THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 31 - Chương 35

Chương 31: Hồi tám (4)

Đoàn thương binh thấy y quả quyết, tròng mắt ai nấy đều đỏ lên:

“ Nếu tướng quân không chê đám người chúng ta vướng tay cản chân, xin được góp một phần sức lực. Chỉ mong sau khi chúng ta chết rồi, vợ dại con thơ được các vị trên cao đoái hoài đôi chút, để hàng năm bên mồ phảng chút khói hương. ”

Đỗ nói:

“ Đi theo quân ta, là hành quân thần tốc, không được chậm một khắc nào nữa. Ai chịu được, đuổi kịp tốc độ cỉa ba quân thì hẵng theo cùng, nhược bằng không thì nên cút về! ”

Các tàn binh đưa mắt nhìn lẫn nhau, những ai còn khoẻ hay không bị thương ở chân thì gia nhập đoàn quân. Số khác thì đành tiu nghỉu bỏ về.

Càng đi vào sâu trong rừng, cây cỏ càng rậm rạp âm u. Ánh mặt trời tàn lụi gượng thở ra những tia sáng yếu ớt, nhuộm úa tàn lên từng nhành cây phiến kas. Nghe xa xa tiếng thằng vượn nào hú não nề, hệt như có người đang khóc than cho đám tang ai đó. Một vài ả quạ kêu ma đằng xa, thật khiến người ta thấy có sự chẳng lành.

Hồ Đỗ chợt nghe mùi máu trong không trung, bèn cho quân dừng lại quan sát. Chốn họ dừng chân là một gò đất khá cao. Loạt xoạt, bụi rậm vang lên những tiếng khẽ khàng ma mị mà bí ẩn.

Phốc!

Một lão cọp nhảy ra khỏi bụi, đuôi cong lên vì vừa chén được bữa no nê. Miệng hắn hãy còn tha một cánh tay người, máu thấm đỏ cả lớp lông trắng hếu ở bụng. Hổ ta nhác thấy nhóm Hồ Đỗ có đông người, thì đâm ra ngán, bèn “ cà uồm ” một tiếng đe doạ rồi chạy tót vào cánh rừng đằng xa.

Hồ Đỗ nhìn con hổ khuất dần, bất giác nhớ về một truyện ma y nghe hồi nhỏ. Người ta kháo nhau rằng trong rừng sâu có một giống ma trành. Loại này không ám người được, nhưng lại biết dẫn người ta đến những chốn rừng thiêng nước độc cho hùm beo vồ thịt để chết thay chúng nó.

Hồ Đỗ cho quân dừng lại nghỉ ngơi, còn chính mình thì lần theo dấu máu. Y đi được năm chục bước thì gặp ngay một cánh quân Hồ khác, nhưng đã chẳng còn ai thở được nữa. Họ chết không phải bị hổ vồ mà là do trúng tên dính đạn, nên Đỗ đoán những người này xui xẻo gặp phải truy binh của quân Minh mà chết hết chứ không phải bị hổ vồ.

“ Đánh đánh giết giết, cuối cùng bỏ thây nơi rừng hoang gò vắng mà chẳng được gì, chỉ béo loài hổ dữ mà thôi. ”

Hồ Đỗ thở dài, thầm nhủ lát nữa sẽ tìm cách quay lại an táng những người này.

Y đang định lần theo lối cũ mà trở ra, thì bất giác sau lưng vang lên tiếng nói:

“ Vẫn còn một con man hầu An Nam lọt lưới cơ à? Tắc trách… ”

Hồ Đỗ rút việt quay phắt lại, nhìn về hướng phát ra âm thanh. Trên tàng cây cao, một thiếu niên đang ngồi vắt vẻo, ánh mắt gã lạnh và sắc như thanh kiếm đen tuyền hắn nắm trong tay vậy. Hắn đúng là người đã lên tiếng ngăn Mộc Thạnh hạ siêu, cứu Nguyễn Tông Đỗ một mạng. Lưng thanh niên nọ đeo một chiếc loan đái rộng bản, đầu đội mũ không cánh. Bên ngoài bận một bộ giao lĩnh xanh lam, chất vải rất bóng và mượt.

Hai vạt áo thêu một con cá lạ bằng chỉ vàng đang ì oạp lội giữa những vệt nước vẩy ngược. Loài cá này gọi là Phi Ngư, đầu rồng đuôi cá, lại có cả một đôi cánh để bay. Còn các vệt nước kia đại diện cho cảnh lũ cá đang vượt vũ môn, hoàn thành quá trình hoá rồng.

“ Cẩm y vệ? ”

Hồ Đỗ nhận ra phục sức của người thanh niên chính là Phi Ngư phục của Cẩm Y vệ, đôi mắt báo khẽ nheo lại.

Cẩm Y vệ hay xưởng vệ là một lực lượng quân tinh nhuệ của nhà Minh. Lúc đầu Minh Thái Tổ thành lập Cẩm Y vệ với ý định biến đây thành lực lượng cận vệ thân tín của ông đồng thời giúp ông thăm dò, giám sát hoạt động của các quan viên trong triều.

Tới năm 1385 lực lượng Cẩm Y vệ đã lên tới 14.000, họ được mệnh danh là “ Triều đình ưng khuyển ”.

Quyền lực của Cẩm Y vệ rất lớn, có thể toàn quyền tra xét nhà các quan lại, tra tấn tù phạm không cần thông qua thủ tục xét xử thông thường mà chỉ cần nhận lệnh của vua.Việc một Cẩm Y vệ xuất hiện trên chiến trường là chuyện chưa từng xảy ra.

Mặc dù thấy lạ, nhưng Hồ Đỗ có từng biết sợ ai? Hắn phạt mạnh thanh việt, cất cao giọng:“ Thằng ranh con chưa nứt mắt, chưa học bò đã đòi chạy hả? Có giỏi thì xuống đây đánh với ông mày một trận. ”

“ Hầu tử Nam Man đúng là hầu tử Nam Man, không biết sống chết. Thôi vậy, chứng kiến vẻ mặt tuyệt vọng của các ngươi sau khi kiến thức võ học Hoa Hạ bác đại tinh thâm cũng có cái thú của nó. Lão tử bèn mở lượng hải hà để ngươi sống thêm một lúc vậy.”

Cẩm Y vệ trẻ tuổi cười nhạt, vẻ mặt kiêu căng và tự mãn. Cứ như thể dưới vòm trời này hắn là vô địch vậy.

“ Chưa học đui đã học bói gia sư? Ba hoa chích choè! ”

Hồ Đỗ lầm bầm. Dạo gần đây hắn đặc biệt thích cách mấy bác hàng cá chửi nhau bằng ca dao tục ngữ, vừa giàu sức gợi lại vừa đậm chất thơ.

Đỉnh cao của việc thoá mạ là chửi bậy có văn hoá…

Vì nguyên nhân nghiệp vụ, tay Cẩm Y vệ nọ cũng biết lõm bõm mấy câu tiếng Việt. Y nghe loáng thoáng nội dung, lại dựa vào ngữ khí ngữ cảnh là biết Hồ Đỗ đang miệt thị mình.

“ Nhớ kỹ, người giết ngươi tên là Vương Sài Hồ. ”

“ Thôi xin, chết dưới tay Hồ Đỗ này có bao nhiêu người, ai cũng như nhà mi chắc ta chết mệt. ”

Hồ Đỗ cũng không chịu kém, song việt một che trước ngực một để chếch xuống. Hai đối thủ vờn quanh nhau, bốn con mắt chằm chặp ngó chừng đối phương, tiếng hô hấp của hai người càng ngày càng nhỏ. Ánh nhìn của song phương đều bình thản khác nào mặt gương Tây hồ ngày lặng gió. Nhưng mấy ai biết ẩn dưới làn nước thẳm ấy là sóng trào cuồn cuộn chỉ chờ thời cơ là dâng lên, nhấn chìm tất cả.

Giữa song phương tồn tại một sự tĩnh lặng đến ngộp thở. Ấy là cái im lìm đáng sợ trước khi cơn bão ập tới.

Gió khẽ khàng lay động cành cây, đám lá vàng dưới mặt đất nhẹ nhàng nhảy lên đụng vào nhành cỏ, múa một điệu.

Phụ lục: Đông tà - Hoàng Dược Sư
Phân tích chơi thôi…

Hôm nay, tôi sẽ bàn về chữ " tà " ở trong truyện Kim Dung, cụ thể là nhân vật Đông Tà - Hoàng Dược Sư.

Trước hết, nói một chút về bối cảnh của nhân vật. Dược Sư là một trong thiên hạ ngũ tuyệt, tinh thông đủ mọi sự từ kì môn độn giáp tới cầm kì thư hoạ. Võ công đảo Đào Hoa tự thành một phái, ba môn trấn phái Bích Hải Triều Sinh khúc, Đàn Chỉ thần thông, Đào Hoa Lạc Anh chưởng ( Lạc Anh Thần Kiếm chưởng) trên giang hồ không ai không nể sợ. Có thể nói, là một nhân vật toàn diện về tài năng.

Ông có một người vợ là Phùng Hành, người sau này vì chép cuốn Cửu Âm Chân Kinh cho chồng, khiến lúc sinh hạ Hoàng Dung đã không qua khỏi mà kiệt lực qua đời.

Đông Tà có sáu đệ tử: Phùng Mạc Phong, Khúc Linh Phong, Mai Siêu Phong, Trần Huyền Phong, Lục Thừa Phong, Vũ Thiên Phong. Trong đó, hai người Trần Mai đã trộm quyển hạ Cửu Âm Chân Kinh của sư phụ, trốn khỏi đảo rồi lén tu luyện. Giang hồ gọi là hắc phong song sát.

Lần đầu tiên tôi tiếp xúc với bộ anh hùng xạ điêu, nhân vật khiến tôi bị cuốn hút nhất là Lão Ngoan Đồng. Đọc nhiều thêm, thì vị trí số một ấy chuyển qua Hoàng Dược Sư. Cuối cùng gần đây mới là Quách Tĩnh. Nhưng xin phép được bàn về anh trong một lần khác.

Giờ, tôi sẽ so sánh một chút cái " tà " của các truyện do các tác giả trẻ măng hơn Kim lão và " tà " của Kim Dung.

Tác giả trẻ có cách hiểu về tà là tà dị, tà ác. Những nhân vật gắn với chữ tà này thường cổ cổ quái quái, thích gì thì làm nấy. Đôi lúc, là cả những hành vi cực kì đáng lên án ( VD như lạm sát, cưỡng hiếp…v.v…).

Còn Kim Dung? Đôi lúc, tôi đoán người ta hiểu sai về Đông Tà là do chỉ xem phim mà không đọc truyện, hoặc chi tiết đắt nhất này lại bị làm qua loa nên ít người chú ý.

Trước vụ biến lớn ở Miếu Thiết Thương ngày 15 tháng tám, Kha Trấn Ác, Quách Tĩnh Hoàng Dung, Toàn Chân Lục Tử, Bắc Cái Đông Tà Tây Độc tụ hội cùng một chỗ. Khi ấy, có ba câu thoại đã làm nên cái thần của Hoàng Dược Sư.

_ Đã là người xấu thì sao lại làm chuyện tốt được? Mọi sự xấu xa trên đời đều do cha ngươi làm đấy. Ta cứ gặp đám người tự nhận là anh hào hiệp nghĩa như bọn lục quái là lại nổi giận. ( nói với Hoàng Dung)

_ Bình sinh Hoàng mỗ bội phục nhất trung thần hiếu tử. ( nói với Âu Dương Phong)

_ Trung, hiếu là khí tiết vốn có, không phải lễ pháp. ( đáp trả Tây Độc, nổi giận)

Ba câu, đã nói rõ cái tà của Đông Tà. Một cái tà vừa hay, vừa đầy đủ, vừa chính nghĩa lại vừa quái lạ.

Câu đầu tiên, ta thấy Hoàng Dược Sư không phải nguỵ quân tử mở mồm là lấy đạo nghĩa ra làm khiên chắn cho mình như Nhạc Bất Quần. Còn hai câu sau, thì Đông Tà khẳng định mình chẳng phải kẻ tiểu nhân chuyện ác nào cũng làm. Ông nổi giận với Tây Độc, từ đó ta nhận ra Đông Tà Tây Độc không đứng chung thuyền như người đọc vẫn tưởng.

Lại nói tiếp về tính cách của Dược Sư để nổi bật cái tà của ông.

_ Hoàng Dược Sư rất kiêu ngạo. Ông có Cửu Âm trong tay, nhưng không thèm luyện thứ đã hại chết vợ mình mà nhốt mình trên đảo, thề phải sáng tạo ra một thứ võ học siêu việt Cửu Âm mới rời Đào Hoa.

_ Đông Tà tàn nhẫn, nhưng cũng rộng tình thương. Trong cơn nóng giận vì bị chính hai đệ tử mình hết lòng giáo dưỡng phản bội, ông đã đánh gãy chân hết các đệ tử khác rồi trục xuất khỏi đảo. Chà… ác nhỉ? Nhưng tại sao không ai lấy làm hận ông, trái lại còn muốn tìm đủ cách chuộc lỗi với thầy để được nhận lại? Chẳng phải do cách đối đãi của Đông Tà với họ trong lúc trên đảo sao? Về sau, Đông Tà đã có phần hối hận. Ông nhận lại các đệ tử và con cháu ở Lục gia trang, cho Mai Siêu Phong tìm tung tích các đệ tử còn lại, thu nhận Khúc Cô. Mai Siêu Phong liều mạng đỡ đòn đánh lén của Tây Độc cho ông, đến cả lúc sắp chết, vẫn mong được ông tha tội kia mà. Con gái bỏ đi, ông chả nhớ đến lời thề nữa, rời đảo bôn ba đi tìm. Chẳng qua lão ta quá ngạo, nên không muốn nhận sai.

_ Tà lại kì quặc. Người ta đổ oan cho ông, ông chẳng thèm nhiều lời mà nhận luôn về mình. Thậm chí còn để Toàn Chân thất tử ( nay còn sáu người) và một đệ tử khác ( hình như là Doãn Chí Bình) liên hợp thành trận Thất Tinh Bắc Đẩu vây đánh. Kha Trấn Ác, Quách Tĩnh sau cũng gia nhập vòng chiến. Song, dù bị người ta tìm giết, ông cũng không động sát thủ. Ấy là bởi hai bên thực chất không có thù sâu oán nặng với nhau. Lại nói, nếu hôm ấy Tà nổi nóng lên giết người, thì mối oán thù này lão phải nhận thay kẻ thủ mưu rồi. Cổ quái đấy, nhưng ai nghĩ Đông Tà ngu ngốc để bị lợi dụng thì thật lầm.

Tà mà không ác, cái tà của Đông Tà nó là cái tà đấy đấy. Tà, nhưng không quên trung hiếu. Tà, nhưng vẫn còn những quan niệm đạo đức cố hữu trong tim. Thứ duy nhất Đông Tà chẳng màng, ấy là lễ giáo rườm rà cổ hủ phong kiến mà thôi.

Ps: hôm nay tác giả mạo muội nói ngoài lề hơi nhiều. Kính mong bạn đọc thông cảm và tiếp tục ủng hộ

Chương 32: Thuận Thiên Kiếm tiền truyện - Hồi một (2)

Phạm Lục Bình khẽ giật mình trước lời đề nghị bất ngờ của Trần Khát Chân. Hiện giờ, Lê Quý Li quyền thế ngập trời, thế lực vây cánh dần đủ mạnh. Thế cục trong triều bắt đầu phân hoá thành hai thái cực, một bên là Trần Phế Đế Trần Hiện, đối trọng là Đồng Bình chương sự Lê Quý Li.

“ Lục Bình xin cảm ơn đức của tướng quân, nhưng ta chỉ là một tiểu tốt thấp cổ bé họng tầm thường, trong triều chẳng có chút ảnh hưởng nào. Có Lục Bình hay không, đối với thái thượng hoàng và Lê đại nhân mà nói không quá quan trọng. Lục Bình xin cảm ân tướng quân đã ưu ái, song việc này là đại sự liên can hệ trọng, không dám tuỳ tiện nhận quàng nhận xiên. ”

Phạm Lục Bình tuy chỉ là một tiểu binh trong quân ngũ, song cũng nhận thức được giá trị của bản thân không nằm ngoài mấy chữ “ hậu duệ danh tướng Phạm Ngũ Lão ”.

Nhận một chức tiểu binh tầm thường là do y muốn dựa vào chính sức lực tài năng mình tìm kiếm công doanh, quyết không sống dưới cái bóng của tổ tiên.

Trần Khát Chân khoát tay, nói:

“ Không vội, không vội… Lục Bình cứ từ từ suy ngẫm. Chỉ xin nhắc một câu là nợ Tang Bồng còn vay chưa trả, xin đừng làm phụ ơn Thái Sơn, lòng Đông Hải của gia phụ. ”

Phạm Lục Bình nói lời từ tạ, tiễn Trần Khát Chân ra tới tận cổng mới trở vào. Vừa đi, y vừa nghĩ, thân làm nam nhi chẳng lẽ cứ mãi an phận với cái chức tiểu binh quèn quèn này hay sao? Như thế liệu có xứng đáng với thần kiếm Thư Hùng hay không? Thất thần, khiến Lục Bình vấp ngay vào bậc thềm, đầu đụng vào cánh cửa đánh cộp một tiếng.

Phạm phu nhân đã ngồi chờ sẵn trên phản, vừa têm trầu vừa thưởng một ấm trà. Thấy Lục Bình, bà bèn cất tiếng:

“ Trần tướng quân nói sao? ”

“ Ông ấy muốn con tham gia cùng chống đối, lật đổ Lê Quý Li. ”

Phạm phu nhân chậm rãi:

“ Thái thượng hoàng Nghệ Tông rất tin họ Lê, còn từng trao cho y thanh kiếm và lá cờ ghi “ văn võ toàn tài, quân thần đồng đức ”. Thế nên có thể kẻ muốn giết Quý Li ắt không phải thái thượng hoàng. ”

Phạm Lục Bình cau mày, hỏi:

“ Thế thì để con từ chối Trần tướng quân. ”

“ Chớ có hành động lỗ mãng. Mẹ nói là có thể, chứ không phải là chắc chắn. Không loại trừ khả năng chuyện lá cờ thanh kiếm chỉ là kế đấu dịu, hoà hoãn thời gian của Nghệ Tông. Mà kể cả không phải, thì con cũng không thể ngay mặt từ chối Trần tướng quân, bằng không có thể sẽ bị trừ khử. ”

Phạm phu nhân chậm rãi cất lời, vừa nói vừa châm chè vào chén. Phạm Lục Bình ngồi yên chờ đợi, nhưng mãi mà phu nhân chẳng lên tiếng một lần nào nữa.

“ Mẹ, hôm nay đột nhiên người nói nhiều chuyện đại sự như thế là có ý gì? ”

Phạm phu nhân đặt chén nước chè xuống phản, đáp:

“ Mẹ là người đàn bà số khổ, goá bụa từ sớm. Còn con thì không có đôi vai bảo vệ của người cha. Lục Bình, trước khi khuất núi cha con có để lại một bức thư. Kể từ đó đến giờ đã gần chục năm trôi qua, mẹ chưa hề mở ra đọc dù là một chữ. Nay giao lại cho con. Quyết định ra sao là quyền của con. Thôi, hai anh đang đợi dưới bếp, xuống tiếp chúng nó đi. ”

Lục Bình nâng phong thư cất vào áo, vái chào mẹ rồi mới lui ra sau bếp. Hiện giờ Hồ Xạ Hồ Đỗ đã chuẩn bị xong mồi nhắm. Đĩa lạc rang với khoanh bánh chưng trong bếp là đủ để ba người chén tạc chén thù một chặp, ít nhất là uống thấy đáy hai vò rượu Tết còn thừa.

Hồ Đỗ thấy tâm tình của thằng em kết nghĩa sa sút hẳn so với hồi sáng, bèn vỗ ngực, oang oang:

“ Nào nào, hôm nay đang ngày vui thắng trận phải uống một chầu cho đã chứ! Mặt xưng mày xỉa, anh chấp chú mày với tên hay nói chữ một phe, chúng ta trước dùng tửu lượng so tài, sau luận võ mấy trăm hiệp! ”

Hồ Xạ thấy Lục Bình không nói chẳng rằng, còn tưởng y lo lắng về cuộc đấu tối hôm ấy. Xạ bèn trước là lấy rượu rót đầy ba chén hạt mít, sau lại lên tiếng tiếp lời:

“ Hồ Đồ ơi là Hồ Đồ, chuẩn bị sẵn tinh thần để mà đứng đi vào nằm đi ra là vừa. Lục Bình, hai chúng ta lên xử hắn! ”

Phạm Lục Bình cười khổ, đón chén rượu:

“ Tối nay còn cái hẹn giao đấu, hai anh đừng có quá chén. Nếu không lương bổng ba tên lính quèn chúng ta đi tong hết. Cả cân bạc trắng đấy, không đùa được đâu. ”

Hai gã anh trai gật gù bảo cứ yên chí, đoạn cả ba dốc cạn chén. Người xưa dạy “ nhất tuý giải thiên sầu thật chẳng sai ”. Nhờ có men rượu nồng, bao nhiêu phiền muộn trong lòng Phạm Lục Bình bị cuốn phăng đi gần hết.

Uống non nửa bữa rượu, hai người Đỗ Xạ thì không làm sao chứ Lục Bình đã ngà ngà say. Y nấc lên một cái, nói:

“ Bọn người hồi trưa là đệ tử sơn trang Bách Điểu tận trấn Thái Nguyên. Bảo vật trấn trang của chúng là loại ám khí tên Khổng Tước Linh, nên đệ tử sơn trang ném ám khí cũng rất có nghề. Tối nay hai bên giao đấu, phải hết sức đề phòng.

Thứ móng vuốt chúng dùng hồi trưa gọi là Kê trảo, ấy là đặc sản của phái ấy đấy. Sơn trang Bách Điểu lại có một món quyền pháp để phối hợp với binh khí độc môn là võ gà. ”

Hồ Đỗ cười khẩy, nói:

“ Chú cứ khéo lo, phượng hoàng anh còn vặt lông nữa là bốn con gà nhép. ”

Hồ Xạ trông cái mặt phơn phởn đáng ghét khi ba hoa chích choè của y bèn thụi luôn cho một cú vào lưng. Gặp lúc Hồ Đỗ mới nốc một hớp, ngụm rượu chưa kịp nuốt xuống họng đã bị đấm cho phun tung toé.
“ Hồ Đồ, tỉnh ngủ chưa? Nói mày bao nhiêu lần cái tội ngạo mạn mà không chịu chừa. Lục Bình là hậu duệ của danh tướng, lại chịu khó học hành từ bé, kiến thức ắt vượt xa anh em mình. Nó đã nhắc chứng tỏ đối thủ chẳng dễ xơi đâu. Đã nghe câu mắc xương gà, sa cành khế chưa? ”

Hồ Đỗ gãi gãi gáy, rồi ngồi im ru gà rù chờ nghe Lục Bình nói tiếp.

“ Hai anh chớ thấy võ dựa trên hình dáng loài gà mà coi thường. Trong ngũ hình quyền nước Nam hiện tại phía đông là chó, tây là gà, nam là ngựa, bắc là trâu còn chính giữa là lợn. Võ gà đã được truyền thừa từ đời nhà Lí đến giờ. Nó mạnh ở chỗ nhanh nhẹn, uyển chuyển, biến hoá khôn lường, lấy yếu thắng mạnh. Xét ra thì quyền chiêu ảo diệu, quyền lí cao thâm chẳng thua kém gì võ hạc của Thiếu Lâm tự nước người ta đâu.

Hơn nữa còn có phép hợp kích Vạ Vịt Chưa Qua Vạ Gà Đã Tới. Bốn đến tám người tổ hợp thành một trận, công kích đan xen nhau liên miên không ngừng, thực sự khó mà công phá nổi. Bốn tên nọ dù tự cao tự đại, nhưng có thể được trang chủ sơn trang Bách Điểu tin cậy phái đến Thăng Long làm việc thì tất phải có chân tài thực học. Thắng thua thì chưa nói trước được, nhưng một trận khổ chiến thì e là điều chắc chắn. ”

Hồ Xạ, Hồ Đỗ nghe Lục Bình thuật lại điểm mạnh của đối thủ mới thu lại ý coi thường, trong lòng cũng có sự đề phòng. Quả thực, biết địch biết ta mới trăm trận trăm thắng.

“ Lục Bình đã biết kha khá về địch, mà địch lại chẳng biết gì về võ công của ba anh em. Phen này lợi thế bất ngờ đã nghiêng về phe ta rồi. Cơm no, rượu say rồi. Anh em ta hãy xách khí giới lên tìm một chỗ luyện tập trước mấy đường. Một là giải rượu, hai để chuẩn bị cho trận chiến đêm nay. ”

“ Được! Đêm nay phải đánh cho cái đám nhãi này biết sự đáng sợ của quân nhân bọn ta. ”

Hồ Đỗ lập tức vỗ vỏ đao đánh chát một cái.

Phạm Lục Bình thì nói:

“ Những gì em biết chỉ có một phần là đọc được trong cổ thư ở nhà, còn lại đều là chuyện giang hồ đồn đại mà thôi. Về phần chiêu số cụ thể của võ gà ra sao thì đành chịu chết. ”

“ Lo gì? Lũ tới thì núi dâng. ”

Ba người cạn nốt chén cuối cùng, đẫy diều đầy dạ rồi mới kéo nhau đến khoảng rừng cây cách làng An Thái – hay làng Giấy – độ nửa dặm.

Ngày xuân, lộc non hứng mưa phùn xanh ngát, kéo ra xa mãi đến ngút tầm mắt. Đất mủn ra tơi và xốp, bám hết cả lên giày đám người Đỗ, Xạ.

Phạm Lục Bình bước lên chừng mười bước, đối diện với hai anh. Y đặt cái hòm gỗ đang khoác xuống, mở nắp lấy thanh Sóc. Kì kiếm hai lưỡi nằm im lìm, một đầu trắng một đầu đen.

“ Hai người cùng lên đi. ”

Hồ Đỗ tuốt đại đao thủ thế, Xạ thì rút luôn mấy mũi tên ra. Song phương không hẹn mà cùng vận công đề khí, nhìn nhau chằm chằm. Chẳng bên nào dám lỗ mãng xuất chiêu trước. Không ai muốn để lộ nhược điểm của bản thân cho đối phương lợi dụng.

Hồ Xạ, Hồ Đỗ bắt đầu nhón những bước ngắn. Một người qua trái, kẻ kia qua phải. Vũ khí không lúc nào rời tay, tầm mắt chưa bao giờ bỏ qua Phạm Lục Bình. Kiếm khách vẫn đứng yên, thanh kiếm hai đầu đen trắng lặng lẽ hứng ánh nắng cuối ngày.

Đỗ xồ tới trước, hoành đao qua nhắm ngay cổ Lục Bình mà chém. Các bắp tay bắp chân hắn căng cứng hết lên, cú phạt đao mạnh như gió táp mưa sa. Như chỉ chờ có vậy, Lục Bình dựng thẳng Thư Hùng kiếm lên, đưa sang ngang. Lưỡi kiếm uốn lượn trắng tinh đặt đúng trên đường di chuyển của tay Hồ Đỗ. Lúc này nếu Hồ Đỗ cứ mặc sức chém, thì cổ tay hắn ắt phải bị phạt đứt trước.

Hồ Xạ bất thình lình trầm hông, mũi chân chếch chéo sang tạo thế. Nói đoạn, y vận lực vung tay phóng tiễn, kình lực dào dạt đưa mũi tên văng qua chỗ Phạm Lục Bình đang đứng. Nay nếu y đưa kiếm qua gạt mũi tên, thì cần cổ lại để tơ hơ ra cho đao của Đỗ chém vào.

Song bằng sự quen thuộc với lối đánh của người anh kết nghĩa, Lục Bình đã đoán biết trước được mũi tên sẽ bắn tới vào lúc nào và theo hướng nào. Y đặt tay còn lại lên chuôi kiếm, vặn một chốt mở giấu ở đoạn nối giữa phần bảo hộ với tay cầm.Thì ra Thư Hùng kiếm vốn là hai thanh riêng rẽ Thư Kiếm và Hùng Kiếm. Chuôi của Thư Kiếm là một thanh đồng đen được đúc rỗng ruột, dùng để tra tay cầm của Hùng Kiếm vào. Ở ngay bên dưới phần bảo hộ tay có một chốt giữ chặt chuôi thanh Hùng Kiếm lại.

Phạm Lục Bình vặn eo một góc chín mươi độ, vẩy Hùng Kiếm ra dùng chiêu Phản Công Hàm Tử trong chiêu trong thứ kiếm pháp tổ truyền Đảo Nam Nghịch Bắc của mình. Mũi tên của Hồ Xạ bị bắn ngược về phía sau.

Hồ Đỗ thì đã biến chiêu, đao bén lướt đi theo hình thất tinh bắc đẩu. Đáng lẽ là một đao trảm ngang cổ, thì giờ hoá thành một nhát chém thẳng thắt lưng.

Lục Bình hoành ngược thanh kiếm cản đòn. Hoa lửa bắn tung toé khi hai thanh vũ khí mài vào nhau, tiếng thép rít gào nghe ken két. Hồ Xạ cũng nhảy vào vòng chiến, tay y nắm hai mũi tên hệt như một cặp Nga Mi Thích. Vũ tiễn một đầu bén nhọn đầu kia lại cứng tròn, dùng để đâm chọc hay đả huyệt đều được.

Ba người càng đánh càng hăng, chốc lát đã giao thủ mấy chục chiêu. Lục Bình tuy phải lấy một chống hai, nhưng nhờ có kiếm pháp tổ truyền và kì kiếm nên không hề rơi xuống hạ phong.

Thư Kiếm thì nhanh chóng sắc nhọn, vạch ngang phạt dọc liên hồi. Bóng kiếm cứ xẹt qua xẹt lại như một con rắn vậy. Hùng Kiếm tuy vuông vức, nhưng lại nặng nề, lúc đập ngược bổ xuôi thì mạnh mẽ không tưởng. Lại phối hợp cả kiếm pháp Đảo Nam Nghịch Bắc chuyên môn đảo hướng, đẩy ngược công kích của đối thủ. Thành ra, Hồ Đỗ Hồ Xạ càng đánh càng lâm vào thế bí, không biết phải giải quyết Lục Bình ra làm sao.

Ba người vừa đánh vừa cười vang, mồ hôi tứa đầm đìa, chẳng mấy mà trời dần sụp tối.

Nhận thấy cũng chỉ còn một canh nữa là tới giờ hẹn, Lục Bình bèn ra hiệu để hai anh thu tay ngừng chiến.

Hồ Đỗ ngồi phệt xuống đất, đao cắm ngay cạnh bắp chân mình. Hồ Xạ thì đi nhặt lại mấy mũi tên bị Hùng kiếm đẩy ngược qua hướng khác, còn Lục Bình thì ghép hai thanh kiếm trắng – đen trở lại thành Thư Hùng kiếm, cất vào hạp gỗ cẩn thận rồi mới dâng trà mời hai anh. Có chè xanh, lát giao chiến mới tỉnh táo.

“ Tiên sư, còn ngứa tay quá. Lát phải đánh một chầu thật là đã đời mới được. ”

“ Thằng ngố, có ai uống nước chè mà hùng hục như trâu giống mày không? Chè này là chè ướp theo cách của Phạm lão tướng quân, không phải ai muốn uống là uống được đâu! Đàn gảy tai trâu, đoá hoa nhài cắm bãi phân trâu! ”

Hồ Xạ cầm cái chén nện lên trán Đỗ một cái. Đúng lúc y đánh nhau còn chưa đã ghiền, thế là thụi trả luôn cho Xạ một đấm.

Hai người bắt đầu đánh nhau chí choé, nhác trông còn dữ dội hơn hồi nãy nữa. Cực chẳng đã, Lục Bình mới phải chạy qua can:

“ Thôi! Thôi! Cho em xin! Tức nhau chuyện gì thì lát nữa dồn vào đối thủ ấy. ”

Ba người uống chè nghỉ ngơi thêm một lúc nữa, đang chuẩn bị đi đến chỗ hẹn thì bất ngờ, từ trong rừng chợt vẳng ra một tiếng động.

Tinh!

Thình lình, trong một khoảnh khắc âm thanh ấy vang lên, mọi tiếng động khác trong thế giới dù là nhỏ nhất như đều lắng xuống. Lá cuộn trên cành không nỡ rơi, cỏ co lại chẳng dám cựa mình, gió cũng lặng xuống. Cả thiên nhiên như e thẹn trước âm thanh kì diệu ấy, sợ rằng mình sẽ pha tạp nó.

Một khúc đàn ai gảy vang lên trong đêm thanh vắng. Ánh trăng phủ xuống quyện lấy thứ âm thanh réo rắt và thiết tha ấy. Tiếng đàn như vuốt thẳng lá trên cây, đón nhánh cỏ vươn ra không khí, rước cơn gió đêm về để cùng khiêu vũ… Trong rừng, chim thú hé mắt cả, song chúng không dám ngóc đầu lên, sợ làm đứt đoạn bản đàn. Chỉ có đôi tai là vểnh lên, nghe ngóng.

Ba người thanh niên cũng đắm mình tiếng đàn, cùng ngơ ngẩn đứng đực ra đó. Thời gian quanh họ như cũng bị làn âm kéo dãn ra, dãn ra mãi, đến khi chính bản thân thời gian cũng quên đi sự hiện diện của chính mình.

“ Ai gảy đàn bầu giờ này vậy nhỉ? ”

Phạm Lục Bình tự hỏi. Chưa bao giờ, y muốn tìm được đáp án cho một câu hỏi đến như thế. Tiếng đàn khi trước vốn thanh thót như thể tiếng thầm thì của thần tiên, nay bỗng chuyển mình, hoá thành thiết tha da diết như mối tình hai kiếp của chàng thầy đồ trong tích cổ Duyên Nợ Tái Sinh.

Cả ba người như bị ảnh hưởng theo tiếng đàn, cùng cảm thấy chuếnh choáng như say men tình. Trong tâm khảm họ hiện lên hình ảnh sự rung động đầu tiên của cuộc đời. Đó là bóng hình của nàng hàng xóm nết na nhà bên với khay trầu, của cô đầu ngồi đầu xóm với giọng ca mượt như tơ…

Phạm Lục Bình bất giác cất tiếng, ngâm liền hai câu thơ trong truyện cổ:

“ Kiếp này duyên đã lỡ duyên

Quyết xin giữ trọn lời nguyền kiếp sau. ”

Hồ Xạ cũng đọc một cặp thơ ngũ ngôn chữ Hán, nội dung tương tự hai câu Lục Bình mới ngâm:

“ Thử sinh duyên vị liễu

Nguyện kết hậu sinh duyên. ”

Chỉ có Hồ Đỗ là ù ù cạc cạc, xúc động mà không biết thể hiện ra sao, chỉ đành rút đao khắc tên người mình thích lên một thân cây gần đó.

( Đền bù cho những ai không phải fan Kim Dung và Đông Tà như tác)

Chương 33: Hồi tám (5)

Hồ Đỗ sấn tới trước một bước, chiếm ngay lấy thế chủ động. Lưỡi việt trong tay y chém xéo xuống, muốn từ đôi vai lách thẳng vào khe cổ của Vương Sài Hồ mà xả y làm hai khúc.

Họ Vương kia cũng chẳng phải tay vừa. Y vừa nghiêng người tránh qua, vừa vẩy kiếm lên chém vào cánh tay Hồ Đỗ. Vũ khí của y là một thanh nhuyễn kiếm, khi vung lên lưỡi kiếm rung rinh chẳng khác nào cái lưỡi mềm mại của loài độc xà.

Y nhủ bụng:

[ An Nam quả nhiên là đất man di mọi rợ, chiêu số giản đơn tới nực cười. Võ tướng mà chỉ biết dùng sức trâu, ở thiên triều ta chỉ đáng làm bách hộ. ]

Chắc mẩm Hồ Đỗ sẽ phải rút tay về, Vương Sài Hồ mạnh dạn sấn bước về phía địch thủ. Việt là vũ khí trên lưng ngựa, tầm sát thương xa hơn nhuyễn kiếm khá nhiều. Họ Vương biết vậy nên mới tranh thủ tiếp cận Hồ Đỗ, muốn xoá mờ đi bất lợi này.

Nào ngờ Hồ Đỗ chỉ thoáng trầm vai xuống, để cánh tay y lệch ra một chút tránh khỏi bị chặt phát đứt lìa. Da và thịt ở cánh tay y bị cứa đứt, máu tươi bắt đầu ứa ra. Da mặt Hồ Đỗ đỏ bừng lên, y không đợi Vương hồi thần, lên gối ngay một phát vào bụng đối thủ.

Vương Sài Hồ giật mình, nhưng đang đà tiến tới sau lui lại được? Lúc này y chẳng khác gì đưa bụng mình ra cho đầu gối của Đỗ thúc cả, sắc mặt thoáng trở nên âm hiểm.

Y vận khí xuống bụng, chờ sẵn. Trong Phi Ngư Phục của y có giấu một tấm áo kim ti dệt lẫn với lông vượn núi, cực kì bền dẻo. Bảo y này xưng đao thương khó nhập, thậm chí còn có thể cản lưỡi dao găm không cho nó lút sâu vào cơ thể.

Đùng!

Lý Thân thần công của Đỗ mặc dù đã không bằng nguyên bản, khiến đầu gối của hắn có được sức mạnh tới tám trăm cân ta, tức là gấp bốn lần lúc giao thủ với Mộc Thạnh.

Vương Sài Hồ thấy bụng mình rúng động dữ dội, mặc dù có cách một lớp áo kim ti bảo vệ rồi nhưng nội tạng vẫn rung chuyển như muốn bị chấn lực xoắn nát. Y phun mạnh một ngụm máu, đôi chân cày hai đường sâu hoắm vào mặt đất.

“ Khốn… nạn… ”

Trong cung cấm, y vốn là hảo thủ chẳng thua gì Mộc Thạnh. Nào ngờ mới xuống phía nam chưa được bao lâu đã bị tên người “ bần di chi địa ” một gối thổ huyết.

Y ngửa cổ gầm nhẹ lên, máu nhuộm đỏ hai hàm răng.

“ Tìm chết! Thực là tìm chết! Ta muốn khiến cả nhà mi sống không được chết không… ”

Đùng!!

Lời còn chưa nói dứt, việt của Hồ Đỗ đã hùng hổ lao thẳng xuống. Với bốn tàng Lý Thân thần công, Hồ Đỗ kéo gần khoảng cách gần mười mét giữa hai người chỉ bằng một cú nhảy.

Lưỡi việt được mài sáng choang còn cách chán đến một mét mà Vương Sài Hồ đã cảm giác được kình phong phả tới rát mặt. Y đã giác ngộ một chân lí: bằng chút nội công thô thiển của mình thì chọi cứng với Hồ Đỗ chỉ có đường chết, đành vội vàng lăn tròn tránh qua.

Cốp!!Hồ Đỗ chẳng thèm nói một lời, chỉ đưa ngang lưỡi việt còn lại, tống thẳng cán sắt vào thái dương Vương Sài Hồ.

Y chẳng còn cách nào, bèn hất kiếm một nhát thẳng tắp từ dưới lên. Lưỡi nhuyễn kiếm mềm mại dẻo dai, mượn đà văng bèn uốn thành một vầng trăng khuyết. Kiếm nhận nhắm vào yết hầu của Đỗ, một chiêu “ Vây Nguỵ cứu Triệu ” được Sài Hồ tung ra khá bài bản và đúng lúc. Nói một cách đơn giản thì đây là đòn vận dụng đạo lí lấy công làm thủ.

Hồ Đỗ đành phải xoay thanh chiến phủ còn lại nửa vòng tròn, gạt phăng thanh nhuyễn kiếm đi. Nào ngờ đây đúng là điều Vương muốn. Y thuận đà văng của nhuyễn kiếm, nhẹ nhàng xoay chuyển một vòng, kiếm nhận tiếp tục nhằm vào cổ Hồ Đỗ mà móc.

Đây là chiêu kiếm Tụ Lí Càn Khôn, lấy cái ý kiếm mượn sự che giấu của tay áo rộng dài đặc trưng của người Trung Quốc, đánh ra bất ngờ như thể trong tay áo có một mảnh trời đất vậy.

Hồ Đỗ cũng chẳng vừa, một mặt nghiêng người đi né mũi kiếm, mặt khác lại vung rìu phản kích.

Vương Sài Hồ rung tay, mũi kiếm rung rinh đảo hướng chếch nghiêng xuống, phạt vào chân Hồ Đỗ một nhát. Y lại lăn tròn dưới đất, nhát chém của Đỗ xẹt qua đầu y, nhẹ nhàng hớt đứt nửa cái mũ. Tóc Sài Hồ xoã tung, lưng bám đầy lá vàng và bụi bẩn. Hiện tại y vừa thấy nhục, lại thấy sợ.

[ Đám An Nam là dân bần di man rợ, sao lại có chiến thần dũng mãnh bực này? ]

Hồ Đỗ lại tự nhủ:

[ Tên này hùng hùng hổ hổ, sao lại yếu như thế? ]

Nay thương cũ của Hồ Đỗ đã khỏi hẳn, hắn cũng đã quen với sức mạnh tăng vọt vì Lý Thân thần công, nên lực chiến đấu đã hơn xa trận chiến với Phạm Hách.

Cái đáng sợ của pho thần công dị bản này là càng bị thương, lực chiến đấu càng mạnh.Hồ Đỗ hú lên một tiếng, tiếng hú của hắn nay vang dội có khác chi tiếng thuồng luồng kêu rên, chằn tinh gào thét? Cây rừng xào xạc hoà âm, chim thú kinh động đua nhau tẩu tán. Ai mẫn cảm sẽ thấy mặt đất dưới chân hơi rung theo tiếng chân thú rần rần chạy.

Vương Sài Hồ ở gần nhất, bị tiếng hú của Đỗ đánh cho tai ong đầu choáng. Y chẳng kịp bịt tai lại, vội vàng vung kiếm định đứng lên nhưng người loạng choạng đổ nhào ngay.

Hồ Đỗ nghiêm mặt bước tới, vụt mạnh chiếc việt xuống, định chém bay đầu Vương Sài Hồ. Y không có thói quen giễu cợt hay chà đạp đối thủ sau khi chiến thắng. Đấy là hành vi của một đứa trẻ. Không nhiều lời, một nhát dứt điểm. Ấy là phong cách của Hồ Đỗ.

Y có phần táo tợn nóng nảy, có hơi ngốc nghếch, nhưng không nhỏ mọn tự ti đến nỗi phải chà đạp lên lòng tự trọng và tôn nghiêm của kẻ khác để tìm cảm giác tồn tại.

Bất thình lình, từ đâu xé gió bắn tới một mũi tên. Tốc độ tên bay nhanh như cắt, ánh thép nơi đầu mũi tên phản chiếu nắng mai hắt lên nhọn hoắt.

Mũi tên đâm thủng vai Hồ Đỗ, máu tươi tí tách chảy xuống. Bị trúng tên bất ngờ khiến thanh việt trong tay Đỗ rơi nhẹ xuống đất.

Tên găm vào vai, đau thấu tâm can. Sau lưng nhất thời lại vang lên tiếng lợi khí xé gió, phong áp bức tới càng lúc càng nhanh. Hai tay đều trúng đòn, biết không kịp chém Vương Sài Hồ, Hồ Đỗ lật đật nghiêng mình né qua.

Phập!

Lưỡi siêu dài bửa thẳng xuống nơi hắn vừa đứng, kình lực khiến lá vàng lẫn bụi đất tản ra hai phía.

Hồ Đỗ định thần lại, nhìn chòng chọc vào kẻ vừa đánh lén mình. Tuổi chừng ngũ tuần, mắt báo tròn xoe sáng quắc, râu hùm vểnh ngược hoa râm. Không phải Mộc Thạnh thì còn ai vào đây nữa? Tay lão xách ngược siêu sắt, ánh mắt không lúc nào không kiêng dè nhìn Hồ Đỗ.

Vương Sài Hồ là Cẩm Y vệ mà Minh thành tổ đặc biệt phái xuống phương nam, căn dặn kĩ càng phải đoạt cho được một vật. Lại nói tên này võ nghệ siêu quần, chiến lực thực tế không thua gì lão ta. Dù còn có chút ngựa non háu đá, nhưng thanh niên huyết khí phương cương ai mà chẳng vậy??

Thế mà…

Ba chiêu! Một cú lên gối, một nhát chém, một tiếng gầm…Vương Sài Hồ bất lực nằm chờ chết. Mới qua chẳng bao lâu, mà lực chiến đấu của Đỗ đã tăng vọt, nhìn mà tưởng như hai người khác nhau.

“ Á à! Ra là mày. Tốt! Đỡ phải tìm kiếm chi mất công. Chết này! ”

Hồ Đỗ hào hứng gào lên, hai tay xốc cả hai thanh việt trở lại tư thế thuận tay nhất. Hít sâu một hơi, y khẽ nhún chân lấy đà. Qua lần vải, có thể thấy bắp thịt y nổi vồng lên cuồn cuộn, chắc nịch như gỗ gụ.

Mộc Thạnh thấy động, giơ ngang lưỡi siêu nghiêm mặt chờ sẵn. Đôi mắt lão quắc lên, hai tay siết chặt lấy lưỡi siêu chờ đợi. Vương Sài Hồ nghe tiếng chửi của Hồ Đỗ nay mới sực tỉnh, lồm cồm bò dậy, ba chân bốn cẳng chạy mất. Trông dáng hắn vừa trốn vừa ngã lên ngã xuống thực là nực cười.

Hồ Đỗ chẳng thèm đuổi, ánh nhìn khoá cứng lấy Mộc Thạnh. Trong lúc này lão ta là mục tiêu duy nhất của hắn, hắn phải trả mối nhục lần trước.

Chương 34: Hồi tám (6)

Đùng!

Dậm chân, Hồ Đỗ lao vọt đi như một viên đạn đại bác. Từng thớ cơ của hắn uyển chuyển, dẻo dai phối hợp với nhau vận động, nhịp nhàng chẳng khác nào loài báo săn.

Mộc Thạnh thấy tốc độ đối thủ đột nhiên nhanh phải gấp đôi lần đánh nhau trước, thì giật mình lắm. Thời gian mới bao lâu, lão không ngờ Đỗ lại mạnh lên nhiều đến như thế chỉ trong chưa đầy một tháng ngắn ngủi. Thạnh hãy còn chưa kịp định thần thì việt của Đỗ đã bắt đầu rơi xuống, kình phong phạt thẳng vào vai vào mặt.

Nhưng Mộc Thạnh chinh chiến lâu năm, tất nhiên cũng là địch thủ hạng xương xẩu khó gặm. Lão đã sớm dùng đôi tai mình nghe tiếng gió, dựa vào đó mà bước liền ba bước sang phải.

Uỳnh!

Lưỡi việt của Hồ Đỗ không tìm được mục tiêu, chém mạnh xuống đất. Ầm một tiếng rõ to, nền rừng hiện lên một cái rãnh toang hoác, sâu chừng hai ngón tay. Mộc Thạnh tiện đà vung siêu phản kích, nhưng Đỗ đã kịp đưa rìu chiến lên chặn nhát chém của lão.

Cán siêu đụng phải cán việt, lực phản chấn kinh hồn truyền lại khiến hai tay Mộc Thạnh như rụng rời, hổ khẩu nứt toạc ra, đầm đìa máu.

“ Ha ha! Mộc Thạnh, lần này lão chết là cái chắc! ”

Hồ Đỗ hưng phấn cười gằn, tiếp tục vung việt chém tới tấp. Cứ sau mỗi nhát chém, đòn thế của y lại nặng nề hơn, vồ vập hơn một bậc.

Chém lên, bổ xuống, thúc sườn, đập ngang… cú nào cú nấy mạnh chẳng khác nào sét đánh, trời sập. Phải chống đỡ khiến đôi chân Mộc Thạnh run lên liên tục, hầu như sắp chống đỡ không nổi. Tốc độ, sức mạnh, phản xạ, chiêu thức… Hồ Đỗ đã mạnh hơn lần tay đôi trước trên tất thảy mọi phương diện.

Áp lực đè nặng trên vai Mộc Thạnh. Lão biết mình khó lòng dùng chiến thuật cũ mà vắt kiệt thể lực Hồ Đỗ, cứ phải đỡ những cú đánh mạnh như trời phạt thế này thì chỉ mấy hiệp nữa là lão kiệt sức.

Mặt trời lui dần về phía cuối rặng cây, chiến trường của Hồ Đỗ và Mộc Thạnh nhuốm đầy một màu đỏ ối của nắng chiều gần tắt. Máu đỏ. Thứ mà chỉ mấy khắc trước còn vấy đầy đất thành tia thành vũng, nay đã biến mất trong mảnh hào quang cuối cùng của vầng dương.

Chỉ có tiếng binh khí va chạm kịch liệt, giọng thở hào hển và tiếng chân giộng đất nhịp nhàng. Hai chiến tướng quần thảo nhau, ăn miếng trả miếng dữ dội.

Hồ Đỗ lực lớn không tưởng, Mộc Thạnh lại đa biến linh hoạt. Cứ mỗi khi Đỗ tung ra một chém mạnh khôn cùng, tưởng như không thể đỡ nổi thì Thạnh lại khéo léo dùng xảo kình dẫn lưỡi việt chém xuống đất.

Thật đúng là mãnh hổ gặp thuồng luồng, kì phùng địch thủ.

Quan chiến, nghe tiếng binh khí va nhau mà có cảm tưởng như chứng kiến cảnh cọp gầm toạc núi, lốt ( tên huý của thuồng luồng) giãy đứt sông. Nhưng rõ ràng, đánh lâu, thì sức hổ nhỉnh hơn hẳn.

Hồ Đỗ càng đánh càng hăng, song việt khảm tới đối thủ điên cuồng và dồn dập khác chi bão tố. Mộc Thạnh lại nhắm chuẩn điểm yếu của hai thanh việt, nhẹ nhàng lách siêu vào gẩy một cái. Tức thì song việt của Đỗ tự đụng vào nhau, uy lực tan tác quá nửa. Song lão đánh lâu, cũng phải thấm mệt.

Mộc Thạnh bị dồn ép liên tục, nhưng vẫn bình tĩnh tiếp được từng trảm từng trảm của Đỗ, không núng chút nào. Phải tới chiêu thứ một trăm thì lão mới bước hớ nửa bước, bàn chân đặt quá ba phân về phía Hồ Đỗ.

Chớp ngay cơ hội chẳng thể tốt hơn, Hồ Đỗ sấn ngay lại, vận kình xuống chân mà đạp.

Cốp!

Bàn chân bước hớ của Mộc Thạnh bị trúng chiêu liền, tiếng xương gãy vang lên ken két nghe mà rợn cả người. Chẳng dừng ở đấy, Hồ Xạ liên tiếp nghiến chân mình xuống, di qua di lại.

“ Ahhh!!! ”

Rốt cuộc, nhịn không nổi, Mộc Thạnh hét lên thất thanh vì đau. Chút chân khí đang tán loạn nơi ngực lão bèn theo đó thoát hết ra ngoài.

Hồ Đỗ khẽ nghiến răng, xiết bàn tay, sau đó trở ngược cán việt mà giáng mạnh xuống. Hai đốc rìu bằng sắt đặc đánh trúng liền hai huyệt Kiên Tỉnh ở vai Mộc Thạnh. Đôi tay lão uể oải đi tức thì, rồi buông thõng hẳn. Ngay tức thì, Đỗ tung liền hai cước trúng ngay huyệt Túc Tam Lí ở đôi chân Thạnh.

Hùng kình hàm hậu ập tới khác nào sóng gầm núi sạt. Hai chân họ Mộc trúng đòn liền tê bại đi, y quỳ khuỵu xuống, bất lực.
Bốp!

Ngực lão lại ăn một đạp của Đỗ, còn mặt thì bị tống thẳng một quyền vào. Mũi mồm chảy máu ròng ròng, Thạnh bắn ngược ra sau. Lưng lão nện mạnh xuống khoảnh rừng cách chỗ Đỗ đứng chừng hai thước ta.

Chế địch xong, Hồ Đỗ mới dám buông một hơi thở mạnh. Mộc Thạnh quả nhiên là khó đối phó vô cùng, siêu pháp từng chiêu từng thức đều có hoả hầu thâm hậu vô cùng. Bộ siêu pháp nhìn tưởng như đơn giản, nhưng mọi biến hoá của đường siêu như bị lão nắm hết trong tay, có thể tuỳ tâm mà dùng. Ẩn ước đã hàm chứa đạo lí “ mài đá ra ngọc, bện rơm thành vàng ”.

Thần công của Đỗ dù có tinh tiến, song hắn vẫn phải tốn sức chín trâu hai hổ mới đánh gục được Thạnh. Nếu không nhờ có Lý Thân thần công quái dị vạn phần, e rằng người đang nằm gục phía xa sẽ là Hồ Đỗ.

Rửa được thù chiến bại hôm nào, Hồ Đỗ ngẩng mặt lên nhìn vào bầu trời đang dần tối. Treo cao, xa thật xa, hai ngôi sao thoáng loé lên yếu ớt rồi biến mất ngay. Bị màn đêm nuốt chửng.

“ Ha… ha… ha ha… ha ha ha! ”

Hồ Đỗ cười, cười thật sảng khoái. Dù là khi quân Hồ thắng, hay lúc Đại Ngu thua, hắn vẫn cứ là bại tướng dưới tay Mộc Thạnh.

Nhưng sau hôm nay thì không. Vật đổi sao dời, Mộc Thạnh đã thảm bại trong tay Hồ Đỗ.

Hắn nâng thanh việt lên, gác nó lên gõ gõ bờ vai, cười ngoác tận mang tai. Cái mặt khả ố cười đắc ý trông đến là ghét, trong đôi nhãn châu híp tịt sau mí mắt kia còn có gì khác đâu ngoài men say chiến đấu?

Hồ Đỗ chống nạng đi tới, đầu cúi sát mặt Mộc Thạnh. Mùi máu tanh tanh phả vào mặt, nhưng y nào có thèm để tâm, chỉ lên tiếng với giọng thách thức:

“ Phục chưa? ”

Mộc Thạnh nhìn bầu trời đêm.

Vầng dương hấp hối đang trút hơi thở cuối cùng nơi cuối những rặng cây. Tinh tú ló dần khỏi chỗ nấp, dăm vệt sao chổi mọc sớm xẹt qua xẹt lại, như muốn hoạ vận mệnh ai lên nền trời.

“ Ha… ha… ha ha… ha! ”

Thạnh bắt đầu cười, cũng nấc lên từng âm một, điên dại chẳng kém gì Đỗ hồi nãy. Tiếng cười khô khốc bật lên cao, phả mùi máu vào trong không khí.Hồ Đỗ trông cảnh này, không khỏi lấy làm khó hiểu. Y không muốn thua, y biết Mộc Thạnh cũng vậy. Tràng cười sằng sặc mờ ám của lão khiến y bất an quá. Hồ Đỗ gằn giọng, lưỡi sắc của thanh việt trên tay kề sát cổ Mộc Thạnh:

“ Nói! Mày cười cái gì!? ”

“ Ồ không, không có gì. Hồ Đỗ ạ, nhà ngươi đánh tay đôi thắng lão già này rồi đấy! Tự hào không?? Thế nhưng ở chính cửa quan Hàm Tử, nơi mà các người vẫn lấy làm tự hào, Đại Ngu đã thua cho thiên triều ta. ”

Mộc Thạnh ngả đầu xuống, mắt khẽ nhắm lại, mặc kệ lưỡi rìu sắc lẻm kề ngay cần cổ. Giống như sự sống chết của bản thân lão đã chẳng còn quan trọng nữa.

Hồ Đỗ đang muốn phản bác, thì lại thấy có ánh vàng từ xa xa hắt lên bãi cỏ dưới chân, bò lôm côm trên mặt đất đến tận chỗ hắn đang đứng. Ánh lửa bị bóng cây cối trên gò kéo dài ra lêu nghêu, chẳng khác nào những ngón tay xương xẩu muốn tóm lấy đế giày Hồ Đỗ.

Lòng y thấy nao nao. Dự cảm bất an khi trước chợt cháy phừng lên từ bên dưới lớp tro chiến hoả để lại, đượm hơn bao giờ hết. Hồ Đỗ quay đầu nhìn, thì thấy ở hướng tây xa xa có từng lớp từng lớp tro đỏ bị lửa vàng phủi tung vào đêm đen dày đặc.

Có mai phục!

“ Phục kích hai cánh kì binh, cố tình để doanh trại trống không, lưu lại manh mối trong soái trướng… thì ra tất cả đều là dự mưu của các ngươi? ”

Hồ Đỗ rống lên, hai tay xách cổ Mộc Thạnh. Chiến tướng nhà Minh từng lừng lẫy vô song bị hắn nắm lên như một đứa trẻ, toàn thân mềm như tấm giẻ rách không còn chút lực phản kháng. Đỗ nghiến răng nghiến lợi, cứ nhắm bụng Mộc Thạnh mà thoi tới tấp.

“ Khà khà… nhãi… ranh. Mày… không xứng làm tướng. ”

Câu nói của Thạnh bị những búng máu làm đứt đoạn, nghe lùng bùng chẳng rõ ràng lắm. Song cái vẻ đắc thắng của lão thì hiện rõ mồn một trên mặt.

Một cái bẫy ngọt ngào, sự điên rồ đúng lúc có khi còn nguy hiểm hơn cả rổ mưu mô quỷ quyệt.

Hồ Đỗ bất giác nhớ lời Nguyên Trừng dặn, ba câu ấy lần lượt lac “ lạch nhỏ chớ tiến / doanh trống chớ vào / lâm nguy chớ loạn ”. Thế mà y và Hồ Xạ chỉ nghe theo được câu đầu tiên.

Mộc Thạnh nói đúng.

Hồ Đỗ thắng một cuộc đấu tay đôi, nhưng thua cả cuộc chiến.

Càng nghĩ, càng tức, Hồ Đỗ xoay nghiêng lười rìu, giật mạnh một phát.

Phựt!

Máu phun như suối, kèm theo một tiếng hét vang. Nay nằm lăn lóc dưới đất là cánh tay cầm siêu của Mộc Thạnh. Lưỡi việt của Hồ Đỗ hãy còn vấy máu.

Y lại tiện tay nhặt luôn thanh siêu của Thạnh lên, vận lực nhấn tay một cái. Cách! Siêu sắt gãy luôn làm hai.

“ Chém đầu nhà ngươi giương lên cho quân Minh, ta không tin giặc còn sĩ khí. ”

Hồ Đỗ nghiến răng kèn kẹt, lưỡi việt đưa ra sau lưng lấy đà định phạt một nhát bay đầu Thạnh.

Thông báo: cạn bom, tác giả sẽ hiện nguyên hình một con ốc sên tinh sau chương này.

Sau này sẽ chỉnh lại lịch đăng, rút ngắn chương lại. Nguyên nhân: Theo khảo sát thì không mấy bạn thích chương dài.

Chương 35: Hồi tám (7)

Cái đầu trọc lốc của Khiếu Hoá Tăng nổi lên hàng đống gân xanh.

Lão tốn cả buổi sáng nói đến cổ khô họng rã, cạn sạch cả nước miếng cũng không thuyết phục nổi Phiêu Hương. Lão lại phải dụ dỗ đủ điều mà con nhóc đáng ghét kia vẫn cứ không cho lão mượn bảo đao dù chỉ một chút. Lần đầu tiên Khiếu Hoá thấy nói là một sự việc thật là mệt mỏi, trong khi lão vẫn tụng kinh niệm Phật hàng mấy canh giờ một ngày.

Không cho mượn đao quan sát đã đành, bây giờ Khiếu Hoá Tăng chỉ ước giá mà Phiêu Hương để đao Lĩnh Nam nằm yên trong vỏ cho lão đỡ thèm. Song, con bé lại cứ rút đao ra để tơ hớ ngay bên cạnh chỗ nó ngồi, rồi quay ra chơi chuyền với Tạng Cẩu.

Lão sư ăn mày trông bảo đao bị vứt chỏng chơ mà lòng ngứa ngáy như bị kiến bò. Song… Khiếu Hoá Tăng có quy tắc của lão, ấy là đối phương phải tự nguyện cho mượn lão mới lấy. Bằng không, với võ công của mình, lão muốn cướp đoạt thì giang hồ này chả mấy ai cản nổi.

Phiêu Hương không đồng ý cho mượn, khiến Khiếu Hoá Tăng chỉ biết dậm chân mà đi vòng vòng một chỗ, cắn răng cắn lợi. Lão gắng gượng khắc chế bản thân, không dám nhìn về phía đao Lĩnh Nam. Thế nhưng mà tên của ông tổ nghề đúc “ Khổng Lồ ” khiến Khiếu Hoá Tăng bứt rứt không yên, khác nào con kiến bò trên chảo nóng.

Đúng là chỉ có thần binh lợi khí mới có thể khiến lão sư ăn mày này thấy phiền não.

Hai đứa bé dùng một nắm hương cháy dở làm que chuyền, một quả cau lục được trong điện thờ làm quả chuyền. Vốn nghịch ngợm, nên Phiêu Hương chỏ ngón tay vào lư hương chành ành ở giữa sân, nói:

“ Hễ ai mà mất lượt thì sẽ bị chét tro vào mặt nhé. ”

[ Mình đánh không lại Hương, cũng không thông minh bằng. Nhưng trò này chắc chắn không thể thua được! ]

Tạng Cẩu nhớ về những buổi chăn trâu, đám trẻ cùng làng kéo nhau lên gò đánh nhau với đám mục đồng thôn kế bên. Khi ấy, bọn con gái cũng chạy theo cổ vũ, nên giao cả đàn trâu cho nó chăn. Tạng Cẩu còn nhớ những hôm nó ngồi thu lu cạnh gốc măng, bóng tre mát rợp đầu chơi chuyền một mình. Phải đến chặng ba chặng bốn gì đó mới rối tay. Cẩu lại nghĩ Phiêu Hương vốn là tiểu thư lá ngọc cành vàng, chắc phải học khảy đàn đánh cờ chứ không rành mấy môn dân dã bằng nó, thế là tự tin đáp ứng liền.

Phiêu Hương như chỉ chờ có thế, tiếng cười bật lên giòn tan như chuông ngân. Chính điệu cười híp mắt này của cô bé là thứ khiến Cẩu có dự cảm chẳng lành. Song nó không hối hận, đưa tay chộp lấy quả cau.

Rồi vòng đánh chuyền bắt đầu…

“ Cái mốt, Cái mai, Con trai, cái hến, con nhện, vương tơ, quả mơ, quả mít, chuột chít, lên bàn đôi.

Đôi tôi, đôi chị, đôi cành thị, đôi cành na, đôi lên ba

Ba đi ra, ba đi vào, ba cành đào, một lên tư

Tư ông sư, tư bà vãi, hai lên năm.

Năm con tằm, năm lên sáu

Sáu của ấu, Bốn lên bảy

Bảy lá đa, ba lên tám… ”

Quả cao lên lên xuống xuống thật đều, nhịp nhàng hoà theo tiếng ca của Tạng Cẩu. Phiêu Hương ngồi cạnh, vừa ngâm nga vừa vỗ tay đệm. Bài đồng dao đánh chuyền thời ấy sao mà phổ biến, trẻ con đứa nào đứa nấy đều thuộc nằm lòng.

“ Tám quả trám, hai lên chín

Chín cái cột, một lên mười

Ngả năm mươi, mười quả đấm, chấm tay vỏ, bỏ tay chuyền… ”

Tạng Cẩu cũng coi như khéo léo, xong đến chặng ba là nó bắt đầu rối tay. Hát đến câu đầu tiên của chặng thứ ba: “ chống cột, một đôi… ” thì nó loạn mất nửa nhịp, quả cau rơi đánh bịch xuống đất một cái. Theo luật chơi chuyền, thì lượt của nó chuyển qua cho Phiêu Hương.

Cô bé nhặt quả cau, rồi nói:“ Lượt của tớ nha, đằng ấy chuẩn bị nếm tro đi. ”

“ Chưa chắc. ”

Tạng Cẩu trợn to mắt, quan sát quả cau và những que hương lần lượt lên xuống giữa mười ngón tay thon dài lá liễu. Tay làm, miệng nói, đôi mắt thỉnh thoảng còn ngước lên nhìn Tạng Cẩu như muốn trêu tức nó. Mặt trời ngả dần về trưa, ánh nắng rọi xuống sân, hắt lên, ửng hồng cánh hoa sen.

Chẳng mấy chốc, Tạng Cẩu đã bị Phiêu Hương bắt kịp.

“ Chống cột, một đôi.

Chống khoai, hai đôi… ”

Quả cau chạm đất.

Phiêu Hương lắc nhẹ hai bàn tay, nói:

“ A… mỏi quá. Này Tạng Cẩu, thế là tớ thắng đằng ấy một đúng không? ”

Đôi mắt cô bé tròn xoe lên, long lanh nhìn Tạng Cẩu không chớp lấy một cái như muốn nhắc nó đừng hòng trốn nợ.

Có chơi có chịu, Tạng Cẩu ngồi khoanh chân, hai tay để thẳng chống xuống đất, đầu nghển cao lên đón đợi số phận bị bôi mặt. Phiêu Hương chẳng muốn chờ lâu, cũng như một câu nói nổi tiếng của cố nghệ sĩ Hán Văn Tình trong bộ phim kinh điển “ Đất Và Người ”: “ Không nên hoãn cái sự sung sướng ấy lại. ”. Cô bé nhón ngay một nhúm tro lên xoa xoa cả năm đầu ngón tay vào nhau, mãi đến khi làn da trắng hồng đổi màu xám xịt mời ngừng lại. Ánh nắng nhảy múa trên đôi hàng ngọc trắng ngần, thẳng tắp. Phiêu Hương từ từ giơ tay lên, quệt một nhát vào má Tạng Cẩu làm mặt thằng nhóc lại lấm lấm lem lem như hồi nào trốn trong bụi tre.

“ Auuuu… ăn gian! Thoả thuận đâu có nói thua bị véo má! ”

Tạng Cẩu đập lên bàn tay Phiêu Hương một cái, sau đó bưng chặt đôi má mình mà lườm lại cô bé.

“ Rồi rồi, tớ sai. Đằng ấy làm gắt lên làm gì? Sao, đã sợ chưa? ”Phiêu Hương cười tủm tỉm, hất hất đầu ra chiều thách thức, khiến vạn sợi tơ tằm óng ánh uyển chuyển bay trước mặt Tạng Cẩu.

“ Sợ ư? Không bao giờ! ”

Các cụ đã có câu là thua cay, đánh gỡ. Chẳng những đúng trong cờ bạc, mà trong những cuộc vui trẻ con điều ấy cũng không sai một tí nào. Tạng Cẩu thấy nó chỉ thua có một câu, bèn muốn cố sức gỡ lại một phen cho bõ.

Phiêu Hương chỉ cười, biết là mưu mình đã đắc.

Hai đứa tiếp tục chơi chuyền đến mười chặp liền, Tạng Cẩu không thắng nổi một ván nào. Lần nào cũng thế, Phiêu Hương đều “ sơ sẩy ” một que hương hoặc quên bẵng mất quả cau sau khi vượt nó một hoặc hai câu. Nhưng thắng một câu cũng vẫn là thắng. Và tất nhiên, mặt Tạng Cẩu cũng vì thua liên tiếp mười trận mà đen thui như cái đít nồi.

“ Hương lừa tớ! Xem đây! ”

Đến đây, Tạng Cẩu biết nó đã bị cô bé đằng trước gài. Đang lúc ức mình, nó bèn nhảy xổ tới, tóm vai quật Phiêu Hương xuống đất. Phía xa xa, Khiếu Hoá Tăng đang tìm kế gạ mượn đao cũng nhận ra động tĩnh phía chúng nó truyền lại. Lão bèn quay phắt đi, gương mặt núng nính đỏ lên:

[ Trẻ con thời nay lớn nhanh quá, chưa được mười tuổi đã định làm chuyện xấu hổ với nhau rồi. Không được, không được. Phật dạy phi lễ chớ có nhìn, người xuất gia không nên xem vào chuyện trần thế. Lại nói bọn nó không phải học trò của lão hoà thượng, lão ăn mày không quản được. ]

Khiếu Hoá Tăng lẩn ra trai phòng phía sau điện thờ, tập trung hết tâm lực nghĩ cách mượn đao.

Tạng Cẩu nhấn chặt đôi vai Phiêu Hương xuống đất, vòng qua ngồi lên người cô bé. Nói đoạn, nó cười khì khì:

“ Lừa tớ hả, xem Cẩu trả đũa đây. ”

Tạng Cẩu cúi xuống thấp, cọ đôi má lấm lem của mình vào mặt Phiêu Hương. Chỉ trong nháy mắt mặt hai đứa đều đã bê bết tàn hương xám xịt. Song chẳng đứa nào quan tâm. Hai đứa nhóc chưa biết tí gì về chuyện của người lớn, nên nội tâm chúng sáng như mặt gương, đều coi đây chỉ là trò đùa cho vui chứ không phải tư thế “ nguy hiểm ”.

Phiêu Hương giãy ra được, bèn phi tới chỗ lư hương vốc cả một nắm tàn hương lớn ném vào mặt Tạng Cẩu.

Bụp! Mồm thằng nhóc toàn tro là tro.

Tạng Cẩu đứng phun phì phì, tức giận hét lên đuổi theo. Hai đứa đều thi triển khinh công mà chạy, nhìn thoáng qua như một đôi tiên đồng ngọc nữ mặt mèo đuổi nhau giữa sân miếu. Mãi đến lúc cả hai mệt lử, mồ hôi đầm đìa mới chịu ngồi xuống, vai tựa vào nhau. Phiêu Hương lấy khăn tay ra, nói:

“ Nào, ngồi yên, Hương lau mặt cho. ”

“ Không!! Thế nào cũng giấu tàn hương trong khăn để lừa Cẩu, đây không tin đâu. ”

Tạng Cẩu vùng lên định chạy, nhưng mệt quá lại ngã đánh phịch một cái, nằm soài ra đất chẳng buồn động đật nữa. Phiêu Hương trông cái bộ dáng hết hồn hết vía của nó, không nhịn được bật cười. Đoạn, cô bé cũng nằm xuống cạnh Tạng Cẩu, giở tấm khăn trắng phau ra. Thơm. Mùi thơm của bồ kết hoà với chút hương hoa bay vào mũi Tạng Cẩu. Lúc này nó mới tin Phiêu Hương muốn lau mặt cho nó thật. Hai đứa lười biếng nằm một chốc nữa rồi mới mò dậy tìm nước đi rửa mặt. Không có giếng ở sân ngoài, nhưng bù lại ở góc trái chính điện có đặt một đôi chum kiệu lớn đong đầy nước, ngay cạnh cái lò hoá vàng to oạch.

Xong xuôi đâu đấy, lớp tro lem nhem luốc nhuốc đã trôi hết rồi, Phiêu Hương mới lấy khăn tay ra cẩn thận lau mặt Tạng Cẩu, tỉ mỉ không bỏ sót một chỗ nào dù là nhỏ nhất. Càng lau chùi cho nó, cô bé càng run người lên vì nghẹn cười.

Ngờ có chuyện gì, Tạng Cẩu giật luôn cái khăn, tá hoả vì mặt trong đã bị Phiêu Hương trét một nắm bùn lên từ lúc nào. Thằng bé thấy cặp má mình ươn ướt ẩm ẩm. Trước thì chỉ nghĩ là tại nó rửa chưa khô, nhưng nay thì đoán chừng là cả cái mặt nó đã bị cô bé kia bôi nguệch ngoạc lên toàn đất với bùn.

Hai đứa nhóc vì trò đùa dai này mà lại dùng khinh công đuổi nhau một chặp nữa đến tối mịt mới chịu thôi.

Hẹn mọi người ba ngày nữa sẽ ngoi lên trở lại, trừ phi tác hóc nội dung.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau