, Trần Nhật Chiêu quy hàng nhận phong của nhà Minh càng khiến Nguyễn Trãi coi thường, nên từ đó không qua lại nữa. Mãi đến lúc Trần Quý Khoáng dấy binh, cao tầng của Quốc Tử Giám mới bảo y đến khuyên em họ ra giúp nước, hai người mới gặp lại.

Nguyễn Trãi thử khuyên Trần Nguyên Hãn đầu quân cho Hậu Trần đánh giặc, thì cậu ta lấy lí do có thù giết cha với quân Hậu Trần, không chịu ra tay. Nguyễn Trãi khuyên bảo không được, lại có chuyện hệ trọng trên người đành phải bỏ đi. Trước khi chia tay, ngồi bên bàn rượu, y có nói mấy lời về chúa vùng Lam Sơn là Lê Lợi với Trần Nguyên Hãn.

Chương 327: Hồi hai mươi bảy (13)

Nguyễn Trãi cười, bảo rằng:

“ Ngày mai thằng em phải đánh tiếng nói chuyện với nó một phen. ”

Thầy lang lại hỏi:

“ Mấy ông già lại có mệnh lệnh gì sao? ”

Nguyễn Trãi nhìn thầy lang một cái, thở dài, lại đưa ra một phong thư. Thầy lang nọ thấy hai chữ “ Hộ Long ” trên con dấu niêm phong, góc bức thư đề ba từ Khuê Văn Các thì sắc mặt tái hẳn đi.

“ Anh Xảo, chúng ta đều là sứ giả Hộ Long, nên đặt tình riêng sang một bên thì hơn. ”

Nguyễn Trãi nói xong lọc cọc chống ngọn giáo Mê Linh rời khỏi bệnh xá.

Lê Lợi chờ ở quán nước dưới gốc đa độ nửa tuần trà thì Vũ Uy và Lê Lễ trở lại. Người trước bèn gãi gáy, nói:

“ Chúa công thông cảm, việc ngày hôm nay thực có hơi lùm xùm, thanh thế ta xuống rất nhiều. Binh sĩ vừa thẹn vừa căm, muốn dẹp yên e không phải chuyện sớm chiều mà xong được. ”

Lê Lợi bèn nói:

“ Chuyện đương nhiên thôi, lần này làm phiền hai vị tướng quân làm chuyện đáng lẽ ta phải làm, thật ngại quá. ”

Lê Lợi thân là chủ tướng, những chuyện điều động nhân thủ, trấn an lòng quân này đáng nhẽ chàng phải là người chủ trì. Song trước là chàng đi đánh trận trở về chưa lâu, sau là chưa đủ uy vọng phục chúng, nên mới phải phiền đến hai người Vũ Uy, Lê Lễ.

Ba người trở về phủ đệ của Vũ Uy.

Lê Lợi nhìn sắc trời thấy không còn sớm, bèn nói:

“ Nay sắc trời đã muộn, chắc là không tiện về phủ nữa. Cảm phiền hai vị sắp xếp cho ta một chỗ nghỉ lại, sớm mai còn về nhà thắp hương. ”

Vũ Uy bèn nói:

“ Chuyện này chúa công chớ lo, từ trại về Lam Sơn chỉ một chốc thôi. ”

Nói đoạn đánh mắt ra hiệu cho Lê Lễ, bản thân thì an bài nơi ăn chốn ở cho Lê Sát.

Nói đoạn

Lê Lễ dẫn Lê Lợi vòng qua mấy căn phòng, đoạn ra một khu vườn hoang vắng ở nhà sau của phủ đệ. Chàng nhìn nơi này cảnh sắc tiêu điều, vắng vẻ hoang sơ, bèn nói:

“ Mai anh cho người quét dọn lại chỗ này, chứ một khu vườn hoang ở trong phủ đệ xa hoa dễ gây chú ý. ”

Lê Lễ gãi gáy, nói:

“ Nơi này là chốn tuyệt mật, ít người lại qua nên cũng ít được chăm chút, thế mới thành vườn hoang đồi vắng thế này. ”

Lê Lợi đảo mắt nhìn quanh.

Khu vườn không tính là lớn, hoa cỏ trông rất bát nháo, chẳng ra chỉnh thể cũng chẳng có đường lối gì, chẳng khác nào khu vườn ma ám. Nay tuy là hoang phế, nhưng thiết nghĩ lúc vừa mới làm cũng chẳng đẹp đẽ gì cho cam. Lê Lợi thầm nghĩ:

[ Xem ra anh Vũ Uy cũng muốn ngụy trang chốn này, tiếc là sinh ra là bậc thổ hào, những thứ tao nhã này quả thực không hợp với anh ta. ]

Chàng lờ mờ mường tượng, khu vườn lúc vừa mới làm ắt là hỗn loạn bát nháo lắm, người ngoài đi qua thể nào cũng cười rằng chủ nhân khu vườn là kẻ lỗ mãng không biết thưởng thức, nhà giàu mới nổi. Tuy Lê Lợi không để ý đến những chuyện này lắm, dù sao cũng chỉ là một lớp ngụy trang, nhưng nghĩ đến Vũ Uy chịu tiếng xấu này trong bụng cũng hơi thấy áy náy.

Bấy giờ, trên thành một cái giếng, đã có một bóng người đang ngồi vắt vẻo, tóc xõa ngang eo. Nhác thấy bóng hai người, cô nàng bèn nhoẻn cười, vẫy tay gọi.
Người đó đương nhiên là Phạm Ngọc Trần.

Lê Lễ bèn nói:

“ Từ chỗ này cô Trần sẽ đưa chủ công đi tiếp, về hẳn phủ đệ. Lễ còn ít công chuyện, thứ cho thuộc hạ không tiễn cậu xa hơn được. ”

Hai người chắp tay chào nhau, đoạn Lê Lợi lại đến bên thành giếng.

Chàng nhìn xuống miệng giếng, lại lấy một viên sỏi ném xuống đáy, nghe tiếng đánh chủm một cái, đoạn nước giếng bắn vọt cả lên mặt. Thấy vậy, chàng bèn gật gù, cười:

“ Xem ra là phải lặn một chuyến. ”

“ Đi theo em, cẩn thận kẻo trượt chân ngã là no nước đấy. ”

Phạm Ngọc Trần nói xong, thì tung mình nhảy xuống giếng.

Lê Lợi cũng có ít võ vẽ, nhưng mấy năm nay đánh trận với quân Minh, võ công giang hồ hiếm khi chàng dùng đến. Nay bất ngờ phải khinh công thì cũng có phần hơi lạ chân lạ tay. Chàng nhắm chuẩn phương vị, rồi cũng nhảy xuống theo.

Xuống giếng rồi, Lê Lợi mới phát hiện cứ cách một quãng lại có mấy viên gạch bị cố tình xây tụt vào trong, tạo thành một cái gờ nhỏ để đặt chân. Thời xưa gạch giếng không đều chằm chặp cũng chẳng có gì lạ, cho dù có kẻ muốn kiểm tra, nếu không chui vào cái giếng này thì tuyệt nhiên không thể phát hiện lối xuống. Người thường thì tuyệt nhiên chẳng thể giữ thăng bằng được với cái gờ nhỏ như thế, nhưng đối với người tập võ thì không thành vấn đề. Hai người lần mò trèo xuống, đến lưng chừng giếng thì phát hiện một cái cửa hẹp.

Phạm Ngọc Trần lách mình tiến vào, lại cố tình nói vọng ra:

“ Chỗ này hẹp lắm, chờ em vào một chốc rồi hẵng theo sau. ”

Lê Lợi yên tĩnh chờ trên thành giếng, phải đứng lâu ở trên cái gờ bé tí đương nhiên cũng khiến chàng tổn hao nội lực, song cũng không phải là không thể chèo chống đủ lâu. Chờ độ mười mấy hơi thở thì có tiếng Ngọc Trần vọng ra, báo hiệu cho chàng theo vào. Lê Lợi lách mình vào kẽ hở, dùng môn Súc Cốt Công để đi sâu vào trong. Ngách nhỏ này quả nhiên rất hẹp, với hình thể tầm thước của Lê Lợi, đi ngang như con cua mà còn thấy hơi bí bách. Chàng lại càng thấy tò mò không biết những người vóc dáng cường tráng như Vũ Uy, Lê Sát thì vào kiểu nào.

Như đoán được tâm tư chàng, Phạm Ngọc Trần bèn nói vọng ra:

“ Dưới đáy giếng còn một cửa nữa rộng hơn, nhưng phải lặn. ”

Nói đến đây là Lê Lợi đủ hiểu, Ngọc Trần đang dẫn đường cho chàng, nếu như để xiêm y bị ướt thì cực kì bất nhã, cố tình trách cửa rộng cũng là chuyện đương nhiên.
Đi hết cái ngách hẹp thì đến một đường ngầm, bấy giờ Phạm Ngọc Trần đang tựa lưng vào vách chờ sẵn. Lê Lợi nhảy khỏi ngách, nàng bèn chỉ tay về phía bên cạnh, nói:

“ Cái cửa ngầm dưới đáy giếng thì thông lên chỗ này. ”

Đường ngầm ở nơi chàng đứng phân làm hai, mé trái thì thông vào cái ngách hẹp, bên phải thì dẫn xuống một đầm nước, chắc là đường nước ngầm thông với đáy giếng. Địa đạo này xây trên ngách thượng của đường nước, thế nên dù mưa nắng thế nào nước giếng cũng không dềnh ngập lên được, cực kì khô ráo.

Phạm Ngọc Trần lại nói:

“ Mỗi lần cần tiếp tế, thì u lại cho người đóng thóc thành bao, rồi cất trong mật đạo. Vũ Uy tướng quân nếu cần thì sẽ cho người xuống, lấy lương rồi quay lại đáy giếng. Lúc này binh sĩ buộc bao thóc sau lưng, lần mò dưới đáy giếng tìm cho được sợi thừng, giật một cái sẽ có người kéo lên. ”

Lê Lợi biết cô nàng muốn giúp đỡ mình nhanh chóng nắm được tình thế của Lam Sơn, trong lòng thầm thấy cảm kích.

Hai người cầm đuốc, rảo bước trong đường ngầm trải dài tưởng như vô tận, không nói một lời, không khí có đôi ba phần quái lạ mà Lê Lợi chẳng rõ vì sao. Chàng lại mơ hồ cảm thấy có gió lùa vào gáy, thầm nghĩ trong địa đạo hẳn là phải có lỗ thông lên mặt đất, bằng không người ở trong này chưa đi được bao xa đã chết rồi.

Nhẩm thời gian được cỡ năm dặm đường, qua năm sáu lối rẽ thì đường hầm bỗng phình rộng ra thành một căn phòng lớn. Lê Lợi thấy bốn phía có tám cửa đá, trên đề nào là đao thương kiếm kích, nào là giáp trụ hộ thuẫn thì không khỏi kinh ngạc. Phạm Ngọc Trần bèn nói:

“ Giặc cử mấy tên tham quan đến giám sát, cũng không thể trắng trợn rèn đúc binh khí như trước được, đúng không? ”

Chàng bấy giờ mới sực tỉnh, té ra sơn trại của Vũ Uy thực chất là một lò rèn khổng lồ, chuyên chế tạo vũ khí cho quân Lam Sơn. Hẳn là cứ định kì Vũ Uy lại phái thân tín nhảy xuống giếng, chui vào địa đạo này mang vũ khí đến cất trong kho, rồi lại lấy thóc giấu trong này về sơn trại.

Lam Sơn trên mặt đất thì bị kiểm soát gắt gao, nhưng dưới lòng đất lại cuồn cuộn dậy sóng, thực là khiến người ta nghĩ mà kinh ngạc.

Phạm Ngọc Trần chỉ vào một cái ghế đá, kéo tay Lê Lợi đến cùng ngồi, rồi bảo:

“ Giờ anh em ta cứ chờ ở đây, đến sáng ắt có thân tín của u mở cửa cho chúng ta lên. ”

Lê Lợi đi xa lâu ngày, nên chỉ ậm ừ rồi cũng ngồi xuống.

Chàng nhìn bốn phía, thấy hầm ngầm này vừa công phu lại vừa chắc chắn, xung quanh mở ra tổng cộng tám kho ngầm khác, đều có cửa đá trấn giữ, không có chìa khóa thì ít cũng phải sức chục người mới mở ra nổi, chỉ biết chặc lưỡi mà than rằng:

“ U dùng có mấy năm mà khoét được căn hầm này thì đúng là tài giỏi hơn người. ”

Phạm Ngọc Trần thấy chàng như vậy, thì thè lưỡi làm mặt quỷ, nói:

“ Lấy đâu ra mà mấy năm? Từ hồi Hồ Quý Li soán ngôi vua Trần là u bắt đầu cho đào đất, lấy cớ là xây am thờ tổ cho dòng họ, tính đến nay là đào hơn mười ba năm lẻ, chỉ là u giữ kín như bưng chẳng nói cho ai biết thôi. ”

Lê Lợi càng nghe càng thấy hổ, chỉ biết cúi mặt.

Té ra từ lúc chàng còn đang lông bông chạy khắp chốn, thì bà Thương đã chuẩn bị sẵn sàng từ kho ngầm tới địa đạo. Thậm chí, chỗ mà Vũ Uy lập sơn trại e là cũng do bà chọn.

Nay nghĩ lại, hồi còn trẻ chàng và Lê Sát trách mẹ đớn hèn không chịu ra đánh giặc, đúng thực là suy nghĩ thiển cận, tầm mắt không qua được ngọn cỏ. Bây giờ vỡ ra mọi chuyện, mới biết chim non khi đó chưa hiểu được chí của đại bàng.

Phạm Ngọc Trần bỗng nói:

“ Anh theo Trùng Quang đế đánh Minh ba bốn năm, có gặp chuyện gì thú vị chăng, kể em nghe với. ”

Lê Lợi thấy hiện tại cũng chẳng có gì làm, ngồi không đợi sáng cũng chán, bèn thuật lại trận Ngọc Ma, chém Nguyễn Chính ở Bài Lâm, tái chiến Mô Độ với Trương – Mộc, đánh trận ở Vân Đồn, Hải Đông, lừa giết được Hàn Quan…v.v… Chàng kể đến đại chiến ở cửa Sái Già thì trời tảng sáng, chớp mắt mà đã kể ròng rã mấy canh giờ, nay sực tỉnh mới thấy họng khô miệng đắng. Ấy thế mà Phạm Ngọc Trần vẫn chăm chú lắng nghe ra chiều thích thú lắm.

Chàng bèn nhủ bụng:

[ Cô nàng này tinh nghịch thành tính, chắc là khoái những chuyện chiến tranh này lắm. Đúng là cô hổ cái, con gái Hổ Vương. ]

Chương 328: Hồi hai mươi bảy (14)

Bình thường chàng đã trêu cô nàng một câu, nhưng hiện tại chẳng hiểu sao không nói ra ngoài miệng được.

Lê Lợi nào có biết, thực ra những chuyện chàng kể Phạm Ngọc Trần sớm đã biết, hơn nữa còn mắt thấy tai nghe nữa là khác.

Hai vị cao thủ Hổ Vương len lén đưa vào hàng ngũ quân Hậu Trần, kì thực bảo vệ chàng chỉ là nhiệm vụ hạng dưới, chủ yếu vẫn là bảo vệ bằng được cô con gái rượu của Hổ Vương.

Sau trận Sái Già, cô nàng nghe ngóng chàng sắp về Lam Sơn, bỗng nhiên thấy ngường ngượng, bèn tự mình về trước. Hai cao thủ thì cẩn thận hộ tống Lê Lợi về Lam Sơn xong xuôi, hội họp với nàng rồi mới quay lại bản thưa chuyện với Hổ Vương.

Mấy năm liền cô nàng âm thầm quan sát Lê Lợi, tận mắt chứng kiến nhiều phen chàng ở nơi tiền tuyến chiến đấu quên mình. Tuy chẳng thể xông pha trong trận địch như Lê Sát, Lê Văn An, Đinh Lễ…v.v… nhưng chẳng hề mất vẻ hào sảng, kiên cường. Có vậy, cô nàng mới hiểu đánh giá của cha về Lê Lợi chẳng giả.

[ Cái thằng này ấy, nó như viên ngọc thô. Nhìn qua thì rất bình thường. Nhưng con phải chú tâm vào, càng nhìn kỹ sẽ càng thấy sáng. ]

Không hiểu tại sao, nàng lại bất chợt nhớ lại lời Hổ Vương từng nói về Lê Lợi, mặt bất giác đỏ lên.

Đúng lúc này, phía trên đầu cả hai chợt có tiếng mở cửa, đoạn lại có một đoạn thang gỗ thò xuống.

“ Lên mau lên, u gọi mình đấy. ”

Một câu không có nhu tình mật ý, cũng chẳng có lấy một lời hỏi han chăm sóc, song cái dịu êm nhẹ nhàng lại khiến Lê Lợi bất giác cười ngây ngốc. Lúc này, bao nhiêu mệt mỏi đắng cay trong mấy năm chinh chiến bỗng bay biến sạch.

Ý ở ngoài lời, thiết nghĩ cũng chỉ như vậy mà thôi.

Buổi sáng hôm đó, Lê Lợi đến bàn thờ thắp hương cho tiên tổ báo bình an, buổi trưa thì vào hầu chuyện mẹ. Kể từ khi Chu Đệ xuống chiếu năm ngoái, Lam Sơn cũng bị quản lí chặt hẳn, từng giây từng phút đều phải đề phòng tai mắt của Trương Phụ. Thành thử, thư từ qua lại giữa hai mẹ con vốn đã chẳng bao nhiêu buộc phải ngưng hẳn.

Nay thấy con trai trở về, chẳng những bình an mà càng trưởng thành rắn rỏi, bà Thương không khỏi gật gù tỏ vẻ hài lòng. Bấy lâu nay được lửa hồng chiến trận hun đúc tôi rèn, Lê Lợi đã trưởng thành hơn trước nhiều, từ phong thái đến bản lĩnh đều hơn xa khi trước. Chàng sớm đã không còn là cậu thiếu niên nông nổi ở thành Tây Đô năm nào nữa.

Mà hơn ai hết, bà Thương hiểu rất rõ loại trưởng thành tựa như lột xác này, nếu cứ để con ở nhà dùi mài binh thư thì có chục năm cũng không đạt được.

Thành thử, mới mạo hiểm cho chàng đầu quân.

Bà Thương hỏi kỹ chuyện nửa năm qua, nghe đến trận Sái Già và chi viện quân bí ẩn, thì bà bèn cười:

“ Thế thì ắt là cậu ta chứ không ai vào đây cả. ”

Lê Lợi bèn hỏi:

“ Mẹ đang nói đến tướng quân mặc giáp đen, tay cầm thanh long kích phải không ạ? ”

“ Không sai. Hai đứa biết nhau từ trước à? ”

Nghe bà Thương hỏi, Lê Lợi cũng thuật lại chuyện lùm xùm ngày hôm qua ở sơn trại. Kể xong, đến lúc nhận định nguyên nhân tại sao Trần Nguyên Hãn đánh lên núi, thì chàng bảo:

“ Chuyện này con cứ nghĩ mãi, cậu ta không phải hạng ngốc nghếch lỗ mãng, có nhẽ nào không nhìn ra chiêu gắp lửa bỏ tay của kẻ khác? ”

Bà Thương bèn đáp:

“ Chuyện này u đoán được bảy tám phần rồi, nhưng mày cứ ra nói chuyện với thằng nhóc, cậu ta sẽ tự trả lời cho mà biết. Bây giờ u mà đáp thay, lấy cá tính của thằng nhóc này ngoài mặt không biểu hiện, trong bụng cũng ắt chẳng vui vẻ gì đâu. ”

Lê Lợi nghĩ đến vị tướng cao ngạo hôm qua, cũng gật đầu.

Chàng hầu mẹ cơm trưa xong, thì ra nhà ngoài.

Bấy giờ Trần Nguyên Hãn đã ngồi chờ sẵn ở ghế khách, trên tay còn đang nâng chén trà thơm. Lúc Lê Lợi vào phòng, thì y cũng ngước mắt nhìn lên, đoạn nhoẻn cười mà rằng:

“ Chúa Lam Sơn đây sao? Hôm trước chưa có dịp nhìn rõ diện mạo của ngài, nay được gặp thấy cũng không giống lời đồn cho lắm. ”
Lê Lợi ngồi xuống ghế chủ vị, đoạn nói:

“ Tôi bấy lâu nay lu bu nhiều chuyện, chẳng rõ người ta đồn đại về mình ra sao, là khen hay chê. Tướng quân đi nhiều nghe rộng, có thể cho biết chăng? ”

Trần Nguyên Hãn mới nén cười mà đáp:

“ Lúc nhỏ, tinh thần và vẻ người coi rất mạnh mẽ, nghiêm trang; mắt sáng; miệng rộng; mũi cao; mặt vuông; vai trái có bảy nốt ruồi; đi như rồng; bước như hổ, tóc, lông đầy người, tiếng vang như chuông; ngồi như hùm ngồi! Kẻ thức giả biết là bậc người cực sang! Kịp khi lớn, thông minh, khôn, khỏe, vượt hẳn bọn tầm thường; làm Phụ đạo làng Khả lam. ”

Lê Lợi thấy dân gian người ta miêu tả chàng như vậy, cũng thực không biết phải nói gì cho phải đạo.

Chàng ngừng một chốc rồi ho khan, nói:

“ Nay tướng quân đã gặp, thì biết Lợi bề ngoài chỉ tầm thước, vóc người tính là trung đẳng, tuyệt không như những gì giang hồ đồn thổi rồi. ”

Trần Nguyên Hãn bèn nói:

“ Hôm trước đánh lên núi, tôi quả có chỗ không phải. Nhưng nay xin được tặng cho ngài một món quà, coi như là tạ lỗi. ”

Đoạn lấy trong ngực áo một cuộn giấy mỏng, dâng lên cho Lê Lợi.

Chàng thản nhiên tiếp lấy, giở ra đọc, thì thấy trên giấy điền độ ba mươi cái tên. Lê Lợi đọc qua, thì thấy nếu không phải quan viên mới về thì là cường đạo ác bá một phương. Những người này ban nãy dùng bữa mẹ chàng cũng có nhắc đến một số, đương nhiên không thể đầy kín một mặt giấy như Trần Nguyên Hãn được.

Lê Lợi nhìn ba mươi cái tên, lại nhìn Trần Nguyên Hãn một cái. Rốt cục, chàng cuộn giấy nhét vào ngực áo, nói:

“ Quả thực là lễ vật lớn. ”

Ba mươi cái tên trên giấy đều phải đề phòng. Ý của Trần Nguyên Hãn đơn giản như vậy, chàng sao có thể không hiểu? Tuy không biết y làm sao có thể thu thập được những cái tên này, nhưng Lê Lợi từng đánh trận với quân Minh mấy năm, cũng hiểu cài người vào lòng địch đã khó, nhổ tai mắt của đối phương lại càng không dễ dàng gì.

Bản thân mẹ chàng nắm trong tay cả Lam Sơn cũng chẳng thể phát hiện được ai là kẻ gian ai là người ngay, mới buộc phải di dời cơ nghiệp lên núi, ngụy trang làm sơn trại.

“ Tôi cũng có một việc muốn hỏi tướng quân đây. ”
Trần Nguyên Hãn thấy vẻ mặt chàng nghiêm trang, bèn đáp:

“ Xin cứ hỏi. ”

“ Tướng quân có phải người đã nhân đêm dẫn quân tập kích Minh doanh ở Sái Già, khiến cho quân ta thắng hiểm được một trận hay không? ”

Trần Nguyên Hãn không ngờ đến chàng lại hỏi câu này, song cũng không đáp thẳng thừng là có hay không, mà nói:

“ Hồi ấy để xổng hai thằng giặc già Trương – Mộc, đúng là chuyện đáng tiếc của đời người! ”

Y nói câu này, cũng mặc nhiên thừa nhận chính y là người đã dẫn quân đánh Minh bất ngờ ở trận Sái Già.

Lê Lợi nghe y, không tỏ ra mừng rỡ, mà trái lại rầu rĩ, đáp:

“ Tiếc là tướng quân không theo Trùng Quang đế từ đầu. Trận Sái Già ta đã binh tàn tướng bại, có thắng mà không giết được hai thằng giặc thì cũng không lật nổi mình. Nếu như là lúc sung túc, lại có thêm ngài, lo gì việc lớn không thành? ”

Trần Nguyên Hãn cau mày, nói:

“ Chúa Lam Sơn đang trách tôi hay sao? ”

“ Nào dám. Ngài đã không theo Trùng Quang đế, tức là có nguyên do của ngài. Tôi chỉ tiếc cho trăm họ phải trải cuộc binh đao thêm dăm năm nữa, ngày thái bình lại lui về xa, mà bậc anh hùng như Đặng Bình Chương phải nuốt hận. ”

Lê Lợi nói xong thì không nén được một tiếng thở dài.

Trần Nguyên Hãn bèn nghiến răng mà nói:

“ Ngài có điều không biết, ta là con của Trần Thúc Dao, vốn là hàng quan. Ngày xưa Giản Định lấy cớ không ra nghênh đón, chém cha ta cùng năm trăm đồng liêu. Loại người vô đạo như thế, bảo ta làm sao mà theo? Hà huống thù giết cha vốn không đội trời chung, ngài bảo ta làm sao mà theo quân hung tàn ấy? ”

Lê Lợi cười xòa, bảo:

“ Tướng quân nếu muốn thử lòng Lợi, chẳng cần diễn kịch như thế làm gì. Năm xưa Hưng Đạo Vương cãi lời cha, không nhân lúc quốc gia trong cảnh nước lửa mà soán ngôi đoạt quyền, tuy mang tiếng bất hiếu nhưng tận trung tận nghĩa. Ngài vốn là bậc anh hùng vị tất đã thua đức thánh Trần bao nhiêu, nếu như nói vì chuyện thù riêng mà bỏ qua nghiệp lớn, để trăm họ lầm than, Lê Lợi tôi có chết cũng chẳng tin đâu. ”

Trần Nguyên Hãn nghe vậy, bèn cười vang, nói:

“ Ngoài lời đồn ngài có dị tướng ra, còn một lời đồn khác: ấy là chúa Lam Sơn trí tuệ bình bình, không phải bậc minh chủ. Hôm nay Trần Nguyên Hãn ta gặp tận mắt ngài, thì biết cả hai lời đồn đều là láo toét cả. ”

Y ngừng một chốc, nhấp ngụm trà, rồi tiếp:

“ Lời này của ngài quả là xảo diệu. Nếu như ta thực có dạ nhỏ nhen, thì ắt sẽ bị ngài khiến cho hổ thẹn, bị cái đức của ngài thu phục. Mà nay ta bị ngài nhìn thấu, lại được so với bậc thánh nhân là đức thánh Trần thực là mát lòng mát dạ, nhất thời lòng cũng có cảm giác như tuấn mã gặp Bá Nhạc. Ấy là bị cái tâm thu phục. Kẻ có mắt nhìn người như điện thế này, mà chúng dám bảo không có đại trí, thì thực là đám đui què câm điếc! ”

Lê Lợi nói:

“ Nào tôi đâu có suy nghĩ sâu xa như tướng quân, chỉ nói lời thực lòng mình thôi. ”

Hai người chuyện trò thêm một chốc, thì biết sở dĩ Trần Nguyên Hãn lấy thù cha làm cái cớ không ra giúp nhà Hậu Trần, vì y cho rằng cả Trùng Quang lẫn Giản Định đều không phải người mình đáng theo phò trợ. Nguyễn Trãi đến khuyên không được xin về, trong bữa tiệc chia tay lại nhắc đến Lê Lợi. Lần đó Đặng Dung nhờ Hoàng Thiên Hóa gửi thư cầu viện, tặng kiếm Long Tuyền, cũng bảo nếu việc lớn không thành, kháng Minh thất bại, thì có thể đến nương nhờ Lê Lợi ở Lam Sơn.

Bởi thế, Trần Nguyên Hãn mới tò mò, tìm đến tận nơi để gặp.

Còn chuyện hôm qua đánh lên sơn trại, mục đích chỉ là dò xét phản ứng của đám quan lại mới về, xem xem tên nào cần phải đề phòng. Y lại cố tình giả thua rời khỏi, đương nhiên khiến thanh thế của sơn trại lên như diều gặp gió, tặc khấu trong vòng năm mươi dặm đều phải đề phòng.

Tặng đậu

Chương 329: Hồi hai mươi bảy (15)

Lê Lợi lại hỏi han, Trần Nguyên Hãn ở trận Sái Già mém giết cả Trương Phụ lẫn Mộc Thạnh, võ khí chiến giáp lại đặc biệt như thế, liệu có bị kẻ có tâm nhìn thấu thân phận hay chăng. Thì y nói:

“ Tôi đương nhiên đâu dại gì mang phiền phức về cho ngài? Có câu chó khôn mang cứt ra bãi, chó dại tha cứt về nhà. Lúc gặp mặt bọn quan lại, tôi giả làm thư sinh. ”

Té ra Trần Nguyên Hãn từ hồi nói chuyện đã nể bà Thương, có ý theo rồi, nhưng còn phải đợi Lê Lợi về để xem vị chúa công trẻ tuổi này tài ba thế nào rồi mới quyết được. Bà lại chỉ cho cậu ta một cách để vừa tăng thanh thế cho sơn trại, lại vừa dò la được thái độ của đám quan lại mới về. Trần Nguyên Hãn một mực giả làm thư sinh trói gà không chặt, còn một kị binh dưới trướng thì giả làm chiến tướng lực sĩ.

Nếu bọn cường đạo chung quanh nào mà hai người nghi ngờ là tai mắt của Trương Phụ, thì kéo nhau đến diệt đi, là tăng được thanh thế mà không sợ bại lộ chân tướng. Quân kị của Trần Nguyên Hãn vốn đã tinh nhuệ, lại dẫn thêm mấy chục quân nữa giả làm hương binh, bản thân y lại đứng sau lược trận, có thể nói là tuyệt không thể có sơ hở gì, cường bạo bình thường chỉ có nước chịu chết. Thế là chỉ trong hai ngày đã dẹp được tám trại lớn nhỏ, thanh thế thực là kinh hồn bạt vía.

Bấy giờ y mới lân la gặp đám quan lại, dò hỏi chuyện đánh sơn trại lớn nhất Lam Sơn chính là nơi Vũ Uy đóng lại. Đến lúc này Trần Nguyên Hãn lại muốn tự mình lên khiêu chiến, xem xem dưới trướng Lê Lợi rốt cuộc có bao nhiêu hãn tướng, thành thử mới có chuyện đấu nhau với Lê Sát.

Xong xuôi chỉ cần cho quân kị dưới trướng giả bại, thế là một công đôi việc.

Trần Nguyên Hãn giải thích được đầu đuôi mọi chuyện, nay thấy sắc trời đã ngả về chiều, bèn đứng dậy từ tạ. Nói đoạn lại lấy một phong thư, bảo là của Nguyễn Trãi gửi cho Lê Lợi, dặn ngày mai lúc nghị sự với chư tướng thì hẵng mở ra xem.

Lê Lợi tiễn y ra đến cửa, rồi quay trở vào, bấy giờ mới phát hiện Ngọc Lữ đã bày biện cơm nước sẵn cho từ lúc nào. Ngặt một nỗi, bấy giờ nàng ăn mặc như bậc nam nhi, đầu đội khăn chít, tóc búi củ hành, lại gắn ở mép hai hàng ria con kiến.

Chàng nhìn vợ, biết bấy lâu nay chàng ra trận, nàng ở nhà hẳn là ăn vận làm thế thân của chàng để che mắt thiên hạ, mà nay Ngọc Lữ ăn mặc như thế này ra gặp chàng hẳn cũng là ý của bà Thương, để Lê Lợi biết chàng ra trận có cực khổ bao nhiêu thì người ở nhà cũng không ngồi yên một chỗ.

Lê Lợi kéo vợ ngồi xuống cạnh mình, lúc này chuyện công đã giải quyết xong, mới có chút thời gian nói chuyện nhà. Chàng vắng nhà mấy năm, mà hương tóc nàng vẫn như xưa, dung mạo vẫn thùy mị nết na như hồi mới cưới, chỉ có sâu trong đôi mắt là vẻ mệt mỏi.

Lúc này Lê Lợi mới nói:

“ Cực khổ cho mình, ba năm nay phải sống bằng hai người thường. ”

Một câu này chàng nói tuy là nhẹ nhàng, nhưng ý vị chất chứa e chỉ người từng trải mới hiểu nổi. Một năm liền, giữ hai bộ mặt, hai thân phận, hai tính cách, mệt mỏi biết bao?

Ngọc Lữ tựa vào ngực chồng, nói nhỏ:

“ Thực ra cũng không vất vả lắm. Việc nữ công gia chánh ở nhà đã có kẻ hầu người hạ lo, bình thường thiếp cứ giả làm chàng dạo làng một chuyến, tối vào buồng chong đèn đọc sách là chẳng ai ngờ được. ”

Đến đây thì nàng lại nhắc:

“ Duy có chuyện này là hơi ấm ức. ”

Thì ra năm đó Lê Lợi vội vã xuất quân cứu viện cho vua Trùng Quang ở Ngọc Ma, nàng ở nhà vẫn chưa bầu bí gì. Nhưng nếu Ngọc Lữ cả năm trời không ra khỏi cửa ắt khiến người ta nghi ngờ. Thế là bà Thương cho nàng giả có thai, ở nhà tịnh dưỡng. Mỗi khi xuất hiện cũng phải nhồi lá vào bụng như có chửa, mà cũng chỉ nói chuyện linh tinh trước cửa với mấy bà làm đồng một chốc rồi phải lấy cớ chóng mặt váng đầu vào ngay.

Cứ thế cũng giấu được một năm…

Qua năm tiếp theo, thì bà Thương lại để nàng giả bị hỏng thai, ốm dầm dề trốn riệt ở trong phòng, thực chất là giả làm Lê Lợi đi thị sát chuyện ruộng nương đê điều, vậy là lại giấu được sự vắng mặt của nàng thêm một năm nữa.

Sau đó bí kế, đành nói với chòm xóm là Ngọc Lữ xấu hổ, sợ chòm xóm bàn tán là không biết đẻ, nên cứ trốn riệt ở trong nhà.

Lê Lợi trộm nghĩ, lại cười:

“ Ngày trước ta xin chiếu thư về cưới mình, đúng là lấy cớ để nối dõi tông đường, mà vội vã hành quân chưa có được đứa nào. Nay bị mang tiếng thế này, xem ra là quả báo đấy. ”

Ngọc Lữ bèn nói:

“ Tiếng xấu này thì chỉ là quả báo phần thiếp, còn mình thì mai mới phải chịu quả. ”

Cơm nước xong xuôi, Lê Lợi còn chong đèn đọc sổ sách tới khuya mới vào buồng ngủ.

Tuy là vợ chồng trẻ lâu ngày mới gặp, nhưng chàng biết bấy giờ đại nghiệp mới đến bước đầu, phía trước sẽ còn nhiều chông gai thử thách, nên không thể để bản thân quá buông lỏng.

Song… dù sao cũng là vợ chồng son, hương lửa mặn nồng cũng là chuyện thường tình.

Đến sáng thì Lê Lợi lại cho gọi các tướng đến gặp mặt.

Vũ Uy, Lê Lễ, Nguyễn Xí không tiện đến, tránh tai vách mạch rừng, nên thường thường trong buổi nghị sự, có những chuyện gì quan trọng thì khắc vào thẻ tre, đóng thành bó, sau đó thả qua đường nước ngầm đến cái giếng, sẽ có người mò.

Lần này xuất hiện, có mấy người là Lê Văn Linh, Lưu Nhân Chú, Đinh Lễ. Còn nhóm Lê Sát, Lê Văn An đều đã theo đường ngầm đến phủ từ sáng. Lại có thêm mấy người mới là Lê Thạch, Lê Khôi, Đỗ Bí, Lí Triện, Doãn Nỗ, Bùi Quốc Hưng…v.v… là mấy người mới. Thạch và Khôi còn là con của Lê Học, Lê Trừ, gọi Lê Lợi là chú.
Trong buổi nghị sự, mọi người đề nghị Lê Lợi sớm chọn ngày xưng vương, dấy binh khởi nghĩa. Chàng bèn nói:

“ Ta trước làm chức Kim Ngô tướng quân triều Trần, tuy công tích không cao, nhưng cũng là ăn lộc vua làm việc nước, nghĩa vua tôi chẳng cạn, ơn quân thần còn đó. Nay vua Trùng Quang còn chưa rõ sống chết thế nào, mà ta đã tự xưng vương một cõi, thế thì có khác gì bọn loạn thần tặc tử, bất trung bất nghĩa mà người đời vẫn thường phỉ nhổ? Lam Sơn ta nếu không có nhân nghĩa, sau này sao mà đứng giữa trời đất? Chuyện này chờ khi có tin tức của vua Trùng Quang rồi tính, mọi người đừng khuyên can nữa. ”

Bấy giờ lại có Bùi Quốc Hưng lên tiếng tâu trình. Người này có tuổi nhất, đến nay đã ngoài ngũ tuần, còn già hơn cả Vũ Uy, nên uy vọng cũng không nhỏ:

“ Bẩm chủ công, ở phía Vạn Lộc có Nguyễn Chích chung chí chống giặc, dựa vào một nhúm quân ô hợp mà đụng trận với giặc mấy lần không bại, nếu như ta chiêu hàng được y thì hay lắm. ”

Lê Lợi bèn nói:

“ Người này đương nhiên phải mời, nhưng e là giặc cũng muốn lung lạc y. Tài của y ta đã thấy, nhưng cái đức còn phải xem, tránh để phải chuyện nuôi ong tay áo. Chuyện ấy chẳng một sớm một chiều mà xong được, nhưng có một việc ta phải làm ngay. ”

Đoạn bảo các tướng từng đánh Minh dưới cờ Hậu Trần lấy túi gấm mà Đặng Dung đã đưa ra. Cả Lê Sát cũng đem túi gấm của mình đặt lên bàn.

Mọi người rút giải dây mở túi, thì té ra là một đống giấy, mỗi dải dài cỡ hai ngón tay. Lưu Nhân Chú lướt mắt một cái, biết ngay mỗi mảnh giấy là một phần của bức mật thư, phải ghép lại chỉnh tề mới đọc được.

“ Sao lần này quan Bình Chương lại cứ chơi trò thần thần bí bí thế này nhỉ? Bình thường đâu có như vậy? ”

Lê Sát lên tiếng.

Mọi người ghép chữ lại với nhau, thì được một bài thơ, thơ rằng:

Lam Sơn tự tích ngoạ thần long

Thế sự huyền tri tại chưởng trung

Ðại nhiệm hữu quy thiên khải thánh

Xương kỳ nhất ngộ hổ sinh phong

Quốc thù tẩy tận thiên niên sỉ

Kim quỹ chung tàng vạn thế công

Chỉnh đốn càn khôn tòng thử liễu

Thế gian na cánh sổ anh hùng.( Dịch nghĩa:

Từ xưa khi rồng thiêng còn nằm ở Lam Sơn

Mà việc đời huyền nhiệm đã biết rõ ở trong lòng bàn tay

Khi gánh nặng trao về một người thì trời báo cho thánh nhân biết

Khi đời thịnh được gặp thì hổ sinh ra gió

Đã rửa sạch nỗi nhục ngàn năm của thù nước

Cuối cùng đã cất giữ cái công muôn thuở trong rương vàng

Từ nay việc chỉnh đốn đất trời đã xong

Trên đời rút cuộc có được mấy người anh hùng như thế?

Dịch thơ – bản dịch Đào Duy Anh:

Lam Sơn từ thuở rồng chưa bay,

Từng liệu việc đời nắm giữa tay.

Trao gánh non sông trời báo triệu,

Gặp thì mây gió cọp sinh vây.

Nước hờn rửa nhục nghìn năm sạch,

Hòm quý vùi công vạn thuở này.

Chỉnh đốn càn khôn thôi tự đó,

Anh hùng, thiên hạ kể chi đây.)

Điểm kì lạ, lạc khoản ở đây chẳng đề tên Đặng Dung, mà đề hai chữ Hộ Long.

Mọi người nhìn nhau, chẳng hiểu tại sao y lại xé nhỏ bài thơ này, giấu trong túi gầm để mọi người ghép lại. Lại nói, tại sao lạc khoản lại đề là Hộ Long? Tại sao bài thơ lại tỏ tường cái ý xưng vương của mọi người, thậm chí tiên đoán cả việc đại công cáo thành?

Bấy giờ, lại có Lí Triện kêu to:

“ Trong túi cũng có chữ! ”

Lại mở búi chỉ thêu, thì phát hiện bên trong túi gấm có đính một mảnh lụa trắng, trên đề mấy chữ đỏ. Ghép cả túi gấm của Lê Lợi, Lê Văn An, Lưu Nhân Chú, Lê Sát lại thì được mười bốn chữ rằng:

“ Linh Sơn chi thực tận kiêm tuần,

Khôi Huyện chi chúng vô nhất lữ. ”

Mọi người lại càng chẳng hiểu chuyện gì, nhất thời như gà mất đầu.

[ Lẽ nào Đặng Dung có tài thần quỷ, biết chúng ta muốn tự lập một cõi, nên giở trò hí lộng một phen? ]

Chư tướng nhìn nhau, ngơ ngác chẳng hiểu chuyện gì.

Chương 330: Hồi hai mươi bảy (16)

Bấy giờ ở cách đó mấy dặm, trên núi Linh Sơn, lại có hai người tản bộ. Một thư sinh vận giáp vác kích, một thầy tướng số tay cầm cương giản thủng thẳng tản bộ dưới chạc cây.

Ấy đương nhiên là hai người Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Trãi.

Trần Nguyên Hãn ngoái về phủ họ Lê ở đằng xa, cười khổ mà nói:

“ Ông anh cứ phải giả thần giả quỷ làm gì, lại còn phải nhờ em gửi mấy túi gấm này cho Đặng Dung, dặn đưa bốn người kia. Bây giờ họ nhìn mấy lời tiên đoán chẳng đầu chẳng đũa của anh chắc đang loạn cào cào lên đấy. ”

Nguyễn Trãi bèn cười, nói:

“ Quốc Tử Giám đã phong anh đây làm sứ giả Hộ Long, trách nhiệm nặng nề vô cùng, tất nhiên phải nhắc nhở bọn họ một phen. Nếu họ tin thì qua khỏi nạn kiếp, mà không tin thì cũng chỉ trách ông trời nữa thôi. ”

Trần Nguyên Hãn bèn cười khổ, nói:

“ Anh đừng bảo em anh quên cái mạng sao chổi cả đời chỉ đoán đúng được một việc của anh đấy! Anh làm cái bài thơ mừng công thắng lợi như vậy, khác nào rủa họ thân bại danh liệt? ”

“ Thiên cơ khó lường… ”

Nguyễn Trãi cười mỉm, đoạn lại nhìn về phương xa, ngâm khẽ:

“ Tiêu tiêu truỵ diệp hưởng đình cao,

Bệnh cốt tài tô khí chuyển hào.

Thiên địa tư văn tùng cổ trọng,

Hồ sơn thanh hứng nhập thu cao.

Kính trung bạch phát giai nhân lão,

Thân ngoại phù danh mạn nhĩ lao.

Miến tưởng cố viên tam kính cúc,

Mộng hồn dạ dạ thượng quy đao.

( Dịch nghĩa

Lá rụng tiêu điều nghe tiếng vì vèo ngoài sân

Bệnh nặng vừa khỏi, lấy lại được hào khí

Nền tư văn của trời đất từ xưa vốn được trọng nể

Nguồn cảm hứng với non nước sang mùa thu càng cao

Xem gương thấy tóc đã bạc, cũng già như thiên hạ

Danh hão ở ngoài cái thân con người, chỉ đưa đến sự nhọc mà thôi

Nhớ về vườn cũ xa vời ba luống cúc

Đêm đêm hồn mộng cứ giục lên thuyền để về.

Dịch thơ – Thăng Long thi văn tuyển, Bùi Hạnh Cẩn:

Đầy sân lá rụng tiếng lao xao,

Cơn ốm vừa qua khí lại hào.

Từ cổ đất trời văn vốn trọng,

Thu sang hồ núi hứng càng cao.

Trong guơng tóc bạc già theo đến,

Cõi thế danh hờ nghĩ mệt sao.

Mong nhớ vườn xưa ba luống cúc,

Đò về tối tối gửi chiêm bao.)”

Trần Nguyên Hãn thấy anh lại xuất khẩu ngâm vẩn vơ, bèn nói:

“ Sứ giả hộ long chia làm ba vị, gọi theo tứ linh long lân quy phụng, trừ long là chân mệnh thiên tử ẩn trong nhân gian ra. Anh là quy sứ, còn hai người phụng và lân thì ở đâu? ”

“ Xa tận chân… ”Nguyễn Trãi chưa đọc xong, thì Trần Nguyên Hãn đã gầm lên, nói:

“ Thôi đi ông! Thần thần bí bí với ai? ”

Hai anh em vừa cười vừa đùa, trong nháy mắt bóng người đã khuất sau rặng cây.

Lại trở về Lê phủ, sau khi bát nháo một hồi, mọi người rốt cuộc cũng bình tĩnh lại. Bấy giờ Bùi Quốc Hưng nói:

“ Đặng Dung tài trí rất cao, có khi lại đoán được ý chúng ta không bằng. Ông ta trước thì làm thơ ý muốn giục ta tự lập một cõi, sau lại có ý để hai câu máu nhắc nhớ chúng ta phía trước gian truân khổ ải đây mà. ”

Lê Lợi bèn bảo:

“ Trước thì cứ biết vậy thôi, đừng vì mấy lời không có nguyên cớ mà tự hù dọa mình, thần hồn nát thần tính. Cũng đừng vì điềm lành mà tin tưởng thái quá kẻo mê tín dị đoan, chết khi nào không biết. Anh Hưng, anh dẫn theo mấy người Đỗ Bí, Lí Triện, Doãn Nỗ mau chóng phong tỏa tin tức về bức thư, chớ để truyền ra ngoài. ”

Mọi người ổn định được một chốc, thì trong buồng trong có tiếng ho khùng khục truyền tới. Liền đó, có một bà lão lưng còng lò dò trống gậy, được Phạm Ngọc Trần đỡ ra nhà ngoài.

Chư tướng thấy bà, thì nghiêm trang thẳng lưng hẳn lại. Tuy bây giờ Lam Sơn lại về quyền của Lê Lợi, nhưng lời nói của bà Thương vẫn có trọng lượng như cũ. Hà huống, còn có con gái cưng của Hổ Vương Đề Lãm.

Đi được mấy bước, bà bèn nói:

“ Mọi người bàn chuyện quân việc nước thế là tốt, nhưng có thể cho già xin một chút thời gian nói chuyện nhà được chăng? ”

Mọi người thấy bà Thương xuất hiện, đi bên cạnh lại là con gái Hổ Vương, trong lòng như đã hiểu chuyện nhà bà đang nhắc đến là gì, đương nhiên không ai nói nửa chữ không.

Lê Lợi tuy chưa hiểu mẹ muốn nói gì, song cũng nhường chủ vị cho mẹ, còn chàng thì đứng hầu bên trái.

Bà Thương bèn nói:

“ Các vị đây đều chẳng phải người ngoài, già cũng không giấu. Vì che giấu chuyện thằng con trời đánh này nhập ngũ đánh giặc Minh, mà già phải hi sinh thanh danh của con dâu, bảo nó sảy thai. Nay đã gần hai năm từ hồi “ khang phục ” mà chưa bầu bí gì, khó tránh khỏi người ngoài nói nọ nói kia. Tuy chuyện hỏng thai là giả, nhưng chuyện chi của thằng Lợi chưa có người nối dõi là thật. ”

Lê Lợi nghe lờ mờ có mùi không ổn, vội nói:

“ U à, chuyện phòng the là chuyện tế nhị, vợ chồng con đóng cửa bảo ban nhau là được. U đem ra nói trước chư tướng thế này thì ra thể thống gì nữa? ”

Bùi Quốc Hưng bèn nói:

“ Chúa công ngài chẳng nhẽ không hiểu? Ý bà lớn nói, thân là danh gia vọng tộc, từng đó năm chưa thấy sinh nở mà không lấy thêm vợ nữa, người ta ắt sẽ hoài nghi. Hà huống, hòn ngọc của Hổ Vương ở đây, không kết mối duyên lành chẳng nhẽ còn đợi phận gái bẽn lẽn mở lời trước hử? ”

Lê Lợi nghe xong thì á khẩu.

Chàng cũng đã lờ mờ đoán được, song chẳng thể nào ngờ, mọi chuyện lại xảy ra theo chiều hướng này.

Quay sang chỗ mẹ, chàng nói mà méo cả mặt:

“ U à, chẳng phải u hứa không dùng ước hẹn ngày xưa của thầy con và bác Lãm ép uổng lứa đôi hay sao? ”Bà Thương cười vẻ thần bí, nói:

“ U hứa với mày như thế, nhưng mày xem thử xem con gái người ta có phải đang bị ép uổng hay không? ”

“ U à… ”

Lời vừa dứt, thì bấy giờ Lê Lợi đã thấy cô nàng Ngọc Trần đứng cạnh u đang mân mê vạt váy, mặt đỏ lựng, bẽn lẽn cúi đầu. Thế là bao nhiêu tâm tư kéo cô nàng về cùng một phe, phản đối tới cùng của chàng cũng tiêu tan thành mây khói.

Nay nghĩ lại, xưng hô của Ngọc Trần với chàng từ khi về Lam Sơn giống em gái, mà cũng giống như vợ chồng. Lại nói tối qua Ngọc Lữ úp mở về quả báo chàng sắp phải gánh, e là ám chỉ chuyện hôm nay rồi.

Nhất thời, Lê Lợi đứng đực như trời trồng giữa phủ đệ, chư tướng thì nhìn nhau, rồi ôm bụng cười phá lên.

Lại nói đến chuyện của Tạng Cẩu và Phiêu Hương…

Trong lúc lau chùi bức tượng của Lí Thân, hai người bỗng phát hiện ở mũi giày có chữ.

Hai người lấy mồi lửa, dí vào sát chân bức tượng thì phát hiện trên hai mũi giày có hai dòng thơ:

“ Phong cương hà sự cân khai tịch?

Nghiêu Thuấn đương niên chỉ cửu châu. ”

Tạng Cẩu đọc lẩm nhẩm, rồi quay sang Phiêu Hương, hỏi:

“ Ý của câu hai câu này là gì? ”

Hồ Phiêu Hương bèn đáp:

“ Bình thường bảo Cẩu đọc thêm sách thì lười biếng. Ý của hai câu này là cương thổ đâu cần chi phải mở rộng, năm xưa vua Nghiêu Thuấn – tức hai minh quân nổi tiếng thời xưa – cũng chỉ có lãnh thổ chín châu mà thôi. ”

Cô nàng lại trầm mặc, rồi nói:

“ Duy chỉ có cái ông này là chịu, chẳng biết là ai, cũng chưa từng nghe danh. Nhưng hai câu thơ hàm ý uẩn súc, lòng mang thiên hạ như thế há có thể là bậc vô danh cho được? ”

Tạng Cẩu cười, bảo:

“ Cứ nhìn đầm quan tài, phòng thây sắt này thì biết, khéo ông này còn chưa ra đời ấy. ”

Cậu chàng lại đọc nhẩm lại hai câu thơ mấy lần, đoạn vỗ tay cười:

“ Hay quá! ”

Hồ Phiêu Hương thì lại nghĩ:

[ Người xây mộ này là kẻ có đại tài, không bỗng dưng mà y lại để lại hai câu thơ trên tượng sắt. Có lẽ nào đây là manh mối chỉ lối ra chăng? ]

Tượng sắt có giáp lót đồng đen, đao Lĩnh Nam cũng không phá nổi. Mấy ngày bị giam Tạng Cẩu cũng có xách đao đến lấy mũi dí khắp mình tượng, nhưng ngoại trừ phát hiện tượng sắt tinh xảo vô bì, trong giáp có cả kinh mạch huyệt đạo như người còn sống ra thì không tìm được manh mối nào.

Cô nàng lại nhẩm tính, thấy trong bài có Phong Cương – biên giới – tức ám chỉ hành thổ, mà lại có “ Cửu Châu ” tức nhắc đến số chín.

Hồ Phiêu Hương nhẩm tính, thì khí đi theo vòng Tiểu Chu Thiên sẽ tiến vào các kì huyệt không thuộc mười hai chính kinh, nên cũng không thuộc vào ngũ hành, có thể bỏ qua khả năng này. Còn nếu khí theo vòng Đại Chu Thiên, thì kinh thứ chín đáng nhẽ phải là Thủ Quyết Âm Tâm Bào Kinh, Tâm Bào thuộc Tim, là hành hỏa, không ứng với thổ.

Cô nàng càng nghĩ, lại càng thấy đau đầu.

Bấy giờ, Tạng Cẩu lại chỉ vào lưng tượng, nói:

“ Này, Hương xem, liệu đây có phải manh mối hay không? ”

Hồ Phiêu Hương nghe lời vòng ra sau lưng tượng, thì phát hiện trên áo giáp có khắc một mặt trời rực lửa, trung tâm đề một chữ “nhật”. Mà rìa mặt trời lại có khắc hai mươi tư tia sáng cách nhau đều chằn chặn.

Lúc này, cô nàng đảo mắt một cái, nói đoạn vỗ trán kêu lên:

“ Thôi đúng rồi! Có khi sáu trăm năm sau, người ta không dùng mười hai canh giờ để đếm thời gian một ngày nữa cũng nên. ”

Hồ Phiêu Hương phân một ngày thành hai mươi tư lần nửa canh giờ, nhẩm đếm thì lần “ nửa canh ” thứ chún chính là giao giới giữa giờ Thìn và giờ Tỵ. Cứ theo vòng Đại Chu Thiên mà xét, thì ứng với sự chuyển giao của hai đường kinh là Túc Dương Minh Vị kinh và Túc Thái Âm Tì kinh.

Lúc trước cố công tìm kiếm tưởng như vô vọng, thế mà nay phát hiện được manh mối người xây mộ để lại, tưởng như chết đuối vớ được tấm ván, khiến cô nàng hăng hái hẳn lên. Hồ Phiêu Hương không kịp giải thích, ngồi thụp xuống bên tượng, tay phải nhanh chóng rờ vào bàn chân phải của tượng, tay trái thì lần vào chỗ lõm trong của xương chân.

Ấy là hai huyệt Xung Nguyên, Thái Bạch, lần lượt là huyệt nguyên của hai đường kinh Túc Thái Dương Minh Vị và Túc Thái Âm Tỳ. Sở dĩ gọi là huyệt nguyên, bởi hai huyệt này có cùng hành với kinh chủ là hành thổ. Mà huyệt Xung Nguyên lại chính là huyệt chuyển giao giữa hai kinh Thái Dương Minh Vị và Thái Âm Tì.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau