THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 311 - Chương 315

Chương 311: Hồi hai mươi sáu (17)

Pháo lại bắn.

Lần nữa, lại không có người…

Trương Phụ lúc này đâm tức, bèn gọi hai nhóm thám quân lại, tra hỏi kỹ càng một phen. Nhưng lão mắng vốn, hăm dọa cỡ nào thì quân dọ thám cũng chỉ nói rằng:

“ Hầu gia đánh trận quân kỷ như sắt, bọn tôi có trăm nghìn lá gan cũng chỉ có một cái đầu này thôi, còn phải giữ lại cho vợ con chứ. ”

Rồi phân trần là thực sự nghe thấy tiếng mái chèo khua nước giữa dòng, lão mới trầm mặc lại.

Đến lần thứ ba, thứ tư…

Vẫn là vậy.

Ám hiệu cất lên, quân Minh ngồi chưa ấm chỗ đã phải vùng dậy, thủ sẵn vũ khí phòng hờ.

Pháo lại bắn, nhưng không trúng ai cả.

Lúc này, Trương Phụ đã thấy mơ hồ có chuyện không ổn.

Nếu là oan hồn, hà cớ gì không quấy phá Hậu Trần? Quân Minh đã bắn ba loạt pháo, nhưng phía Đặng Dung lại tuyệt không thấy khai pháo lần nào. Nếu như nói người cầm quân lão lược như Đặng Dung lại không đề phòng quân của lão vượt sông đánh lén thì Trương Phụ là kẻ đầu tiên không tin.

Nhưng sự thực mà lão không thể nào gánh vác được, đó là tuy lão thì giữ được bình tĩnh, kẻ dưới thì đã cáu điên lên rồi.

Năm lần bảy lượt bị người ta quấy phá, nghỉ không được, đứng không xong, sao mà không nổi giận cho được? Trương Phụ trước bèn cho phạt vạ bọn thám quân, trước là an ổn lòng quân, sau lão lại nghĩ:

[ Không biết quân Trần làm cách nào mới có thể giả như thần quỷ, nhưng nếu quân ta không được ngủ nghê thì ắt sẽ phải bị vắt kiệt sức. Ngày mai giáp trận với quân giặc được nghỉ ngơi đầy đủ, tinh thần sáng láng, cửa bại sẽ xuất hiện. ]

Thế là, lão cho ba quân được phép nghỉ ngơi, bao giờ có tiếng pháo nổ mới cần dậy, ngoài ra chỉ cần một số quân độ hơn ngàn người thay phiên túc trực ở bờ nam con sông là được. Những kẻ này đều là người thuộc Thần Cơ doanh, thiện dùng hỏa pháo. Thế nên, để họ luân phiên túc trực, vừa thấy quân Trần là nhả pháo, thực không có ai thích hợp hơn được nữa.

“ Nghe kỹ đây, quân Trần giả vờ tập kích mấy phen, chứng tỏ đã có quyết tâm hạ trại ta. Nội trong đêm nay ắt sẽ có một lần chúng làm thật. Các ngươi nhớ phải nghiêm cẩn đối địch, chớ vì mấy lần trước hữu kinh vô hiểm mà có chỗ sơ sót. ”

Lão biết quân Trần thiếu lương, không thể đánh lâu với quân Minh, nên nội trong hôm nay phải thắng được. Bằng không ngày mai Hoàng Phúc đánh được vào bờ, thì quân Hậu Trần ắt phải bại vong.

Đặng Dung đánh giả mấy phen, thấy quân Minh nháo nhào, biết đã thành kế, không khỏi cười nhạt.

Lê Lợi thấy thế bèn hỏi:

“ Kế của quan Bình Chương cố nhiên có thể khiến giặc mất ăn mất ngủ, song cũng chỉ là tiểu xảo, chứ doanh trại quân giặc vẫn ở đấy. Nay mai chúng kéo quân từ biển đánh vào, chỉ e ngài Nguyễn Cảnh Dị không chống nổi. ”

Đặng Dung bèn đáp:

“ Cậu nói không sai. Nội trong đêm nay, chúng ta phải đánh vào được bản doanh của Đại Minh. Việc này cậu biết, tôi biết, Trương Phụ cũng biết. ”

“ Vậy… quan Bình Chương thứ cho Lợi tôi ngu dốt, nhưng, chẳng phải ta năm lần bảy lượt dùng kế nghi binh chỉ càng khiến Trương Phụ hiểu rõ chúng ta muốn tập kích hay sao? ”

Đặng Dung lúc này mới cười, nói:

“ Chúng ta đúng là sẽ tập kích trại giặc, nhưng ai nói với cậu chúng ta sẽ tập kích bằng đường thủy? ”

“ Dương đông kích tây??? ”

Lê Lợi lúc này mới hiểu, thì ra ngay từ đầu Đặng Dung đã không có ý định mạo hiểm cho thuyền vượt sông. Cho dù là thuyền nhẹ, đêm hôm tắt hết đèn đuốc, thì muốn vượt con sông hơn trăm trượng trong khi kẻ cầm quân lão luyện như Trương Phụ không hay biết gì thì thực là chuyện nực cười.Đặng Dung bèn đáp:

“ Không sai. ”

Lê Lợi bấy giờ lại thấy hơi hoài nghi, bởi kế dương đông kích tây này không khỏi quá khó thực hiện.

Trương Phụ nắm thế chủ động về thời gian, bao giờ giao tranh là do lão quyết định. Mà trước khi khai chiến, lão đã bỏ hẳn ra năm ngày trời cho thám quân lùng sục mấy chục dặm xung quanh nơi hạ trại, đến khi chắc chắn không có một tên phục binh nào mới yên tâm tuyên chiến.

Trước lão chưa có địa đồ, thì còn có khả năng bỏ sót chỗ nọ chỗ kia. Song Phan Quý Hựu sớm đã cho Phụ biết sạch sẽ tướng tá Hậu Trần hay dở ra sao, núi sông phía nam hiểm trở thế nào. Thế nên, tuyệt nhiên không có chuyện lão tính bỏ sót cho được.

Thế thì, phục binh ở đâu ra??

Đặng Dung lúc này mới nói:

“ Cậu đang nghĩ, ta đưa quân sang bên bờ bắc thế nào đúng không? ”

Lê Lợi thấy thắc mắc của mình bị nhìn thấu, cũng không giấu dốt, gật đầu một cái, ánh mắt lộ rõ ý học hỏi.

Lúc này, Đặng Dung mới tiếp, vẫn nửa úp nửa mở:

“ Ngày trước chưa có quân ở phía bắc, hôm nay sẽ có. ”

Đạo quân mà y nói đến, tự nhiên chính là do Hoàng Thiên Hóa mời đến, phụng sự dưới trướng của thanh niên vận giáp đen.

Lúc này, chỉ thấy trên đầu nguồn sông Cánh Hòm, có mấy trăm con ngựa lội qua dòng sông rộng bảy tám trượng, hội họp với nhau trên một đỉnh núi. Bỗng nghe soạt một cái, từ dưới bụng ngựa đã có kị sĩ chuyển mình lên, thoáng chốc đã ngay ngắn trên yên cương. Những người này nhổ cây sậy trong miệng ra, đoạn hướng về phía thanh niên dẫn đầu mà nói:

“ Tướng quân, có thể đánh được rồi. ”

Sau lưng thanh niên giáp đen, chỉ qua một khắc, mà đã có năm trăm quân kỵ.

Hoàng Thiên Hóa đứng bên cạnh nhìn thanh niên trẻ tuổi nọ một cái, chặc lưỡi thầm than. Nếu trước ngày hôm nay có người bảo y, trong vòng một ngày có thể tập hợp năm trăm quân kỵ rải rác trong phạm vi trăm dặm, lại dùng vỏn vẹn một khắc vượt sông Cánh Hòm không gây một tiếng động thì y sẽ cười hắn bị điên.Nhưng sự thực bày ra trước mặt, có khó tin đến đâu, cũng phải nhận mệnh.

Thanh niên giáp đen nhìn ra sau lưng, chỉ thấy năm trăm quân kị giáp bạc chỉnh tề, thần sắc nghiêm cẩn, ngựa trắng đạp vó, thương bạc tuốt trần, yên lặng chờ hiệu lệnh của mình. Ánh mắt y thoắt trở nên sắc bén, xốc thanh long kích lên chỉ vào phía đông, nói:

“ Chiến!! ”

Tức thì, giục con ngựa đen bờm vàng, phóng mình lao đi.

Sau lưng, năm trăm quân kỵ cơ hồ là cùng lúc đánh cương, ruổi ngựa đuổi theo sát chủ tướng. Vó ngựa gõ trên đường cơ hồ không thể phân biệt được trước sau, năm trăm quân kỵ tưởng như thở chung một nhịp. Loại tình trạng này chỉ có thể nói là tinh nhuệ đến đáng sợ, ba quân như một.

Hoàng Thiên Hóa chặc lưỡi, rồi cũng dùng khinh công lẩn mất.

Y tự biết, với quân đội cỡ này, mình chạy theo chỉ khiến bọn họ loạn trận thế. Chẳng bằng dựa vào võ công, thuốc độc, âm thầm quấy nhiễu trong tối.

Trương Phụ cho người thủ chắc mặt nam, bỏ mặc phía đông, tây và bắc là có năm nguyên do.

Thứ nhất, quân Trần trước đó bị đánh thua chạy liểng xiểng, bại như núi đổ, chẳng nhẽ còn có thể chia nhỏ đại quân đánh vòng lên tận phía tây?

Thứ hai, mặt tây đã có quân của Mộc Thạnh gườm chắc cánh quân của Nguyễn Súy đóng trên cù lao. Nếu như thực sự có quân vượt sông, đánh từ tây sang, về lí mà nói không tài nào thoát nổi phòng ngự của Mộc Thạnh.

Thứ ba, sông Thạch Hãn rất rộng, chỗ hẹp nhất cũng đến trăm trượng, muốn vượt sông không gây một tiếng động nào thực là chuyện hoang đường.

Thứ tư, lão bỏ hẳn năm ngày cho thám quân lần tìm hết mặt bắc sông một lượt, chỗ nào có thể giấu quân, nơi nào có thể cài người cơ hồ đều bị lật tung lên. Thành thử, khả năng Đặng Dung đặt phục binh ở bờ bắc từ trước là không thể.

Thứ năm, bỏ mặt đông là vì ngoài biển đã có Hoàng Phúc trấn thủ. Bỏ mặt bắc là bởi ấy vốn là đường tiến công của đại quân, quân Trần thua chạy từ bắc vào nam, cho dù có sót cũng là tàn đảng sao gây nên nổi sóng gió?

Quân Minh bị quấy nhiễu cả đêm, tinh thần mỏi mệt, nên đều ngủ thiếp đi. Duy chỉ có Thần Cơ doanh ở mặt nam là chia nhau canh phòng.

Đến canh tư, trời vừa qua giờ sửu, thì năm trăm quân kỵ lấy thanh niên giáp đen dẫn đầu xộc vào đại doanh, tưởng như một thần tướng kéo theo cả một biển mây trắng. Quân kỵ chạy đến chỗ nào, tức thì một tay hoành thương, một tay ném mồi lửa đốt trại. Bấy giờ là tháng chín, qua mùa mưa, tiết trời Sái Già hanh khô. Thành thử chỉ thoắt một cái, cả một góc doanh trại quân Minh đã có lửa bốc phừng phừng, soi rực cả một bờ sông.

Mộc Thạnh, Trương Phụ và binh sĩ Thần Cơ doanh đang thủ lấy bờ sông đều không kịp phản ứng.

Nguyễn Súy vừa thấy lửa cháy, lập tức cho quân nổ pháo, lại lấy thuyền nhỏ vượt sông đánh giáp mặt với Mộc Thạnh, không để lão quay về cứu viện. Đặng Dung cũng cho quân lấy thuyền nhỏ, tắt hết đèn đuốc vượt sông đánh úp vào mặt nam Minh doanh.

Tự nhiên lại có một đạo quân rơi từ trên trời xuống khiến Trương Phụ chẳng thể nào ngờ, đến lúc nhận ra có địch tập thì một góc lớn lều bạt đã cháy bùng bùng. Lão vội vàng xách quan đao chạy ra khỏi lều, lên ngựa. Lúc này binh lính trong trại cũng tỉnh người phần nào, thành thử lão cũng gom được một nhánh quân vài ngàn người, bèn dẫn đầu lao ra đánh chặn quân kỵ. Lại cho người báo với tướng Thần Cơ doanh thủ vững mặt nam, đề phòng quân của Đặng Dung vượt sông đánh trại.

Dưới ánh lửa hừng hực…

Trương Phụ nắm chắc quan đao trên tay, ánh mắt như dao nhìn vào thanh niên vận áo giáp đen dẫn đầu năm trăm quân kỵ, trong lòng có phần kinh ngạc vì tuổi tác của đối phương thực là quá trẻ. Song, lão vẫn quát:

“ Chịu chết đi! ”

Nói đoạn giục ngựa xáp lại.

Thanh niên nọ cười nhạt, không đáp, nhưng trong ánh mắt hiện lên bảy phần tự tin, ba phần cuồng ngạo. Y đánh gót vào bụng ngựa, chiến mã lắc bờm vàng một cái, ngửa đầu hí một tiếng dài to như tiếng sấm, rồi mới xông vào chỗ Trương Phụ.

Ngựa vừa tung vó, thì con ngựa của Phụ đã lép vế mấy phần.

Chương 312: Hồi hai mươi sáu (18)

Thanh niên xốc thanh long kích, đâm xéo một nhát vào mặt Phụ. Trương Phụ nghiêng người tránh, nhân đà ngựa chém trả một đao về phía y. Đao là bá giả trong binh khí, thế như lũ quét, khó mà có binh khí nào cản nổi. Đấu với tướng thiện dùng đao, thường thức là không được đấu trực diện.

Trương Phụ đoán chừng, thanh niên nọ một là phải giật cương cho ngựa né ra, hai là phải thu kích về đỡ.

Nào ngờ…

Điều y làm lại không phải việc nào trong hai việc lão nghĩ.

Chỉ thấy thanh niên nọ cười nhạt, kích trong tay từ đâm thẳng thành rút về, lợi dùng lưỡi dao cong toan cứa một nhát vào mặt Trương Phụ.

Hai quân đang đánh nhau nhìn cảnh này, đều cho rằng y dùng chiêu chịu đấm ăn xôi, thương địch được một ngàn cũng tự tổn tám trăm.

Bản thân Trương Phụ cũng nghĩ thế…

Lão không hiểu tướng trẻ này lấy đâu ra cái tự tin này.

Kích đã thu về sát cổ.

Đao đã chém tới sát người.

Trương Phụ đổ người thêm một chút, vừa vặn thoát được lưỡi bén của ngọn kích. Xong đai mũ của lão cũng bị chém đứt, mũ giáp rơi khỏi đầu đánh kịch một cái, làm mớ tóc bạc xõa tung ra.

Nhưng lão không vì thế mà cảm thấy tức giận, trái lại còn mừng rỡ.

Bởi, lão không trúng kích, thì thanh niên kia hẳn phải dính một đao của lão.

Chẳng ngờ, thanh niên nọ lại giơ tay, lấy hộ uyển ra đỡ lưỡi đao của lão.

Trương Phụ cho rằng y bị điên…

Cho dù có mặc giáp trụ, thì cùng lắm cũng chỉ ngăn được mũi tên, lưỡi kiếm chém vào không lấy được mạng, chớ nói chi đến một đòn quan đao toàn lực chém ra trên lưng ngựa.

Thế nên, để tay chặn trước lưỡi đao, kết cục chỉ có thể là mất cả tay lẫn mạng.

Lưỡi đao chém vào hộ uyển.

Trương Phụ cơ hồ đã nhìn thấy cảnh quan đao sáng bóng ăn ngập, xé nát hộ uyển màu đen, phạt đứt luôn cánh tay của tướng trẻ cầm kích.

Song…

Không có máu bắn ra.

Cũng chẳng có tiếng kim loạt nứt mẻ.

Trương Phụ chỉ thấy quan đao của mình chém vào hộ uyển màu đen thì bỗng nhiên bị chặn cứng, lưỡi đao thoắt cái nặng như đổ chì, cả thế lẫn đà chém mất tăm mất tích như gạo vào miệng chuột.

Tướng nọ chợt nắm chặt nắm tay, cựa mình một cái, tức thì từ hộ uyển màu đen có mấy lưỡi đao xồ ra, chém vào quan đao của Trương Phụ. Lão thấy tình thế không đúng, vội thu tay giục ngựa dạt ra xa.

Lúc này, lão mới có dịp nhìn lại thanh bảo đao đã theo mình chinh chiến nhiều năm. Chỉ thấy bấy giờ lưỡi đao sắc lẻm sáng bóng như tuyết đã có một phía bị rạch ra mấy đường dài toang hoác, chỉ thiếu điều xả lưỡi đao nặng nề đứt hẳn làm ba mảnh. Tuy là gặp chuyện kinh hoàng, nhưng Trương Phụ không hổ là tướng lão luyện sa trường, lâm nguy chẳng những không loạn mà càng thêm bình tĩnh. Lão nhìn đao quý của mình bị đánh thành một thanh phế phẩm thì đoán chừng tấm áo giáp người thiếu niên đang mặc cũng không phải vật phàm.

Thanh niên nọ khịt mũi, thúc gót vào bụng ngựa, xách kích đuổi theo Trương Phụ. Con ngựa xẹt qua chiến trường rực lửa, da như mây đen ngày bão, bờm như điện lóe giữa trời. Ngựa của Trương Phụ cũng là ngựa quý, song không cách nào so được với con thần mã lông đen bờm vàng của thanh niên giáp đen. Chỉ ba bốn hơi thở mà lão đã bị bắt kịp.

Trương Phụ chỉ thấy sau lưng có tiếng binh khí rít gió lạnh người, vội vàng nghiêng người tránh đi, song chiến bào cũng đã bị thanh niên nọ chém rụng. Lúc này, lại có mấy chục người túa ra cản đường thanh niên cầm kích, trong đó có cả Lương Nhữ Hốt.Kẻ này tay cầm song thương, giục ngựa đến cứu Phụ, nhưng vừa thấy mặt thanh niên mặc giáp đen thì đã điếng người chột dạ, vội lấy vải bạt bịt mặt. Nhưng thanh niên nọ đã nhìn thấy hành động của y, bèn cười:

“ Thằng phản thầy, tưởng vải thưa che được mắt thánh à? ”

Đoạn vung kích, đánh dạt hai tướng Minh vừa xông vào cản đường.

Lương Nhữ Hốt thấy thế, không nói không rằng, thúc ngựa múa đôi thương xáp lại.

Lúc này, thanh niên giáp đen đã lại đuổi được đến chỗ Trương Phụ, mắt thấy ngọn kích đã sắp đánh ngay ót lão ta. Lương Nhữ Hốt bèn bất thần đánh áp từ bên mé sườn lại, cả hai ngọn thương đồng thời quất ra nhắm vào đầu đối thủ. Y biết chiến giáp của thanh niên nọ là thần vật, vũ khí bình thường đừng mơ đánh xuyên qua nổi, mới nhằm ngay đầu của thanh niên nọ mà công kích hòng lấy công làm thủ, dựa vào chiêu số ác liệt để giải nguy cho Phụ.

Thanh niên nọ chẳng thèm nhìn hai ngọn thương của Lương Nhữ Hốt, mà chỉ cười khẩy một cái.

Chỉ thấy ngọn kích ở tay phải vẫn đâm về phía Trương Phụ, còn tay trái thì đã buông lơi cương ngựa, hai chân kẹp chặt lấy yên cương để giữ cho thân trên thăng bằng. Đoạn, từ hộ uyển đeo ở cánh tay có mấy lưỡi đao bật ra, nhô lên cỡ hai ba tấc. Thanh niên nọ gạt mạnh một cái, dùng lưỡi đao của hộ uyển toan chém cụt luôn hai ngọn thương của Lương Nhữ Hốt.

Song, bản thân họ Lương cũng đã biết được lai lịch bộ giáp, đương nhiên cũng đã đề phòng một chiêu này. Chỉ thấy y đột nhiên nghiêng người sang, hai ngọn thương so le nhau giật về, bắt chéo ngay trước người. Lúc cánh tay của thanh niên nọ đánh xuống, thì vừa vặn bị hai ngọn thương khóa cứng.

Con ngựa đen bờm vàng rất thông minh, thấy có biến lập tức chồm lên dừng vó, không để chủ ngã khỏi lưng mình.

Lương Nhữ Hốt bèn nói:

“ Sư thúc tuy rất mạnh, nhưng kinh nghiệm chiến trường chưa bằng ta đâu. ”

Thanh niên nọ nhíu mày, đoạn rụt tay tóm vào cán một trong hai ngọn thương, nhấc bổng cả người y lên khỏi lưng ngựa. Lương Nhữ Hốt vội thả tay, xoay mình hai vòng rồi lại ngồi ngay ngắn trên yên cương, thủ chắc ngọn thương còn lại.

Thanh niên nọ thấy bóng Trương Phụ đã khuất hẳn, biết không thể đuổi xa hơn bằng không ắt lọt vào giữa trùng vây của quân Minh. Y bực dọc thu tay, ném phăng ngọn thương ngắn xuống đất, nói đoạn lừ lừ quay lại, quắc mắt nhìn Lương Nhữ Hốt:

“ Quân phản thầy nhà ngươi cũng dám ngáng đường của ta? ”

“ Nếu không phải sư thúc muốn chặt đường làm quan của Nhữ Hốt, tôi cũng không muốn đối địch. ”

Y một câu nói sư thúc, hai câu nói sư thúc, nhìn qua thì lễ độ, kì thực do e ngại ngọn kích của thanh niên giáp đen mà thôi.Thanh niên hai ba hai tư tuổi đầu, nhưng lại có thân phận là sư thúc của Lương Nhữ Hốt, cũng là sư thúc của Lê Sát, thực là thần bí.

Nói chuyện năm xưa, Lê Sát và Lương Nhữ Hốt cùng theo học một thầy, là danh tướng Trần Khát Chân vốn là dòng dõi của Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng. Trần Khát Chân được chân truyền một bộ thương pháp hội tụ tinh hoa của mười tám ban võ nghệ, phân làm hai lộ, chia ra dạy cho hai người.

Lê Sát học được bộ dùng thương dài hai đầu, thiên về tấn công, gọi là Tung Hoành Thiên Hạ. Lương Nhữ Hốt thì học được bộ dùng hai ngọn thương ngắn, thiên về khống chế kiềm tỏa, hiệu là Uy Chấn Bát Phương. Hai bộ võ công này vừa khắc chế lẫn nhau, vừa hỗ trợ lẫn nhau, thế nên Lê Sát và Lương Nhữ Hốt đánh nhau mới không phân thắng bại.

Trừ hai lộ thương pháp, Trần Khát Chân còn có một bảo bối, chính là giáp Phù Đổng.

Giáp đúc từ đồng đen, nhẹ như áo lụa, nhưng đao thương thông thường khó mà làm tổn hại nổi. Hộ uyển, giáp vai và giáp lưng đều có giấu lưỡi đao. Chỉ cần kéo cơ quan ở thắt lưng, thì sẽ khiến lưỡi dao đồng đen bật ra, có thể kiềm chế, đánh gãy khí giới của đối thủ.

Trần Khát Chân đại chiến với Chế Bồng Nga ở Bình Than, nguy hiểm trùng trùng, chính nhờ có áo giáp này mà mấy lần thoát hiểm. Sau này ngộ nạn bị Hồ Quý Li giết chết, lão có cho quân đến lùng sục tìm giáp quý, nhưng đã không biết tung tích. Nay xem ra là lọt vào tay của thanh niên này.

Chỉ thấy thanh niên xách kích lên vai, cười gằn:

“ Nhà ngươi còn dám già mồm? ”

Lương Nhữ Hốt thấy thanh niên nọ đã động tâm muốn giết mình, đảo mắt một cái, lại nói:

“ Chẳng… chẳng phải sư thúc đã nói rằng không giúp Quý Khoáng hay sao? Tại sao lại nhân đêm tập kích doanh trại? ”

Y biết, thanh niên này cùng một thầy với Trần Khát Chân, cũng là người học được cả hai lộ Tung Hoành Thiên Hạ - Uy Chấn Bát Phương. Hai ngọn thương của y với người khác còn có thể diễu võ dương oai, cho dù Lê Sát đến đây dùng Tung Hoành Thiên Hạ cùng lắm cũng chỉ đánh ngang tay được với y, nhưng thanh niên này thì khác.

Hai lộ thương pháp tương khắc, lại cũng tương hỗ, người nọ đã học được hoàn chỉnh, thì tự nhiên có thể phá giải Uy Chấn Bát Phương của y.

Lương Nhữ Hốt không vì thanh niên nọ dùng kích đánh thương pháp mà coi thường. Y luyện Uy Chấn Bát Phương cả chục năm trời, tự nhiên hiểu được độ thực dụng của chiêu số.

Hà huống, y còn có giáp Phù Đổng và con ngựa đen bờm vàng.

Thanh niên cười nhạt, nói:

“ Chuyện của ta không đến lượt tên phản thầy nhà mày quản. ”

Đoạn vác kích lên vai, giục ngựa phóng đi, không quên để lại cho Lương Nhữ Hốt một câu:

“ Mạng chó của mày, tạm giữ lại để truyền nhân của sư huynh ta định đoạt! ”

Lương Nhữ Hốt rút ngọn thương còn lại lên, nghiến răng nghiến lợi nhìn bóng lưng của thanh niên, chửi thầm:

“ Trần Nguyên Hãn, thằng ranh con vắt mũi chưa sạch cũng dám lên mặt với tao? Mày cứ chờ đó! ”

Song, y biết mình không cản nổi năm trăm kị binh dưới tay Trần Nguyên Hãn, chỉ biết thất thểu ruổi ngựa về tây.

Y đoán chừng, lần này phải có người cần y cứu một mạng.

Thần Cơ doanh ở bờ sông cũng bị tấn công…

Quân của Đặng Dung lấy thuyền nhỏ vượt sông, tiếp cận doanh trại của quân Minh. Trước giờ Trương Phụ Mộc Thạnh tự phụ mình là phía tiến công, có hỏa pháo, quân Trần chỉ là phía phòng thử, tự nhiên là không rải chông cắm cọc để giữ bờ sông. Tuy dựa vào pháo có thể ngăn trở phần nào thế tiến, nhưng lúc này trời tối như bưng, sao có thể bắn chuẩn như lúc mặt trời treo trên đỉnh đầu được?

Chương 313: Hồi hai mươi sáu (19)

Quân Trần vào bờ, bao nhiêu nghẹn khuất mấy tháng này phải hứng chịu, đều dùng võ khí trong tay mà phát tiết. Lê Sát, Lê Văn An, Lê Lợi, và mấy tướng khác hò hét xông vào trại địch. Trong ánh đuốc lập lòe, hai bên lao vào nhau mà giáp trận, giết đến đỏ mắt bù đầu, bóng đao ánh kiếm loang loáng cả một khúc sông. Lê Sát được lên bờ như rồng về nước hổ về rừng, vung thương hai đầu giết địch như cắt rạ, không ai cản nổi. Quân Hậu Trần chia nhau chạy theo, ném đuốc đốt trại, đánh giết lung tung.

Đến lúc này, Trương Phụ thoát khỏi Trần Nguyên Hãn, cho quân nhanh chóng giữ vững thế trận, đại quân vừa chạy trên bộ vừa dùng thuyền nhỏ lui về phía đông chờ Hoàng Phúc tiếp ứng. Quân Minh sau khi bình tĩnh lại, thì đã chiến đấu bài bản hơn hẳn, vừa mở đường máu vừa cố ngăn không cho quân hậu Trần khép được vòng vây.

Sức phản kháng của quân Minh cũng khiến binh tướng Hậu Trần thoáng chùn tay. Song sĩ tốt nhìn gương Lê Sát tả xung hữu đột, xông pha oanh tạc ngay giữa lòng quân Minh thì không khỏi thấy máu nóng sôi trào, càng đánh càng hăng. Tuy không thể triệt để vây trọn quân Minh, cũng khiến Trương Phụ phải phí quân tổn tướng để chặn hậu, thương vong của quân Minh ngày một nhiều.

Mà trên thủy, cũng có Nguyễn Cảnh Dị tung quân ra đánh, hai bên giao chiến ác liệt trên sông, máu loang đỏ nước. Dưới ánh đuốc lập lòe, binh tướng quân Trần đều nháo nhào, thề phải tìm giết cho bằng được Trương Phụ. Nhưng chiến trường hỗn loạn, muốn tìm một tướng được bảo vệ bởi trùng trùng binh tốt không phải chuyện dễ, lại đánh lúc đêm hôm, nên cũng khó mà biết lão đi dưới bộ hay ở trên thuyền.

Lê Sát kéo quân đuổi đến tận cửa sông, Trương Phụ một mặt cho quân thủ gắt gao, một mặt lại cho đốt lửa ra hiệu với Hoàng Phúc. Đoàn thuyền của Phúc là loại thuyền Phúc Kiến lớn, quân của Hải Thượng Hung Lang chỉ có thể quấy nhiễu được tối đa là một ngày mà thôi, đến gần sáng thì hải tặc cong đuôi bỏ chạy. Hoàng Phúc chính đang định cho quân đổ bộ, thì thấy lửa ở bờ bắc nổi lên. Biết là có sự chẳng lành, lão bèn cho quân dong thuyền vào viện trợ.

Lê Sát lúc này giết đỏ cả mắt, một mực nhìn quét bốn phương quyết tìm cho ra Trương Phụ. Cả Lê Sát, Lê Văn An và Lê Lợi, cũng như hết thảy tướng sĩ quân Trần biết rõ một điều, hôm nay nếu không giết được Trương Phụ thì quân Trần sẽ không gượng dậy được.

Trương Phụ trốn giữa ba quân, một mặt ra hiệu lệnh, một mặt lại cảm thấy khuất nhục. Hai lần lão công phạt Đại Việt thì đây là lần đầu tiên lão bị đánh cho thất thểu như bây giờ. Nhất là ban nãy hai lần bị Trần Nguyên Hãn đuổi sát, mém chút là toi mạng dưới kích của y, chỉ nghĩ lại thôi mà khiến da đầu Phụ lạnh căm căm. Nay thấy trên sông có quân của Nguyễn Cảnh Dị ép sát lại, bộ thì có Lê Sát đánh úp vào, lão bèn đảo mắt một cái, đoạn rút kiếm cắt phăng chòm râu, cạo tóc, cởi giáp, ném bào. Thậm chí soái ấn và bội kiếm cũng vứt luôn xuống đất.

Lê Sát đánh xộc được vào hàng ngũ của quân Minh, thì toàn thân đã nhuốm máu đỏ lừ, cả người bốc lên mùi tanh của máu. Cũng không rõ đâu là máu của y, đâu là máu của kẻ thù, chỉ biết là cả người hiếm nơi nào kịp khô vết máu. Lê Sát vung thương đâm chết hai người nữa, lại quát:

“ Thằng giặc già Trương Phụ, cút ra đây! ”

Trương Phụ biết đối phương quả thực nhắm vào mình, bèn lẩn giữa đám quân. Mặc dù với một kẻ tự phụ trăm trận trăm thắng như lão mà nói thì nhục này không bút nào kể xiết, song lúc này lão hiểu, chỉ cần lão sống thì coi như trận Sái Già quân Trần tuy thắng mà không vui cho nổi.

Quân Hậu Trần ùa vào đánh giết, Lê Sát nhặt soái ấn giương cao lên trời, quát:

“ Vứt cả soái ấn để trốn, loại người hèn nhát này đáng để các ngươi phí mạng sao? ”

Quân Minh một phần không hiểu, phần lại không đáp, còn một bộ phận nữa là hàng quân từ thời Đại Ngu thì cúi gằm mặt không đáp. Lê Sát chửi thêm hai câu, thấy phía xa đã có bóng thuyền của Hoàng Phúc, to như nhà lầu, đèn đuốc sáng rực thì không khỏi tiếc rẻ. Y bèn ném soái ấn lên không, lấy thương chặt vỡ, rồi cho quân lui gấp.

Thuyền của Hoàng Phúc là thuyền Phúc Kiến loại lớn, so với thuyền chiến dùng trong trận Sái Già còn phải to hơn. Mà thuyền như thế, hỏa lực thật là đáng sợ. Có ở lại không rút thì cũng chỉ là chịu pháo ăn đạn mà thôi…

Trương Phụ tuy là sống sót, nhưng phải cắt râu chém tóc, vứt ấn bỏ kiếm thì cũng mất mặt vô cùng. Đến khi lên thuyền rồi, mới lấy lại bình tĩnh.
Lão lớn tiếng nhìn trời mà chửi, chửi Trần Nguyên Hãn và năm trăm quân kỵ của y thần không biết quỷ không hay xuất hiện đánh trại, khác nào từ trên trời rơi xuống dưới đất chui lên?

Còn Hoàng Phúc, thì cũng mang hận trong lòng với các băng cướp dưới trướng của Hải Thượng Hung Lang. Nếu không phải tự nhiên cướp biển nhảy vào quấy nhiễu, thì lão đâu có đem quân đến muộn, quân Trần đã sớm bị vào thế gọng kìm rồi.

Về phần Mộc Thạnh thì đã ứng trước với Phụ, nếu như có gì bất trắc, lão sẽ dùng ngựa khỏe chạy về phía bắc, đến bến sông chờ thuyền của Hoàng Phúc. Trước khi ra trận, hai lão Trương – Mộc hãy còn nghĩ mình quá cẩn thận, cho rằng trận này chắc thắng, bàn đường lui chỉ là làm cho đúng thông lệ.

Nhưng không ngờ được…

Bọn hắn lại bại.

Bại, bởi hai biến số cực lớn là hải tặc và năm trăm quân kị tinh nhuệ của Trần Nguyên Hãn.

Mộc Thạnh rút quân nhanh, quân của Nguyễn Súy vừa dùng thuyền làm cầu, vừa nhảy ùm xuống sông bơi vào bờ, rồi đuổi theo rất gắt.

Lão chạy được non hai ba dặm thì trời dần tảng sáng, ánh mai ló qua đầu ngọn tre. Những tưởng đã thoát được truy binh, Mộc Thạnh toan cho quân ngồi nghỉ ngơi lại sức thì bỗng nhiên ở phía đông có tiếng người quát:

“ Mộc Thạnh, mày chạy đằng trời! ”
Lão ngoái đầu lại, đã thấy một thanh niên giáp đen, cưỡi trên con ngựa ô bờm vàng, tay nắm thanh long kích chạy tới. Sau lưng y, mấy trăm quân kị đồng thời xung phong, giáp bạc bào trắng, nhìn tưởng như một biển mây vậy.

Trần Nguyên Hãn thấy Trương Phụ đã trốn, bèn kéo quân vòng theo hướng tây bắc, chặn đường Mộc Thạnh.

Mộc Thạnh thấy tướng này lạ mặt, bèn vung siêu, nói:

“ Nhãi con tí tuổi ranh, tưởng ta sợ hay sao? ”

Đương nhiên hai bên chẳng hiểu nhau nói gì, nhưng hò hét một phen như thế cũng khiến cho khí thế của bản thân tăng lên, không phải chuyện gì xấu.

Trần Nguyên Hãn vung ngựa chạy tới, xỉa một kích ngay mặt. Thạnh vung siêu đỡ, chỉ thấy cánh tay tê rần, người thiếu chút nữa là ngã khỏi lưng ngựa, thầm khen khí lực thanh niên không nhỏ. Cũng phải nói ngày trước lão đánh trận, Hồ Đỗ chặt đứt một tay, nên hiện giờ cầm quân thì dễ, đấu tướng lại hơi bất lợi. Chẳng qua nhìn thấy Trần Nguyên Hãn còn trẻ, tưởng y yếu thế, lão mới ra đánh. Không ngờ võ lực thanh niên nhìn diện mạo thư sinh lại hung hãn đến thế.

Thắng được nửa chiêu, Trần Nguyên Hãn thừa thế công mạnh, muốn nhân lúc này giết chết Mộc Thạnh. Y tin rằng Đặng Dung sẽ xử được Trương Phụ, nên mới kéo quân chặn đường định tung lưới bắt nốt Mộc Thạnh. Một khi Trương – Mộc cùng chết, quân Minh không đánh tự tan.

Mộc Thạnh thấy thế kích đâm rất gấp, vội trở siêu đao lên đỡ. Lại có một tiếng kim khí chát chúa vang lên, tay lão bật máu tê bại, nhưng lần này đã có đề phòng nên hạ bàn vững vàng hơn. Bất thần, con ngựa ô bờm vàng lại tung vó đá một cái ngay vào đùi con ngựa của lão. Thấy ngựa chiến đang cưỡi đã hơi loạng choạng muốn đổ, lão vội vàng tóm lấy yên cương ghìm lại, giúp con ngựa lấy lại thăng bằng. Nhưng đồng thời, siêu của lão cũng rơi xuống đất.

Bấy giờ, có mấy bộ hạ của Mộc Thạnh giục ngựa tới, vừa chém vừa đâm vào lưng của Trần Nguyên Hãn hòng cứu lão. Lại có hai tên vòng ra trước, múa vũ khí chặn đường, không cho con ngựa ô bờm vàng tung vó vọt khỏi bóng đao ánh thương đến chỗ Mộc Thạnh. Trần Nguyên Hãn liếc ngang một cái, đoạn mặc kệ cho đao thương của địch đánh lên người mình. Quân Minh thấy y không thèm né, mừng như mở cờ, càng dồn lực vào đôi tay. Nào ngờ, chỉ nghe xoảng một tiếng, lưỡi đao đầu thương của chúng chẳng một cái nào chém được vào chiến giáp màu đen dù chỉ một chút. Trần Nguyên Hãn gõ vào cơ quan ở đai lưng, tức thì từ sau lưng giáp cũng có lưỡi đao bật ra, phá hủy bằng sạch vũ khí của đối thủ.

Y lại giục ngựa, con ngựa đen chồm vó, hất bờm, lao đi như điện xẹt.

Hai tướng cản đường Trần Nguyên Hãn đang khấp khởi chờ cảnh y bị thương đâm đao chém chết tươi, thế nên lúc này không kịp vận lực, chỉ đành liều mình dựng khí giới lên định đỡ. Nào ngờ ngọn kích của Trần Nguyên Hãn chỉ lách nhẹ một cái, đã xảo diệu lùa qua phòng ngự của một tên, đầu mũi kích thọc ngay một nhát chí tử vào nách. Nói đoạn, Trần Nguyên Hãn lại kéo cơ quan, khiến lưỡi dao ở hộ uyển bật ra. Mắt y lóe lên như điện, nhằm chuẩn ngay cần cổ đối thủ còn lại, nhè dao cứa một nhát.

Thoắt một cái, hai tướng cản đường đổ khỏi lưng ngựa, một tên hấp hối một kẻ bay đầu.

Mộc Thạnh giục ngựa chạy gấp, lúc thấy mấy trăm quân kị giáp bạc càn quét qua đạo quân của lão thì lão cũng đã đoán chắc bảy tám phần đội quân tập kích vào đại doanh quân Minh đêm qua ắt hẳn chính là những người này chứ không ai khác. Bấy giờ Mộc Thạnh chỉ thấy giật mình, không hiểu tại sao quân Hậu Trần lại có một đội kị binh tinh nhuệ đến thế này. Càng khó hiểu hơn tại sao cánh quân này và tiểu tướng mặc áo giáp đen không ra trận ngay từ đầu mà lại đợi đến lúc sắp thua mới đột nhiên xuất hiện.

Lão mới nghĩ tới đây, thì sau lưng đã nghe tiếng vó ngựa khua vang. Quay đầu nhìn, thì thấy Trần Nguyên Hãn cưỡi con ngựa chiến bờm vàng, tay xách kích dài chạy tới. Ngựa ô giáp đen, hung hãn thần tốc, thực không khác gì một cơn giông tố trong đêm đen.

Chương 314: Hồi hai mươi sáu (20)

Mộc Thạnh tự biết tuy ngựa của lão cũng là ngựa tốt, nhưng tốc độ chẳng thể nào so bì được với con ngựa bờm vàng. Thoắt một cái, mà lão đã bị Trần Nguyên Hãn đuổi kịp. Ngọn thanh long kích phóng ra, lưỡi bên toan chém phăng đầu lão, ngọn mác định xuyên thủng lưng ra trước ngực.

Thình lình, từ phía trước, có một người một ngựa phóng đến, dùng hai ngọn thương ngắn đỡ hộ lão một đòn lấy mạng.

“ Hầu gia chớ lo, có Lương Nhữ Hốt ta đây! ”

Trần Nguyên Hãn thấy y hai lần cản mình giết tướng quân địch, lửa giận cháy ngút trời, giật quát lớn:

“ Quân khốn nạn được đằng chân lân đằng đầu, tưởng tao không giết được mày phỏng? ”

Chỉ thấy y vung chéo ngọn kích, nhằm ngay eo lưng của Lương Nhữ Hốt mà đánh. Họ Lương bình tĩnh trở ngược đôi thương ngắn, khóa lấy mũi kích. Nhưng chiêu này của y, vốn nằm trong chiêu số của Uy Chấn Bát Phương, tự nhiên không thể làm khó nổi Trần Nguyên Hãn. Chỉ thấy ngọn kích trong tay chuyển hai vòng, rồi đột nhiên hất ra một cái, thế khoá của hai đầu thương lập tức bị phá giải. Chẳng những thế, dư kình từ thân kích truyền sang, Lương Nhữ Hốt còn thấy cả hai cổ tay đau buốt tưởng lên tận óc.

Song, do cùng được chân truyền, nên y thừa biết thế công Tung Hoành Thiên Hạ của ngọn kích chưa dứt mà mới chỉ bắt đầu mà thôi, bèn vứt thương cúi đầu, nghiêng người ngã khỏi lưng ngựa. Ấy thế mà cũng chỉ vừa vặn thoát khỏi một nhát đâm sau cùng của Trần Nguyên Hãn.

Thanh thanh long kích của Trần Nguyên Hãn có một mũi thương thứ hai gắn ở đốc, thế nên lúc vừa đẩy bạt được song thương phá thế kìm kẹt, là y mượn đà hất để trở ngược đầu kích, nói đoạn phóng chuôi kích tấn công Lương Nhữ Hốt. Đuôi kích xé gió xẹt qua mặt, đâm rách một bên tai y khiến máu chảy ròng ròng.

Nếu như hồi nãy Lương Nhữ Hốt chần chờ trong nửa hơi thở thôi thì bây giờ yết hầu của gã đã bị kích của Trần Nguyên Hãn xỏ xuyên qua rồi. Họ Lương lăn lộn dưới đất, bụi đất dính đầy người, máu đổ ròng ròng nóng bừng cả nửa bên mặt và dưới cổ. Gã lồm cồm bò sang một bên, con ngựa chiến mất chủ hoảng hồn tung vó loạn xạ. Bên tai họ Lương giờ chỉ còn nghe những tiếng vó ngựa cà rộp, cà rộp. Điều này thực khiến hắn lạnh gáy, vì bây giờ không nghe được tiếng ngọn kích xé gió thì hắn thật không biết phải đón đỡ thanh thanh long kích trong tay Trần Nguyên Hãn ra sao.

Trần Nguyên Hãn đâm xong, lại nhân đà chưa hết phạt ngang ngọn kích, lưỡi bên chém phăng đầu con ngựa Lương Nhữ Hốt vừa cưỡi. Đoạn, y lại cho con ngựa ô bờm vàng đuổi theo, toan lấy vó giày xéo Lương Nhữ Hốt đang bò dưới đất.

Lương Nhữ Hốt nhặt vội đôi thương, vừa vặn đỡ một kích bổ xuống như trời giáng của Trần Nguyên Hãn. Lưỡi kích cách đỉnh đầu y độ hai thốn, còn đôi chân y thì bị đánh cho lún hẳn xuống đất ngập đến tận mắt cá.

Trần Nguyên Hãn lật cổ tay trở lưỡi kích, quét ngang một cái chém đứt luôn búi tóc của Trần Nguyên Hãn. Đoạn, lại hất ngược đuôi kích chém một phát trúng vào cằm của Lương Nhữ Hốt, kéo theo một vòi máu dài phóng vọt lên trời. Nếu không phải họ Lương sử đôi thương tài tình, thì đuôi kích của Trần Nguyên Hãn đã thừa thế lùa thẳng vào yết hầu của y.

Song, chống tới năm chiêu chí mạng cũng khiến y buông thõng đôi thương ngã vật ra đất. Thoạt nhìn, có vẻ đã đến lúc sơn cùng thuỷ tận, nỏ mạnh hết đà.

Y thở hào hển, lòng thầm thấy kinh sợ.

Người xưa dạy, kiếm chẳng quấn đầu, kích chẳng múa hoa. Xưa nay kích không thể vung lên thành một vầng như thương, đao, ấy vốn là lẽ thường của nhà binh.

Thế nhưng, Trần Nguyên Hãn lấy ngọn thanh long kích làm thương, hiển lộ hết thảy biến hoá thần kỳ của Tung Hoàng Thiên Hạ và Uy Chấn Bát Phương.

Kích là một loại vũ khí bắt đầu từ đời Thương, Chu, từ ngọn qua diễn biến mà thành. Có thuyết bảo kích “ tượng hình một con rồng ” tức là có đầu rồng, miệng rồng, thần rồng, bốn vuốt rồng, đuôi rồng. Đầu có thể thọc tới miệng có thể lừa, thân có thể dựa ép, vuốt có thể vồ, đuôi có thể vẫy.

Ngọn kích trong tay Trần Nguyên Hãn, thực giống như rồng thần vùng vẫy giữa sóng, chiêu số thu phát tự nhiên, phát huy bốn chữ “ nhanh ”, “ mạnh ”, “ chuẩn ”, “ ổn ” đến mức tận cùng.

Trần Nguyên Hãn chỏ ngọn kích vào mặt y, cười gằn, hỏi bằng giọng châm chọc:

“ Nhà ngươi bán nước cầu vinh, giờ vinh hoa phú quý chưa kịp hưởng đã chết dưới kích của tao, đáng không? ”
Lương Nhữ Hốt thở hào hển, đáp mà lời nói đứt đoạn:

“ Ta… đương nhiên… vì lợi. Nên… không để… mình chết… đâu! ”

Trần Nguyên Hãn nghe hắn nói, thầm thấy không ổn, đoạn phóng kích toan lấy mạng của hắn tránh khỏi có biến. Nào ngờ, ngọn kích của y vừa động, thì bên tai đã có tiếng rít gió vang lên. Trần Nguyên Hãn bị công bất ngờ, nhưng trên thân mặc giáp Phù Đổng nên không sợ hãi gì, chỉ giơ tay ra đỡ.

Nào ngờ người nọ cũng không có ý định chiến, khí giới đánh một nửa đã thu về, lại dùng roi ngựa quất vào cuốn lấy thân kích của Trần Nguyên Hãn, khiến y nhíu mày một cái.

Lương Nhữ Hốt đột nhiên bật dậy, tung mình bỏ chạy về phía người nọ.

Hắn sớm biết không phải đối thủ của Trần Nguyên Hãn, nên không hề bung hết sức liều mạng. Bề ngoài nhìn như kiệt lực, nhưng trước sau vẫn giữ một hơi chân khí trong bụng, mặc cho có bị ngọn kích uy hiếp tới suýt chết cũng không chịu dùng tới. Nãy giờ nhân lúc Trần Nguyên Hãn hả hê châm chọc, y lại tranh thủ hồi phục được thêm một chút chân khí, giấu cả trong đan điền.

Lương Nhữ Hốt thừa hiểu, giáp Phù Đổng là báu vậy trong thiên hạ, cho dù y có ở lúc toàn thịnh cũng khó lòng làm xây xước nổi. Hơi chân khí này y để dành, vốn định dùng để chưởng một phát vào chân con ngựa ô bờm vàng.

Ngựa thần tuy thông minh hung hãn, nhưng cũng không phải xương đồng da sắt. Chỉ cần Lương Nhữ Hốt đánh gãy được chân ngựa, thì sẽ khiến Trần Nguyên Hãn mất đà, y sẽ có cơ hội chạy trốn.

Nhưng thấy viện binh y chờ đã đến, Lương Nhữ Hốt không cần liều mạng, bèn dùng khinh công chạy thật nhanh.

Trần Nguyên Hãn không ngờ họ Lương giảo hoạt đến thế, lúc này mà vẫn còn sức khinh công chạy mất. Hôm nay đã xổng mất hai con cá lớn, há lại có chuyện để lọt nốt tên này sao?

Y thấy bất nhẫn, bèn giật mạnh ngọn kích toan giằng đứt roi ngựa, đặng đuổi theo giết Lương Nhữ Hốt. Song người kia có công phu nội gia không hề tầm thường, ngọn roi cuốn lấy thân kích cứng như đeo đá. Trần Nguyên Hãn giật mạnh hai cái không suy suyển, biết gặp kình địch, bèn lấy dao ở hộ uyển chặt phăng ngọn roi ngựa.

Lúc này Lương Nhữ Hốt đã leo lên lưng ngựa của người kia, kẻ đến tiếp tế đánh cương tế ngựa, đoạn phóng mình về phía đông.Người có nội lực cỡ này, trong quân Minh, trừ Hoàng Phúc ra không có người thứ hai.

Trần Nguyên Hãn tức mình, chửi to một tiếng. Bấy giờ quân kị của y đã quét phăng đội kị binh dưới trướng Mộc Thạnh. Mà đằng xa, đã có cờ sí giương cao, báo hiệu Mộc Thạnh đã có viện binh, không tiện truy sát.

Đã không còn chuyện để làm, Trần Nguyên Hãn bèn cho quân lui về.

Y vỗ một cái vào kiếm Long Tuyền đeo ở thắt lưng, lại lấy một tờ giấy trên có ghi mấy chữ ra, tự nhủ:

[ Lê Lợi, không biết y là người thế nào, mà cả quan Bình Chương Đặng Dung và ông anh họ của mình đều khen hết lời. Lần này phải gặp tận mắt xem sao. ]

Nói rồi tế ngựa, kéo quân lui về phương nam.

Hết hồi hai mươi sáu

Lời tác giả:

Trận Sái Già ở hồi này có vài điều mình muốn chia sẻ:

_ Khúc sông hai bên giao chiến là Sái Già ( Thái Già) một đoạn của sông Thạch Hãn ( Chính sử ta không rõ ở đâu, sử Tàu chép ở sông Ái Tử). Tuy nhiên, đoạn sông Ái Tử theo như mình tra trên google map ( do hiện tại tác đang du học ở nước ngoài, không có điều kiện về tận nơi khảo sát) thì nó chảy theo hướng Bắc - Nam => việc để hai quân dàn trận ở hai mặt nam - bắc bờ sông là không thể. Tuy không loại trừ năm trăm năm sau sông đổi dòng, nhưng chẳng nhẽ tự tưởng tượng bẻ ngoặt sông từ chảy bắc - nam thành đông - tây cho hợp? Thành thử mới chọn một khúc sông khác. Nếu văn tài yếu kém, độc giả đọc hồi này vẫn không tưởng tượng ra chiến địa, thì tìm Bác Phước ở Quảng Trị sẽ ra ngay

_ Chính sử ta ghi lại, Đặng Dung cho đặt voi chiến ở bờ bắc sông, nhân đêm đánh úp hoặc nhân đêm tắt hết đèn đóm đánh trại Trương Phụ. Cả hai cách này đều vô lí. Bởi trước đó chuyện Phan Quý Hựu ra hàng, nói hết địa thế quân cơ của ta cho Trương Phụ đều được chính sử chép rành rành giấy trắng mực đen. Một viên hổ tướng như Phụ mình nghĩ không mắc sai lầm cơ bản đó. Ngoài ra, sông Thạch Hãn (khúc Ái Tử) cũng rộng 150-200m. Khúc mình chọn ở Bác Phước nơi rộng nhất là 450-500m, đưa quân sang không một động tĩnh là chuyện không tưởng ( để cho dễ hiểu thì khúc sông Như Nguyệt hồi ta đánh Tống chỉ rộng trung bình 80m).

Phần này đã nói qua trong truyện, không nhắc lại nữa, chỉ giải thích nguyên do tác phải nhảy cóc sang chỗ khác.

_ Đúng ra cũng định viết thuỷ chiến cỡ lớn, kéo dài, do trận này quả thực không kém gì Xích Bích của Tàu. Song nhìn lại trước đấy, quân Hậu Trần bị đánh chạy từ Nghệ An vào tận Quảng Trị không thắng nổi một trận, Chu Đệ còn ra chiếu cấm dân trồng lúa tiếp lương => không thể có đủ vật tư hậu cần cần thiết để làm một trận chiến kéo dài, có phần đáng tiếc

Về cổ mộ:

Nếu ai có hứng thú, đám chuồn chuồn trong cổ mộ là một sinh vật có thật trên trái đất, tên khoa học là Meganisoptera, tên thông dụng là Griffinfly, tồn tại từ 300 triệu năm trước. Sải cánh chính xác của nó là 76cm, chiều dài cơ thể xấp xỉ nửa mét, bằng một con chim ăn thịt cỡ lớn bây giờ

Mèo răng kiếm quá nổi tiếng (hổ răng kiếm thực ra là cách gọi sai, nhưng hổ nghe oai hơn nên) ai cũng biết, song đa phần không to đến mức như truyện miêu tả. Sở dĩ con trong mộ kích cỡ to lớn quá cỡ là do thời gian gần đây giới cổ sinh phát hiện hộp sọ của một chi mèo răng kiếm mới, ước tính có thể to gấp đôi sư tử châu phi. Có thể cái khẳng định trên có phần phóng đại, nhưng cũng khá thú vị. Vì nguyên do này nên kích cỡ của con trong truyện là mình lấy số đo của hổ Đông Dương nhân đôi

Ngoài ra, trâu thần Đại Thắng tuy là bịa, nhưng ý tưởng "loài móng guốc ăn thịt" được lấy cảm hứng chủ yếu từ hai loài sinh vật có thật là Andrewsarchus và Entelodont. Đây là hai loài ăn thịt có móng guốc, nhưng đều đã tuyệt chủng.

Còn nguyên nhân đám thú cổ này xuất hiện, hồi 27 sẽ giải đáp

Chương 315: Hồi hai mươi bảy (1)

Mộ cổ, thần kiếm trảm yêu đạo

Lam Sơn, Lữ Bố đánh Tử Long

Trước kể đến Tạng Cẩu và Phiêu Hương dưới mộ của thánh Chèm Lí Ông Trọng, đụng phải lũ chuồn chuồn khổng lồ.

Hai người chạy vào ngách đá nhỏ hẹp, người lướt đi chân không chấm đất, yên lặng như bóng ma.

Vượt qua được cửa hang nhỏ, hai người tiến vào một động đá khác. Thấy trước mặt có ánh sáng nhàn nhạt, Hồ Phiêu Hương bèn kéo bạn nấp vào mép đá, không lộ chút vết tích nào ra ngoài đề phòng bọn chuồn chuồn quái vật phát hiện.

Chỉ thấy nơi này có giếng trời thông lên trên, lúc này ánh trăng giữa đỉnh đầu, soi vào hang động. Có ánh trăng bàng bạc soi chiếu, lại dựa vào nội công của mình, Tạng Cẩu mới nhìn hết được quang cảnh trong động.

Chỗ hai người đứng là một gờ đá hẹp, nhìn thẳng ra một vực thẳm sâu hun hút, rộng đến mười trượng. Vách đá dưới chân dốc như tường thành, trơn phẳng như gương, không thể leo xuống được.

Về phần tại sao trong mộ lại có vực thẳm, thì hai người cũng không nghĩ ra.

Lúc này, giữa vực sâu có đám chuồn chuồn bay qua bay lại, con nào con nấy đều to như đại bàng. Vỏ giáp của chúng phản chiếu ánh trăng sáng bóng lên, trông cực kì dọa người.

Tạng Cẩu nheo mắt nhìn, phát hiện dưới đáy vực có ánh lửa vàng vọt.

Hồ Phiêu Hương loay hoay tìm mãi cũng không thấy cơ quan nào để vượt qua vực thẳm, sau hơn một canh giờ mới thở dài mà rằng:

“ Đường cụt rồi. ”

Hai người buộc phải theo lối cũ mà vào.

Tạng Cẩu bèn nói:

“ Tớ thật không hiểu người tương lai nghĩ gì mà lại xây một ngôi mộ có cả vực thẳm. ”

Hồ Phiêu Hương đáp:

“ Vị tất đã là do người. Nhỡ đâu vốn là không có cái vực đó, hoặc có giấu cơ quan để bắc cầu. Nhưng năm dài tháng rộng, chỗ đó lại có giếng trời lộ thiên, cơ quan có bị làm mòn vẹt đi, kiến trúc trong mộ sụt xuống thành vực cũng không phải chuyện gì kì lạ. ”

Hai người trở lại hang động nơi có cái xác của con hổ nanh kiếm…

Tạng Cẩu lúc này mới nói:

“ Nhắc mới nhớ, lão già Chấn Nguyên tử không xuất đầu lộ diện thật đấy à? ”

Ban nãy, hai người cố tình nói to, để dụ lão ta ra khỏi chỗ nấp. Ấy thế mà không có động tĩnh gì, cũng không thấy lão bám theo. Hồ Phiêu Hương nghĩ một thoáng, bèn nói:

“ Trước đó, Lí Thông và một tên khách giang hồ cũng mất tích trong hốc đá. Mới nãy, Chấn Nguyên tử cũng chui vào chính cái hốc đó. Liệu… cửa hang trước mặt là giả, cửa bí mật giấu trong hốc đá mới là thật? ”

Hai người bật mồi lửa, rồi chui vào cái hốc ban nãy ba người biến mất mày mò kiểm tra từng ngóc ngách. Được một chốc thì Tạng Cẩu rờ thấy một chỗ hõm vào ở cuối cái hốc, sát bờ đá. Cậu chàng không quên bảo bạn cẩn thận, rồi mới thò tay vào, kéo cơ quan.

Chỉ thấy vách đá ở cuối hốc bỗng nhiên trượt xuống, để lộ một cửa ngách. Tạng Cẩu và Phiêu Hương búng mình nhảy vào, thì phát hiện một căn phòng đá. Khác với những nơi khác trong mộ, phòng này được xây bằng gạch, bốn phía nhẵn láng như gương. Tường đá hai bên trang trí đầu chim lạc ngậm dạ minh châu soi sáng, dưới chân tường lại có hai rãnh con dùng để tháo nước. Tạng Cẩu thấy gạch dưới chân hơi có vết xây xước, đồ rằng ba người đi trước hẳn là gặp phải cạm bẫy nào đó.

Hai người đi một chốc, thì sang đến một căn phòng khác. Nơi này có một đầm nước màu đen, phía trên có mấy chục cái quan tài gỗ sơn màu trôi lềnh phềnh, trần nhà lại có thi thể quấn băng treo lủng lẳng, nhìn trông cực kì kinh khủng.

Lúc này thì bài trí trong mộ đã cực kì giống nơi thờ tự người chết bình thường rồi, thế nên Tạng Cẩu bắt đầu thấy lạnh gáy.Hồ Phiêu Hương thì chậm rãi đến bên hồ quan tài, lấy một miếng vải rắc xuống. Vải vừa chạm nước, tức thì có tiếng xèo xèo, khói bốc lên mù mịt. Miếng vải thô trong nháy mắt đã bị thứ nước đen bên trong hồ quan tài đốt cháy không còn tăm tích.

Cô nàng lại lấy một chút thuốc bột, vẩy về phía những thi thể treo lủng lẳng. Lại có khói bốc lên, nhưng lần này lại có cả một mùi tanh lợm giọng. Hồ Phiêu Hương đứng mũi chịu sào, lập tức thấy đầu ván mắt hoa, vội lấy thuốc giải trong túi của thiền sư Tuệ Tĩnh hít một hơi. Tạng Cẩu lập tức khinh công kéo bạn cách xa khỏi cái đầm quan tài.

Hồ Phiêu Hương nôn thốc nôn tháo một chốc mới ổn, bèn nói:

“ Nước trong đầm có độc, cùng một loại độc trong cái phòng giam bọn mình của Lí phủ. Rơi vào đó thì không còn cả xương. Mà những cái xác này không biết bằng cách nào mà ngàn năm không hư thối, còn sinh ra độc xác, mình không đụng vào được. ”

Tạng Cẩu nhìn cái đầm bát ngát kéo đến tận bờ tường hai bên, biết rằng muốn đi tiếp không vượt qua cái đầm quan tài này thì không được. Mà đám thây treo trên trần chẳng khác nào cái vòng kim cô của cao thủ khinh công, không cho nhảy bật lên, bằng không sẽ dính phải độc xác ngay. Tạng Cẩu lấy phi châu vung ra, toan đánh rụng những cái xác, nào ngờ những đoạn dây xích đang giữ chúng lơ lửng cũng làm từ đồng đen. Đồng đen gặp đồng đen, tự nhiên phi châu của Tạng Cẩu cũng không chiếm được chút phần thắng nào.

Cậu chàng không khỏi do dự, không biết vượt qua đầm quan tài này thế nào cho phải. Nếu như Tạng Cẩu có giáp Phù Đổng của Trần Nguyên Hãn thì tự nhiên không sợ những cái xác trên trần, nhưng đương nhiên điều ấy thực là chuyện bất khả thi.

Hồ Phiêu Hương bèn nói:

“ Cẩu nhìn xem, hình như mỗi quan tài đều ứng với một cái xác. ”

“ Đúng thật. ”

Hai người dùng mắt ước lượng thoáng một lượt, phát hiện những cái xác được treo ngay phía trên những quan tài đang trôi nổi trong đầm. Đôi chân của xác chết cách quan tài cỡ năm xích.

Hồ Phiêu Hương bèn cười:

“ Đối với người Tàu, khoảng cách giữa chân của cái xác và quan tài hơn thấp, muốn sống thì phải cúi khom người. Mà cúi người như thế, lực dồn xuống hạ bàn, ắt sẽ sảy chân khỏi các quan tài. Người Nam mình vốn thấp bé hơn, khoảng cách này sẽ rất thoải mái. Tớ và Cẩu lại là trẻ con, chắc đi qua không khó đâu. ”

Tạng Cẩu nói:

“ Thế thì cẩn thận một chút. ”

Hai người lại dùng vải kiểm tra, lúc thấy bề mặt quan tài không có dính độc mới dám đặt chân lên. Tạng Cẩu tiến lên trước, Hồ Phiêu Hương theo sát phía sau, song cũng không dám bước lên cùng một cái quan tài với Tạng Cẩu, đề phòng nó không chịu được nặng. Vừa bước được bước đầu tiên, hai người đã cảm thấy cái quan tài hơi lún xuống một chút, nhưng rồi lại vững vàng như cũ.Lúc này đứng ngay trên quan tài, Tạng Cẩu đã có thể nhìn loáng thoáng được cơ quan ngầm dưới nước.

Té ra những cỗ quan tài này được cố định trên một cái cọc có đốt, dưới có chốt mở. Nếu dẫm chân quá mạnh, hoặc người đứng trên quan tài quá nặng, thì quan tài sẽ đẩy các đốt khớp vào chốt mở, làm quan tài chúc đầu xuống. Lúc này, nếu không nhảy tránh, ắt sẽ bị kéo xuống đầm nước độc. Nhưng nếu nhảy, ắt sẽ bị dính phải độc xác của những thi thể trên trần. Tạng Cẩu toan bước bước thứ hai, thì Phiêu Hương đã kêu to ngăn lại:

“ Chờ đã. ”

Mấy năm nay phiêu bạt cùng nhau, Tạng Cẩu đã có phần quen với tác phong hành sự của bạn. Nếu Hồ Phiêu Hương đã lên tiếng ngăn cản, một là có âm mưu gian trá, hai là có trận pháp huyền diệu. Mà cả hai thứ trên, Tạng Cẩu đều không thạo lắm, đấu với người khác ắt sẽ phải bị thua thiệt.

Cái đầm quan tài là vật chết, thế nên không thể có tâm kế.

Cũng tức là chỉ còn trường hợp thứ hai: Có trận pháp!

Tạng Cẩu bèn hỏi:

“ Lẽ nào đầm quan tài này còn có trận pháp gi? ”

Hồ Phiêu Hương nói:

“ Trận này đúng là cực kì quái đản. Số quan tài trong đầm có bảy màu, nhìn thì có vẻ như cái gáo nước, là trận Bắc Đẩu Thất Tinh. Nhưng thực tế, bảy màu này đại diện lần lượt cho kim mộc thủy hỏa thổ, lấy âm dương lưỡng nghi làm mắt trận. Ngũ hành nương theo âm dương hoán vị mà biến đổi, khi tương sinh lúc tương khắc, tạo thành một sát trận cực lớn. ”

Tạng Cẩu bèn hỏi:

“ Nhưng chẳng phải trong ngũ hành, hành thủy màu đen, hành kim màu trắng. Thế thì phải phân biệt với âm dương ra sao? ”

Hồ Phiêu Hương chỉ nắp quan tài, nói:

“ Thái cực lưỡng nghi, tức là trong dương có âm trong âm có dương. Cẩu xem cái quan tài đen nào nắp trắng, tức là âm. Còn nếu thuần một sắc đen, thì là hành thủy. Dương và hành kim cũng tương tự như thế thôi. ”

Cô nàng ngẫm một lát, lại nói:

“ Chỗ chúng ta đang đứng là quan tài màu vàng, tượng trưng cho hành thổ. Một lát chờ tớ nói rồi hẵng đặt chân, đừng có bước bừa. ”

Hai người mỗi người một hướng, bước trên nắp quan tài, quả nhiên không có sự lạ.

Hồ Phiêu Hương bảo Tạng Cẩu đứng lại, rồi nói:

“ Quan tài âm đặt bên trái, hẳn là chỗ đó trận pháp biến hóa theo quy tắc ngũ hành tương khắc. Cẩu trước tiên bước lên quan tài đen, là chiếu theo thổ khắc thủy. Bước một bước rồi ngừng lại, chờ xem biến hóa thế nào. ”

Tạng Cẩu gật đầu, nhón chân từ quan tài màu vàng thuộc hành thổ, bước sang quan tài đen hành thủy.

Chân vừa đặt lên quan tài, đã nghe có tiếng cơ quan chuyển động. Chỉ thấy quan tài đen nắp trắng đại diện cho âm khẽ xoay dọc, tức thì, những xác chết ứng với những cỗ áo quan hành hỏa bất chợt hạ xuống, đến lúc chân gần chấm vào nắp quan tài, mới được cơ quan giữ lại.

Hồ Phiêu Hương nuốt nước bọt, thầm nghĩ:

[ Quả nhiên, biến hóa của trận này dựa theo hướng của hai quan tài âm dương, mỗi lần chúng ta bước theo phương vị tương khắc hay tương sinh đêu sẽ khiến âm dương xoay chuyển, cửa sinh biến thành cửa tử, cửa tử hóa ra cửa sinh. Nếu mình tính không nhầm, thì hiện tại cái quan tài kim trước mặt của Tạng Cẩu cũng là cửa chết. ]

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau