THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 296 - Chương 300

Chương 296: Hồi hai mươi sáu (2)

Hồ Phiêu Hương đi ra một góc hành lang, để Tạng Cẩu nói chuyện riêng với Lí Bân.

Lúc này, cậu chàng mới hỏi:

“ Lí huynh đài, ta gọi huynh đài như thế không vấn đề chứ? ”

Lí Bân bèn thở dài:

“ Tuỳ thiếu hiệp. ”

Tên của Tạng Cẩu rất khó nghe, trừ người thân thuộc với cậu chàng, rất ít khi người ta dùng cái tên này. Thường họ gọi là thiếu hiệp để tránh đi, lần này cũng không phải là ngoại lệ.

Tạng Cẩu bèn tiếp:

“ Lí huynh đài nói mình không tự tin, nên chắp tay nhường đoạn nhân duyên này cho nghĩa huynh ta Liễu Thăng??? Ta thấy còn nguyên do khác, đúng không? ”

Lí Bân lúc này kéo ghế ngồi xuống với Tạng Cẩu, đoạn tự rót cho mình một chén.

Y ngửa đầu dốc cạn, rượu nóng tràn xuống hầu, tưởng như là bầu máu nóng của tuổi thiếu thời lần lại nữa chảy xuôi trong người. Có lẽ, xưa nay anh hùng ưa rượu, chẳng phải vì thưởng thức cái mùi vị, mà để tận hưởng cảm giác nhiệt huyết chạy rần rần này đây.

Nói đoạn, y mới khẽ hỏi:

“ Sao thiếu hiệp lại nghĩ thế? ”

Liễu Thăng là nghĩa huynh của Tạng Cẩu. Tuy hiện giờ đứng khác chiến hào, nhưng nghĩa kim lan không phải nói phủi sạch là phủi sạch. Càng hà huống cậu ta cũng là đệ tử của Quận Gió, chung một thầy với hai người Phiêu Hương. Còn Lí Bân thực tế chỉ là người ngoài, trước đây còn từng làm tù binh của cả hai.

Theo lẽ thường tình mà nói, Tạng Cẩu hẳn phải mừng khi nghe tin Lí Bân chấp nhận bỏ Thanh Hằng mới phải.

“ Nếu đã có ý nhượng bộ, thì từ đầu đã không ngỏ lời dạm hỏi, khiến người ta đàm tiếu chê cười người mình yêu. Lí huynh đây tuy làm người còn nhiều thiếu xót, nhưng không phải hạng không có trước có sau. Thế nên, tôi mới đoán là huynh đài còn nỗi khổ khác. ”

Tạng Cẩu nói xong, rồi tiếp:

“ Nếu Lí huynh có chuyện khó giải quyết, xin cứ nói ra. Nếu giúp được thì tôi xin hết lòng. ”

Lí Bân biết rõ võ công của Tạng Cẩu cao hơn mình không biết bao nhiêu lần, cũng từng làm được những chuyện kinh thiên động địa. Mấy năm gần đây truyền văn về hai đứa nhóc An Nam đâu phải ít? Lí Bân chậm rãi phân tích một hồi cũng đoán hai nhân vật chính trong lời đồn tám chín phần là Hồ Phiêu Hương và Tạng Cẩu.

Song lần này y chỉ thở dài:

“ Sợ tôi nói ra, thiếu hiệp cũng không tin. Mà có tin, thì cũng không giúp gì được. ”

Tạng Cẩu tự hỏi, rốt cuộc Lí Bân gặp phải chuyện gì mà lại mất niềm tin đến thế. Cậu chàng lại nói:

“ Thì huynh đài cũng cứ phải nói ra tôi mới biết nó hoang đường đến thế nào, với lại có giúp được gì hay không chứ. Cho dù tôi có bất lực đi nữa, thì ít ra Lí huynh cũng nói ra được một lần, chẳng thoải mái hơn chôn chặt trong lòng sao? ”

Lí Bân nghĩ một chốc, đoán chừng Tạng Cẩu cũng không phải nhân vật xuất hiện trong chính sử, bằng không cái tên đặc biệt như thế, há có chuyện người đời sau lại không có chút ấn tượng nào? Nói rồi mới thở dài:“ Được. Nếu thế thì xin thiếu hiệp chớ cười tôi điên khùng. ”

Đoạn, y kể toạc hết thảy, không giấu diếm chút nào.

Tạng Cẩu nghe những gì Lí Bân thú nhận mà điếng cả người. Đến lúc y kể hết đầu đuôi, cậu chàng mới nuốt khan một tiếng, nhắc lại:

“ Tức là… huynh đài tuy thân xác là Lí Bân, nhưng linh hồn lại là một thanh niên tên Đồ Ngu đến từ sáu trăm năm sau? Do bị trúng thuốc độc nên hồn phách mới vượt thời gian, nhập vào cơ thể của Lí Bân? ”

Lí Bân kể rất nhiều thứ, từ chuyện đi học đại học, làm sinh viên đến chuyện mình ngộ độc như thế nào, song Tạng Cẩu nghe những từ này chẳng hiểu gì cả, nên chỉ tóm lược những gì mình hiểu mà thôi.

Lí Bân thở dài, gật đầu mà không đáp.

Tạng Cẩu nhấp một ngụm rượu, như thể cố ép trôi hết những điều kì quái mình vừa nghe vào ruột. Cậu chàng lại nghĩ:

[ Thế cũng dễ hiểu tại sao y có bao nhiêu là ý tưởng quái dị, chẳng giống ai. ]

Câu chuyện linh hồn vượt thời gian của Lí Bân tuy là khó tin, song trên đời còn bao nhiêu điều kì lạ không thể giải thích bằng lẽ thường, nên cũng không thể nói tuyệt đối được liệu ấy có phải sự bất khả thi hay không.

Tạng Cẩu xem chừng đã xuôi xuôi, song lại tiếp tục hỏi:

“ Thế tôi lại lấy làm lạ, chuyện huynh đài là người từ sáu trăm năm sau đến thì can hệ gì tới chuyện cưới hỏi với Thanh Hằng? ”

Nếu đã là hồn phách nhập vào người Lí Bân, thì đã xem như là người khác. Chuyện cưới người nào thì có can hệ gì tới tương lai?

Lí Bân bèn thở dài:“ Hồi ấy, lúc tôi đề cập chuyện cưới xin với Lê đại nhân, thì bỗng nhiên trời đất xoay chuyển, bụng dạ cồn cào như muốn nôn mửa. Lúc nhìn vào gương, thì một nửa bên mặt đã trở nên trong suốt như làn nước… ”

Hồ Nguyên Trừng gần đây đã phải đổi tên thành Lê Trừng, do Vĩnh Lạc đế không công nhận họ Hồ của Đại Ngu. Chuyện này Nguyễn Phi Khanh đã nói cho hai người Tạng Cẩu rõ ràng qua thư từ rồi, nên cậu chàng không lấy làm lạ.

“ Ý của huynh đài là? ”

Y bèn thở dài, nói tiếp:

“ Ban đầu tôi nghĩ chắc chuyện vượt thời gian này chỉ được một thời gian nhất định, đã đến lúc tôi phải quay về tương lai. Ngặt nỗi vừa có ý hủy hôn thì mọi điều dị trạng đều biến mất hết thảy. Lúc quay ra chuẩn bị sính lễ thì lại bị, còn bỏ ý định cưới xin đi sẽ hết, cứ thế năm bảy lần… ”

Y chậm rãi lắc đầu, lại dốc cạn chén rượu trong tay:

“ Bấy giờ tôi mới hiểu, Thanh Hằng có thể là bà tổ mấy trăm đời của tôi – tôi của tương lai. Nếu như cô ấy lấy tôi, thì bằng cách nào đó dòng họ Đồ sẽ tuyệt tự, nên mới có hiện tượng biến mất như thế. ”

Tạng Cẩu ngẫm một chốc, lại hỏi:

“ Nếu như tương lai là Tây An, còn bây giờ là Nam Kinh, thì chẳng phải có nhiều đường dẫn từ Nam Kinh đến Tây An hay sao? ”

“ Chắc do tôi xui xẻo, có ông tổ điên tình đi vậy… ”

Lí Bân thở dài.

Tạng Cẩu cũng không biết phải khuyên bảo y ra sao, dù sao chuyện vượt thời gian này quá mức hoang đường, hoàn toàn vượt qua khỏi sức tưởng tượng của cậu. Thế nên cho dù cậu chàng có tài nhìn qua là nhớ đi chăng nữa thì cũng chỉ tạm nắm được một hai phần mà thôi.

Lí Bân nói được hết những bí mật trong lòng, tự thấy tâm tình thoải mái hơn nhiều, rất cảm kích. Y bèn cho người dưới lấy thêm rượu lên, đoạn nói với Tạng Cẩu:

“ Thực lòng đa tạ thiếu hiệp không chê cười Lí mỗ đầu óc không bình thường, kiên nhẫn nghe hết những chuyện hoang đường tôi vừa kể. ”

Tạng Cẩu bèn hỏi:

“ Thế sau đó ra sao, tại sao Lí huynh lại đến Tây An, mở tòa Thính Tuyết lâu này bằng cách nào? ”

Lí Bân lúc này đã mở lòng với cậu chàng, bèn kể tiếp:

“ Lúc đó tôi rút lại chuyện cưới xin, không còn mặt mũi nào nhìn Lê đại nhân và Thanh Hằng, bèn xin một đội buôn cho đi theo làm chân sai vặt. Ai ngờ nửa đường gặp cướp, cũng may hồi ấy tôi đập đầu vào thành xe, ngất đi nên đám cường đạo không giết nốt. Bơ vơ lang bạt ăn xin thì đến được đây, thế rồi có bà con họ hàng xa nhận ra, báo cho quyến thuộc cũ.

Trước đây vì chuyện của Lí công công giả và Tửu Thôn mà tôi phải từ mặt người thân, cũng may chưa cạn nghĩa. Tuy có nhà không thể về, nhưng người thân vẫn chu cấp cho một khoản để sống ở Tây An. ”

Tạng Cẩu tự nhủ, linh hồn người này là Đồ Ngu, thì người thân của Lí Bân không thể coi là người nhà của y được. Nhưng nghe giọng y run lên từng chặp, ánh mắt lộ rõ vẻ kích động, đủ thấy lúc y nhận món tiền cứu trợ thì cảm động tới mức nào. Tạng Cẩu lại nghĩ, bản thân là cô nhi tứ cố vô thân, nếu không có người dân trong thôn Điếu Ngư cưu mang trợ giúp thì đã chết từ lúc nào rồi. Lúc này nghĩ lại, Đồ Ngu vượt thời gian đến đây nhập vào thân xác một người xa lạ, chẳng khác gì đứa trẻ vừa đầu thai, cũng chịu cảnh không thân không thích như vậy. Thành ra lúc này cậu chàng lại cảm thấy mừng cho y.

Chương 297: Hồi hai mươi sáu (3)

Lí Bân bèn tiếp:

“ Song cũng đâu có được thuận lợi gì cho cam? Lúc đầu mở Thính Tuyết lâu này, tôi không biết khẩu vị người thời nay, thế là thất bại thê thảm… Nhiều người ăn đồ tôi nấu, đau bụng tiêu chảy, thế là bị kiện lên quan trên thiếu điều táng gia bại sản. ”

Phải biết khẩu vị xưa và nay vốn rất khác nhau, chất lượng thực phẩm và cơ địa, độ mạnh yếu của miễn dịch cũng không giống với thế giới hiện đại. Lí Bân chế biến theo khẩu vị sáu trăm năm sau, thành công được mới là chuyện lạ.

Lí Bân trầm mặc nhìn vào bầu không bên ngoài hành lang, rồi nói tiếp:

“ Lúc ấy túng quẫn, tôi mới đến chỗ Lí viên ngoại vay mượn một khoản để làm ăn, cũng được ngài ấy khuyên bảo ít nhiều trong chuyện buôn bán. Đến khi ấy mở Thính Tuyết Lâu nhắm vào các cậu ấm cô chiêu thích sự mới lạ, lại dùng kiểu làm ăn tự phục vụ của tương lai, thế mới tạm gọi là có chút thành công nhất thời. ”

Y nhìn ra bầu không bên ngoài lan can bằng gỗ, chậm rãi hồi tưởng lại mọi chuyện.

Bảy năm trước, giữa lúc đang đánh trận Đa Bang, thì linh hồn y vượt thời gian nhập vào thân xác Lí Bân. Khi ấy, y khấp khởi mừng thầm, nghĩ sẽ dựa vào kiến thức khoa học từ hơn sáu trăm năm sau để làm nên một phen cơ nghiệp. Nào có biết rằng, chưa nói từ lí thuyết tới thực tế vốn đã cách nhau cả vạn dặm đường, chỉ riêng xét về vốn sống, độ từng trải, cũng như mưu mô trí kế thì một tay sinh viên sống trong thời bình như y sao có thể đọ được với loại tướng lão luyện sa trường mấy chục năm như Trương Phụ, Mộc Thạnh? Càng không đáng xách dép cho kẻ quân vương đáng sợ như Chu Đệ.

Kiến thức trên trường lớp, căn bản không phải vốn sống.

Đáng tiếc trước giờ y vẫn đánh đồng hai thứ này với nhau trong vô thức, may sao nhận ra kịp thời, mới giữ được tính mạng đến bây giờ.

Lí Bân lại thở dài, nhiều lúc đến ngày cuối năm, một thân một mình ở nơi đất lạ, cũng không rõ ở nhà cha mẹ người thân ra sao, anh em bè bạn thế nào. Đáng tiếc là hiện giờ cho dù có tiền muôn bạc vạn, quyền thế nghiêng trời, cũng chẳng thể nào gặp lại, chúc nhau một câu “ năm mới bình an ”.

Quê hương y ở sáu trăm năm sau.

Tạng Cẩu bèn nói:

“ Vậy thì không làm phiền Lí huynh đài nữa. ”

Đoạn đứng dậy lấy ra một viên quỷ diện phi châu, đưa cho Lí Bân, nói:

“ Huynh đài ở đây bơ vơ một mình, có cha có mẹ nhưng không thể báo hiếu, có bè có bạn chẳng thể tận nghĩa, có nhà không thể về. Có một vật này, xin giữ làm kỷ niệm, coi như để trừ tà. ”

Tạng Cẩu tự nhủ, bản thân cậu chàng tuy cũng là cô nhi tứ cố vô thân, thôn nhỏ mà cậu coi là cả thế giới thì đã bị người ta san thành bình địa, song chí ít, mỗi năm vào ngày thanh minh, cậu chàng còn có thể thắp cho cô bác, ông bà ở thôn Điếu Ngư mấy nén nhang, đốt ít giấy vàng mã.

Còn Lí Bân… lẽ nào thắp hương thờ người sống?

Lí Bân nhận phi châu, thì đột nhiên giật nảy mình một cái, đánh rơi cả viên châu bằng đồng đen xuống đất phát ra một âm thanh trầm đục.

Tạng Cẩu quan sát thần sắc y biến đổi, đôi mắt mở lớn, như thể nhận ra lai lịch của đồng đen thì không khỏi thấy kinh ngạc.

Một ý nghĩ to gan xuất hiện trong lòng cậu chàng.

Lí Bân lúc này mới bình tĩnh, dùng sức nhặt quỷ diện phi châu lên, run giọng hỏi Tạng Cẩu:

“ Làm sao cậu có được vật này? ”

Tạng Cẩu bèn lướt đến chỗ Hương, lấy thanh Lĩnh Nam ra đưa cho Lí Bân xem qua một lượt. Đoạn nói:

“ Đây vốn là vũ khí độc môn của tôi. Chẳng nhẽ, Lí huynh nhận ra thứ này? Hoặc giả phải nói là… viên châu này được làm từ thứ kim khí đến từ sáu trăm năm sau? ”

Lại kể chuyện của nước Nam…

Hổ Vương dẫn Đinh Lễ về Lam Sơn chưa bao lâu, thì Phạm Ngọc Trần đã biết trước. Không đợi Hổ Vương và bà Thương vãn chuyện, cô nàng đã chạy lên nhà trên, nói:

“ Cha. Cha về rồi sao? ”

Hổ Vương Đề Lãm cười nhạt, nói:

“ Con nỡm nhà cô thì tài rồi, mượn cớ để chào cha, thực ra chỉ muốn nghe ngóng tin thằng nhãi kia thôi đúng không? ”

Phạm Ngọc Trần biết không qua mặt được cha, bèn chạy đến đấm bóp cho cha, nói:

“ Cha… ở đây còn bác Thương. ”

Hổ Vương cười vang, nói:

“ Đấy! Chị xem! Người ta nói con gái lớn như chim xổ lồng đúng là chẳng sai. Được rồi. Đinh Lễ bây giờ chắc đang đi tìm Nguyễn Xí, chạy mau đi còn bắt kịp. ”

Phạm Ngọc Trần gật đầu, nói:“ Thế con đi đây. ”

Bà Thương nãy giờ vẫn im lặng, nay thấy cô nàng đã đi khuất rồi mới lên tiếng:

“ Bác Lãm trước nay không phải người dễ thay đổi chủ ý, xem chừng là còn có ý khác rồi. ”

“ Không giấu được chị. ”

Hổ Vương thở dài, buông tay đặt lên tai ghế.

Bà Thương nghĩ một thoáng, rồi ôn tồn:

“ Có lời này khó nghe, bác nể mặt thầy thằng Lợi thông cảm tôi mới dám nói. ”

“ Đã là chỗ quen thân nhiều năm, lời chị dạy sao em dám không nghe? ”

Hổ Vương đáp, trong lòng cũng đã đoán chắc được tám chín phần bà Thương sẽ khuyên bảo chuyện gì.

Bà Thương hắng giọng, đoạn bảo:

“ Bác làm chúa một vùng, chắc tự biết cân nhắc. Nhưng chuyện con Ngọc Trần với thằng Lễ bác cứ phải xen vào làm gì? Có câu vật cực tất phản, tính cách con bé lại cương ngạnh, bác càng cấm cản con bé chỉ càng làm nó quyết tâm hơn mà thôi. Có câu yêu nhau chưa ắt đã thành quyến thuộc, bác hà tất phải cấm đoán đến thế? Lại nói, thằng Lễ ngoại trừ nan chứng trời sinh, thì nhân phẩm hay thân thế đâu đến nỗi nào? ”

Hổ Vương nói:

“ Em đâu phải hạng người chấp nhặt những chuyện này? Nếu không phải có nguyên do khác, em cũng muốn gả phứt con bé cho thằng Lễ. Còn cái ngai đang ngồi thì từ từ tìm người kế vị cũng được. ”

“ Ồ? Thế thì vì cớ gì mà bác lại phản đối đến thế? ”

Hổ Vương chậm rãi nói từng chữ:

“ Chị nghe đến ngậm ngải tìm trầm bao giờ chưa? ”

Phạm Ngọc Trần rảo bước chạy ra, hai bên con đường đất là đồng ruộng trải dài. Phía trước đó không xa, đã có thể thấy rõ bóng lưng một thanh niên vác cây côn sắt, bên cạnh dắt một con trâu lông trắng như tuyết.

Ngoại trừ Đinh Lễ ra, trên đời còn ai có thể thản nhiên đi cạnh con Đại Thắng thần ngưu nổi tiếng là hung hãn như thế cơ chứ?

Thấy bóng y, cô nàng bèn cất tiếng:
“ Này! Chờ tôi với! ”

Người và trâu cùng đứng lại.

Đoạn, thanh niên chậm rãi quay đầu nhìn về phía Phạm Ngọc Trần, nhẹ giọng:

“ Là cô à? ”

Phạm Ngọc Trần đứng lại, thở dốc mấy hơi, lại cuống cuồng đưa tay lên đầu định chỉnh lại tóc tai, thì Đinh Lễ đã đến bên, đưa tay vuốt lại lọn tóc dài đang xõa tung của cô nàng. Phạm Ngọc Trần thấy lần này cử chỉ của y ôn nhu khác thường, bất giác trống ngực bắt đầu đập liên hồi.

Thì ra hồi Lê Lợi thành quyến thuộc với Ngọc Lữ, Phạm Ngọc Trần đã lấy hết can đảm nói rõ chuyện tình cảm với Đinh Lễ, tiếc là cọc đi tìm nhưng trâu không chịu. Đến nay thái độ lại thay đổi, không khỏi thấy có điểm kì quái.

Lúc này, Đinh Lễ chợt nói:

“ Chuyện tình cảm vốn khó cưỡng cầu, cô đã không muốn cưới chúa công, thì cứ nói thẳng với Hổ Vương là được, đâu cần phải bám víu vào kẻ có bệnh bẩm sinh như tôi làm gì? ”

“ Chuyện này… tôi… ”

Phạm Ngọc Trần không ngờ Đinh Lễ đột nhiên nghiêm mặt, sẵng giọng, không khỏi ngớ người ra.

Con Đại Thắng đột nhiên phất phất đuôi, cọ cọ móng, như thể muốn ra hiệu cho Phạm Ngọc Trần.

Nhưng Đinh Lễ chưa chịu thôi, y tiếp tục nói phũ:

“ Tôi biết đàn bà miền núi các cô phong tục khác miền xuôi, nhưng thứ cho Đinh Lễ không tiện gần gũi với loại con gái lãng mạn phóng túng (*). Xin cô hãy tự trọng một chút, chớ có vọng tưởng rằng cứ tiếp tục như thế này thì tôi sẽ phải lòng cô, cũng đừng nghĩ có chút nhan sắc mà đàn ông sẽ quay chung quanh lấy lòng cô. Tưởng tôi dễ bị lợi dụng như thế sao? ”

Đương nhiên thực tâm thì y không nghĩ như thế, song nhớ đến những gì Hổ Vương kể, thì Đinh Lễ cũng phải cắn răng mà làm.

Phạm Ngọc Trần dám yêu dám hận, nhưng cũng thừa hưởng cá tính kiệt ngạo ngoan cường của Hổ Vương.

Cô nàng nghe Đinh Lễ nói vậy, sắc mặt tối sầm, lui nhanh hai bước, giọng nói lạnh hẳn đi:

“ Anh nghĩ thế thật sao? ”

Đinh Lễ bèn nói:

“ Chẳng nhẽ không phải sao? Nếu không phải vì dùng tôi làm kế hoãn binh, thì con gái của Hổ Vương, tìm đến một kẻ yểu mệnh như tôi làm gì? Ha ha, Đinh Lễ này số đã định không sống được bao lâu, cũng chẳng thể có con cháu nối dõi, thực là con bù nhìn hoàn hảo mà. ”

Phạm Ngọc Trần nghe xong, cười lạnh, nói:

“ Đinh tướng quân đã cho rằng tôi là loại con gái như vậy, thì Phạm Ngọc Trần này cũng chẳng còn gì để nói. ”

Đoạn xoay người chạy nhanh về hướng ngược lại.

Đinh Lễ thở dài.

Phạm Ngọc Trần cá tính mạnh, dám yêu cũng dám hận, yêu sâu hận càng sâu. Muốn cắt đứt đoạn nghiệt duyên này, kì thực cách duy nhất là đánh vào tính cách kiêu ngạo của cô nàng, khiến cô nàng tự mình rút lui. Bằng không, đừng nói là Hổ Vương, cho dù có là ông trời cũng chẳng thể ngăn nổi.

Đinh Lễ cũng biết mình rất quá đáng, bởi lẽ trong chuyện tình cảm, điều đau khổ nhất không phải là mòn mỏi chờ đợi đối phương, cũng chẳng phải sinh li tử biệt. Nhát dao độc địa nhất… chính là tình cảm chân thành của bản thân ở trong mắt người thương lại bị hiểu thành một hồi dối gạt và lợi dụng.

Đại Thắng đột nhiên húc đầu vào hông chủ, kêu “ ò ọ ” một tràng tỏ ý bất mãn.

Đinh Lễ cười thảm, kí đầu con trâu, nói:

“ Thằng ngốc, ngu như con bò. Trên đời có người con gái không vì thánh mạch của tao mà ghét bỏ, nguyện cùng tao đi tìm cách giải chứng nan y, lẽ nào tao không quý tiếc hay sao? Nhưng ở đời có duyên chưa chắc có phận, cũng chưa hẳn bắt buộc phải thành quyến thuộc mới là tình nam nữ. ”

Tiếc là những lời này, người đã chạy đi xa là Phạm Ngọc Trần không thể nghe được.

Con Đại Thắng vẫy tai, khịt mũi, nhìn chủ bằng ánh mắt vô cùng khiêu khích.

Thế là một người một trâu vừa đuổi đánh nhau vừa chạy về phía ánh mặt trời đang dần khuất nơi cuối con đường đất.

Chương 298: Hồi hai mươi sáu (4)

Trong phủ nhà họ Lê, thì bà Thương bấy giờ đang ngồi tựa vào ghế.

Ánh mắt nhìn Hổ Vương nửa là hồ nghi, nửa là áy náy.

Hổ Vương Đề Lãm vốn là người không thích nói lời giả dối, lúc này ông lại càng chẳng có lí do gì phải dối gạt bà cả.

“ Thì ra… ngậm ngải tìm trầm… lại là như thế. ”

Chuyện kể rằng, trên một vùng núi cao, có hai vợ chồng nhà nọ đến sinh cơ lập nghiệp. Họ cũng trồng lúa bắp, chăn nuôi gà lợn và săn chim bắt thỏ như mọi nhà khác. Nhưng nhờ của cải của bố mẹ để lại, họ sống có vẻ phong lưu. Vì thế tuy có vất vả, hai vợ chồng vẫn vui thú gia đình với đứa con trai lên năm tuổi.

Đột nhiên một hôm có một người bạn cũ tới thăm. Hai người đàn ông lâu ngày không gặp, tay bắt mặt mừng. Người bạn nói: - "Nghe nói anh chị dời đến ở đây đã lâu. Nay có việc đi lối này, tôi mới ghé thăm được. Sẵn có cặp ngỗng mang tới biếu anh chị". Chủ hỏi: - "Mấy lâu nay anh ở đâu mà không hề có tin tức gì cả. Chẳng hay anh làm nghề gì?". - "Tôi chẳng nghề ngỗng gì cả. Chẳng giấu gì anh, từ lâu tôi đi tu tiên để mong đắc đạo. Trong năm năm liền ngồi tù cẳng một nơi, bây giờ có việc phải lên núi". - "Lên núi để làm gì?" - "Để tìm trầm. Phải có trầm đốt lên khi muốn đạt một lời cầu nguyện. Trầm sẽ đưa lời cầu của mình lên cung Tam-thanh. Nhờ đó "chư tiên" mới biết được điều ước muốn của mình và sẽ cho mình như nguyện". Chủ lại hỏi: - "Núi rừng trùng điệp, cây cối bạt ngàn, làm sao mà tìm cho ra trầm?". Khách đáp: - "Khó gì. Tìm trầm phải ngậm ngải". Nói rồi khách móc trong tay nải ra một gói nhỏ bọc vải điều, giở ra lấy ngải cho bạn xem rồi nói:

- "Đây là ngải tôi đã luyện, trải bao nhiêu năm nay mới thành. Chỉ cần ngậm mót tý ngải này, có thể đi suốt năm trong rừng sâu, không sợ hùm beo rắn rết làm hại, không cần phải ăn uống gì cả, lại có hy vọng được "chư tiên" phù hộ, giúp cho tìm thấy trầm. Lúc đó thì có thề cầu được ước thấy, trường sinh bất lão".

Chủ nhân thấy bạn cũ tu luyện sắp thành công, có thể cầm chắc sự phú quý trong tay, thì hoa cả mắt. Hắn cầm lấy ngải nâng lên đặt xuống mấy lần, bụng bảo dạ: - "Chà, chỉ một tý thuốc này có thể cầu được ước thấy, trường sinh bất lão, sung sướng biết bao nhiêu". Vui miệng hắn cũng kể cuộc sống của mình trong mấy năm qua cho bạn nghe, rồi giục vợ làm cơm rượu khoản đãi. Trong mấy ngày cầm khách ở lại, vốn biết tính khách thích chơi cờ, chủ nhân lấy ra một bộ cờ bằng ngà mời khách cùng đánh. Hắn chọn một con cờ đưa cho bạn, nói:

- Bộ cờ này của tiền nhân tôi để lại bằng ngà rất quý. Nhưng chúng không quý bằng con tốt này. Nó bằng ngọc bích không mảy may tì vết, mà bao giờ cũng sáng óng ánh, kể cả khi để trong xó tối.

Khách cầm lấy con cờ bằng ngọc xem đi xem lại, thấy quả là của quý hiếm có ở thế gian thì tắc lưỡi khen thầm, đoạn tự nhủ: - "Làm sao ta có được một viên như thế để dâng lên Lão tổ...".

Tuy hai bên suy nghĩ nước cờ nhưng trong bụng người nào cũng chỉ những tìm mưu lập kế chiếm đoạt của nhau: một bên muốn làm chủ gói ngải, còn một bên muốn có con cờ bằng ngọc.

Ngày chia tay đã đến. Giữa khi chủ khách đang "vượt xe thách pháo" thì bỗng nghe tiếng gọi của vợ, chủ vội đi vào nhà trong. Sau đó một tiệc rượu bưng ra. Trong khi thu dọn con cờ, khách đã giấu biến con tốt bằng ngọc vào trong tay áo. Nhưng khách không ngờ chính mình cũng bị tước đoạt. Sau khi chén chú chén anh được một chốc, khách nằm vật xuống bên trường kỷ. Thấy người bạn đã bị mấy chén rượu pha thuốc của mình làm đổ gục, chủ nhân vội lục tay nải chọn lấy gói ngải, rồi lật đật ra đi không kịp từ giã vợ con.

Khách ngủ một giấc đến hai ngày sau mới tỉnh dậy. Hắn ta giật mình khi sờ vào tay nải đã không còn thấy gói ngải quý đâu nữa, tìm bạn bạn cũng đi mất đường nào, hỏi vợ con bạn cũng không ai biết đâu mà trả lời. Khách bèn lủi thủi ra đi quyết tìm cho thấy bạn để đòi lại vật quý.

Từ núi này sang núi nọ, khách trèo liên miên không nghỉ, nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng kẻ bất lương. Một hôm, hắn trèo lên một đỉnh núi cao để phóng mắt nhìn ra xa, nhưng chẳng may trượt chân rơi xuống dốc, viên ngọc văng ra hóa thành đá, thân hắn hóa thành cây, rễ cây luôn luôn quắp chặt lấy đá như muốn bảo vệ của quý.

Còn về phía chủ nhân khi bước chân ra đi, nghe theo cách bày vẽ của bạn, hắn cũng bỏ ngải vào miệng để tìm trầm. Nhưng hắn đi mãi, đi mãi, vượt qua trăm núi ngàn khe mà trầm đâu chẳng thấy. Khi bụng đã chán nản muốn quay trở về thì khốn nỗi lại quên mất lối. Năm này qua năm khác, gói ngải dần dần chỉ còn lại một tí bằng cái móng tay.Hắn đâu có ngờ rằng hễ bao giờ ngải tan hết thì con người sẽ hóa thành hổ. Lúc này da hắn lông đã mọc tua tủa thay cho những chỗ quần áo rách bươm. Rồi một hôm hắn biến thành con hổ xám.

Lại nói chuyện vợ con của hắn ở nhà trông đợi mỏi mòn. Nước mắt hai mẹ con mỗi ngày chảy một ít đã xói đất thành suối. Cuối cùng, ngày lụn tháng qua, hai mẹ con biến thành đá cùng với mấy gia súc và các đồ dùng quen thuộc.

Về sau, hổ xám ta cũng tìm được lối về nhà cũ. Từ đằng xa nhìn thấy bóng dáng vợ con, cả con chó, con gà đang quanh quẩn bên cạnh, hổ lấy làm mừng rỡ, bèn ba chân bốn cẳng vọt nhanh. Nhưng khi biết vợ con và gia súc đã hóa đá thì nó lồng lộn, gầm lên mấy tiếng đau xót, rồi bỏ đi biệt.

Ngày nay ở quận Khánh-dương, tỉnh Khánh-hòa, còn có núi đá gọi là núi Mẫu-tử, nổi bật là một hòn đá dựng, bên cạnh có một hòn nhỏ hơn, người ta nói đó là mẹ con. Xung quanh đá còn nhiều hòn khác nằm rải rác, người ta nói đó là con chó, con gà, cái rổ may và sợi chỉ, cái cối xay, cối giã, cái chày, cái sàng, cái chổi, v.v... Lại còn một tảng đá khác vuông vắn người ta nói đó là bàn cờ có nhiều quân nhưng thiếu mất con tốt. Gần đấy có một dòng suối gọi là suối Tiên, nước không bao giờ cạn, người ta nói đó là do nước mắt của hai mẹ con khơi thành.

Trên dòng suối thỉnh thoảng có bóng một cặp ngỗng vùng vẫy, người ta cho là dòng dõi của cặp ngỗng mà khách mang đến biếu, sở dĩ chúng không hóa đá là vì chúng chưa phải là gia súc quen thuộc của chủ.

Còn ở tỉnh Phú-yên, trên núi Tịnh-sơn có một hòn đá tròn gọi là đá Con cờ, người ta cho đó là con tốt bằng ngọc trong áo khách văng ra.

Bên cạnh là một cây cổ thụ to hàng vầng, rễ mọc chi chít, nhưng rễ cây bao giờ cũng quắp chặt lấy đá, người ta nói đó là người bạn biến thành[1].

Còn thực hư mọi chuyện, theo lời kể của Hổ Vương, thì khác đi một chút.Quả trầm ở miền núi rất quý, mọc rất sâu trong rừng, rất cao trên núi, toàn những nơi hiểm trở khó đi, mà đi vào lại dễ lạc lối khó thấy lối về. Muốn tìm được nó, phải có võ lực rất cao, thường thì chỉ các đời Hổ Vương mới tìm nổi.

Trầm ngoại trừ là vị thuốc quý để luyện dược, nếu cho thai phụ vừa ngậm một miếng ngải, vừa uống nước trầm, thì có thể cứu một cái thai bị hư chưa lâu sống lại.

Phạm Ngọc Trần được sinh ra như vậy.

Thì ra, ngày trước Hổ Vương dẹp được các bộ lạc đối địch, thì vợ ở nhà có thai cô nàng Ngọc Trần. Nào ngờ mang thai bảy tháng có lẻ, thì tàn dư của những kẻ địch cũ phái cao thủ đến đánh lén. Hổ Vương tuy đánh chết được cả bọn, thế nhưng vợ lại động tới thai khí. Bắt mạch, biết khó giữ được cái thai, Hổ Vương mới mạo hiểm đi tìm trầm để cứu đứa trẻ chưa sinh.

May sao, tìm được trầm trở về, thì cái thai mới hỏng ngay tức thì. Hổ Vương lệnh cho người lấy nước trầm, đem ngải cho vợ ngậm, lại uống nước, thai khí mới hồi phục trở lại.

Tiếc là, truyền thuyết ngậm ngải tìm trầm kể thiếu một đoạn cuối.

Trầm có diệu dụng thần kì, chẳng khác nào cứu người chết sống lại, trái với ý trời, thế nên sản phụ nào mà có cái thai được cứu bằng trầm thì nghìn người chẳng thể sống nổi một, đều chết vì khó sinh.

Sau khi vợ mất, Hổ Vương điên người, mới cho đốt sạch hết toàn bộ sách vở về ngậm ngải tìm trầm, để người đời sau không còn ai phải chịu cảnh tự tay giết vợ như mình nữa. Những chuyện tản mạn trong dân gian cũng vì thế mà dần dà đổi thành người tìm trầm phải ngậm ngải, đi trong núi rừng tìm kiếm, song nếu ngải tan hết mà chưa thấy trầm thì sẽ hóa thành hổ. Còn những địa danh như đá mẹ con, cái cây ôm tảng đá…v.v… đều là các thần tích người đời sau pha thêm vào để tăng tính huyền ảo cho câu chuyện.

Hổ xám, ở vùng Lam Sơn Thanh Hóa được xưng là thần cọp xám, cũng gọi là ma cọp. Tương truyền là giống hổ ăn thịt đủ một trăm người thành tinh, vóc dáng to như con trâu, lại có hàng đàn ma trành đi theo hầu hạ trành người về cho. Thực chất, cả hổ xám trong truyện dân gian, cũng như hổ trành, đều là dân gian hình tượng hóa các đời Hổ Vương.

Phạm Ngọc Trần là con của trầm, thế nên bản thân cô nàng từ khi sinh ra đã có tử khí như người đã mất. Lớn lên, được Hổ Vương Đề Lãm chăm sóc nên mới bớt đi phần chết chóc, thêm được phần sinh cơ, tốn không ít tài vật mới có thể trở thành một thiếu nữ hoạt bát như bây giờ.

Song, điều ấy không thể thay đổi sự thật, cô nàng từng chết trong bụng mẹ một lần. Phù Đổng thánh mạch có khí dương cương rất nặng, nặng đến độ khiến người bị không thể có người nối dõi, anh hoa phát tiết ra ngoài mà tráng niên mất sớm. Người bình thường kết hợp với Phạm Ngọc Trần thì chẳng sau, nhưng nếu ấy là Đinh Lễ, thì sinh mạng của nàng sẽ giống như tuyết gặp ánh mặt trời, chỉ có kết cục là tan thành nước.

Lúc dò hỏi thiền sư Tuệ Tĩnh về cách giải Phù Đổng thánh mạch, chính miệng thiền sư đã nói như vậy với ông. Thiền sư đức cao trọng vọng, tâm địa bồ tát, thế nên ông sẽ không tùy tiện nói linh tinh, nhất là chuyện liên quan tới mạng người thì càng không có chuyện thiền sư nói hai thành một điên đảo thị phi.

Thế nên, Hổ Vương mới bất chấp tất thảy, mặc kệ ước nguyện của con gái cưng cũng phải ngăn bằng được chuyện hai người đến với nhau.

Chương 299: Hồi hai mươi sáu (5)

Bà Thương thở dài…

Bà cũng hiểu tại sao ông phải đi đường vòng chứ không thể nói thẳng cho con gái được. Lúc này cô nàng Phạm Ngọc Trần phải vào cái tuổi nửa cô nửa bà, sẽ nghe lời cha mẹ hay sao? Chẳng phải trước đây ít lâu, thì Lê Lợi con bà cũng y như thế, bà Thương không lựa lời dạy được mới phải bày vẽ ra cả một chuyện Hóa Châu dài dằng dặc đến thế hay sao?

Tuy nhiên, bà lại không tính tới rằng thằng quý tử nhà mình lại thực sự dẫn dân tạo phản, rốt cuộc chẳng ai còn sống cả.

Không biết có phải quả báo do ông trời trừng phạt không, mà bệnh hen của bà cũng vì thế mà ngày một nặng.

Hổ Vương nhìn bà ho khùng khục, thở dài lấy từ trong bọc ra một ít thuốc thang, nói:

“ Ở đây có ít đồ bổ, chị chú ý giữ gìn sức khỏe. ”

Ông chặc lưỡi một cái, lại tiếp;

“ Biết sức chị thế này, thì em đã vác luôn thằng Lợi về, coi như một công đôi việc. ”

“ Sao mà thế được? Thằng Lợi còn đang ở tiền tuyến đánh giặc, mà đang buổi nước lửa giằng co ác liệt. Nó mà quay về, tôi không nhìn mặt đâu! ”

Bà Thương nói xong, lại gập người ho.

Hổ Vương biết tính bà, bèn đổi qua chuyện khác:

“ Đứa học trò em gửi lại đây thế nào rồi chị nhỉ? ”

“ Thằng Lê Lai phải không? Mắt nhìn người của bác được đấy. Nó là người trung hậu, lại nhanh nhẹn tháo vát. Bây giờ chắc đang ở chỗ thằng Nguyễn Xí đấy. ”

Bà Thương chậm rãi.

Hai người lại nói mấy chuyện linh tinh, rồi Hổ Vương mới bảo:

“ Lợi hãy còn một người anh, tuy là cậu ấy chậm một chút, nhưng lúc này còn đang được một lúc yên ả thì chị cũng nên giao bớt việc cho cậu ta, để con được báo hiếu cho mẹ. Chứ chị lao lực thế này, em lo lắm. ”

Bà Thương bèn nói:

“ Lê Trừ không có lòng tham quyền thế, giao việc cho nó thì cũng yên tâm. Nhưng mình không sợ kẻ trên có hai lòng, chỉ sợ người dưới có dạ khác, lúc ấy Lam Sơn chia năm sẻ bảy, mỗi phe thờ một người, tự nhận làm chính thất thì đúng là chuyện tai hại. ”

Hổ Vương nghe thì nhíu mày, đoạn cũng cười:

“ Té ra không phải mình em thấy Hậu Trần không phải bậc chân mệnh thiên tử. Nay chị đã sắp xếp như vậy, cũng tức là cách làm của nhà đế vương, hẳn là đã định Lê Lợi là thái tử rồi đây. ”

Câu này ông dùng công phu truyền âm, tiếng nói chỉ như tiếng muỗi, đặng tránh tai vách mạch rừng.

Hổ Vương tuy không sợ, song Lam Sơn vẫn thuộc vào Đại Việt, vẫn phải chịu sự quản hạt của vua. Ngộ nhỡ những lời đại nghịch này bị truyền ra, thì thực không có chuyện gì tai hại hơn.

Bà Thương bèn cười, đoạn nói:

“ Bác Lãm đã đến thì hãy thư thư mấy ngày, tôi nay đau bệnh triền miên không tiếp lâu được, xin về nghỉ trước. ”

Hổ Vương dậy đỡ bà, thì thấy bà đã ghé tai ông nói nhỏ:

“ Chuyện bác nói chị cũng đã đoán được. Công bằng mà nói, Trùng Quang hay Giản Định nếu có nhân tài như Đặng Dung, Đặng Tất, Cảnh Dị, Cảnh Chân phù trợ thì làm vua thời bình không phải là chuyện không thể.

Tiếc là thời nay loạn lạc nhiễu nhương, mà hoàng đế nhà Đại Minh là kẻ đại trí, tâm cơ sâu không thấy đáy. Muốn đấu lại với hắn, một vua bình thường là không đủ, mà phải là bậc minh quân sáng suốt hơn người. Đáng buồn là cả Trùng Quang lẫn Giản Định đều chưa được, trăm họ còn phải lầm than thêm mấy năm. Chỉ tiếc cho bậc kì tài như cha con Đặng, Nguyễn Cảnh. ”

“ Thời loạn thờ nhầm chủ, như lấy bảo kiếm đi cày, đao báu đập sắt. Rốt cuộc cũng gãy đôi, dã tràng xe cát. ”

Hổ Vương cũng nói.

Lại nói đến Phạm Ngọc Trần.

Trước những lời lẽ gay gắt của Đinh Lễ, cô nàng tỏ ra chán nản, nhưng lại không muốn đi tìm cha, càng không muốn tới chỗ Nguyễn Xí tìm Lê Lai vì thể nào cũng chạm mặt Đinh Lễ. Cô nàng nghĩ mãi, rồi cũng đi tìm Ngọc Lữ tỉ tê chuyện trò.

Trịnh Ngọc Lữ thấy cô nàng tự nhiên lại đến tìm mình, đoán là giữa Ngọc Trần và Đinh Lễ lại có chuyện xảy ra. Thành thử cả buổi tối, cô cứ để Ngọc Trần kể chuyện mình, bản thân thì chăm chú lắng nghe. Thỉnh thoảng lắm Ngọc Lữ mới chêm vào hai ba câu để đưa chuyện.

Ngọc Trần uống cạn chén trà đặc, lại nhìn trăng, nói:“ Nãy giờ em kể phần em nhiều rồi, chị cũng nói phần chị đi. Sao mà chị với anh Lợi lại phải lòng nhau vậy? ”

Trịnh Ngọc Lữ hơi đỏ mặt, song cũng lần lượt thuật lại ngắn gọn chuyện hai người gặp nhau ở Khoái Châu ra sao, Lê Lợi uất ức kêu gọi dân phu lao dịch phản kháng thế nào, rồi thất bại thảm thiết đến mức nào…v.v…

Phạm Ngọc Trần nghe xong, kinh ngạc thốt lên:

“ Té ra còn có chuyện này. ”

Đoạn, cô nàng lại kéo áo Ngọc Lữ, nói:

“ Thế thì em lại thấy lạ. Khởi điểm của anh Lợi thấp như thế, Lam Sơn hào kiệt như mây, sao lại lọt vào mắt xanh của chị được? ”

Thì nàng bèn cười:

“ Phải rồi, lúc đó chàng quả thực rất tệ, văn võ đều không bằng người, hành sự lại nhanh nhảu không cân nhắc được mất. Thế nhưng, chàng làm được một chuyện người trong thiên hạ không ai làm nổi. ”

“ Chuyện gì? ”

Phạm Ngọc Trần không khỏi thấy tò mò.

Rốt cuộc là chuyện kinh thiên động địa cỡ nào mà khiến cho Trịnh Ngọc Lữ nói rằng trên cả thế gian không ai làm nổi?

Trịnh Ngọc Lữ không trả lời ngay, mà lại hỏi:

“ Thế cô Trần có biết lúc tôi vừa mới cứu chàng khỏi chết vì đòn roi sai dịch ở chỗ mỏ đá, chàng đã nói gì không? ”

“ Nói gì? ”

Ngọc Lữ bèn tiếp:

“ Lúc ấy những người dân lao dịch này cũng không tốt đẹp gì lắm. Ma cũ bắt nạt ma mới mà. Anh chàng bị đánh nhừ xương, lại bị dân đen tranh thủ lấy hết phần cơm, vừa đau vừa đói. Sau khi được chị chữa khỏi cho, anh chàng bực lắm, định bụng mặc kệ đám dân khổ sai ở đây. ”

Phạm Ngọc Trần nghe thế, không khỏi nghi ngờ mà hỏi:

“ Tự tư như thế thì có gì là khó, mà chị bảo cả thiên hạ này không ai làm được? ”

Trịnh Ngọc Lữ cười, đáp:
“ Để yên chị kể tiếp cho mà nghe. Lúc ấy chàng rủ chị đi trốn cùng, nói rằng có cao thủ đang làm việc ở gần đây, xong công chuyện sẽ đến đây giải cứu. Chị bèn hỏi: “ tại sao có bao nhiêu người ở đây mà chỉ chịu cứu mình tôi? ”. Thì chàng đáp rằng: “ Người ta kính tôi một thước, thì tôi kính lại một trượng. Cả một xóm này chỉ có chị tốt với tôi, tôi không nỡ nhìn chị ở lại đây chịu cảnh phu phen. Chốn này lại rồng rắn lẫn lộn, chỉ e ”. Chàng nói đến đây thì ngừng, không nói lời xui xẻo. ”

Phạm Ngọc Trần nhủ bụng:

[ Mình vẫn chẳng thấy có gì đặc biệt cả… Hay là đây là yêu ai yêu cả đường đi, ghét ai ghét cả tông ti họ hàng? ]

Nhưng lần này cô nàng không xen vào nữa, mà yên lặng ngồi chờ.

Trịnh Ngọc Lữ bèn nói tiếp:

“ Lúc ấy, chị bèn nói với chàng: “ Cậu chưa kính người khác tí nào, đã đòi người ta kính nể mình một thước, có phải buồn cười không? Nếu người ta cũng nghĩ như cậu, cậu kính người ta một thước, người ta kính lại một trượng… thì không phải người ta đối xử với cậu như vậy là chuyện hiển nhiên hay sao? ”.

Chàng nghe xong thì không nói gì, nhưng từ hôm đó trở đi, chàng ta cẩn thận theo dõi những người bị bắt làm phu dịch ở đấy, cũng thu liễm cái kiêu ngạo của cậu lớn Lam Sơn lại. Quả nhiên sau vài ngày, thái độ của mọi người với chàng cũng thay đổi, mà chàng cũng chậm rãi quyết định chuyện nổi lên làm loạn.

Một mặt thì chàng thuyết phục người dân, đánh thức tôn nghiêm của họ, mặt khác thì lại len lén đến sau làng, để kí hiệu lại cho cao thủ kia – cũng tức là Ngũ Thư. ”

Phạm Ngọc Trần nói:

“ Anh Lợi chuẩn bị sẵn đường lui cho mình phải không? ”

Ngọc Lữ bèn lắc đầu, cười đáp:

“ Ngược lại là khác. Chàng cố tình để lại một tin tức giả, là bản thân đã về Lam Sơn trước, Phạm Ngũ Thư không cần phải đến đón. Lúc chị phát hiện chuyện này, phải âm thầm báo lại cho y, bằng không giờ chị thành quả phụ rồi đấy. ”

“ Anh ta tự chặt đường lui của bản thân??? Thế thì càng ngốc, chứ ưu tú ở chỗ nào?? ”

Trịnh Ngọc Lữ lắc đầu, nói:

“ Ấy mới là điều đáng quý. Em thử nghĩ xem, những người lao dịch khổ sai đó với chàng không thân không thích, cũng chẳng ai có tài võ tài văn đủ sức cáng đáng chuyện gì lớn lao to tát cả. Nếu như xét lợi và hại, thì chàng có cứu họ cũng chẳng ích được cái gì. Chàng không cứu họ, thì cũng chẳng mất cái chi. Trước sau gì chàng cũng có Ngũ Thư đón về Lam Sơn an toàn. Đúng không? ”

“ Chuyện này… ”

Phạm Ngọc Trần tự hỏi lòng, nếu như bản thân ở vào tình thế như Lê Lợi, sẽ làm thế nào.

Câu trả lời là… nàng không biết.

Nàng không biết tại sao phải đặt bản thân vào vị thế của Lê Lợi.

Ngọc Lữ bèn nói tiếp:

“ Sở dĩ chàng tự cắt đứt đường lui, là bởi tự biết bản thân lúc ấy chưa đủ văn tài võ lực gánh vác trọng nhiệm. Nhưng… nếu như trong vô thức biết bản thân vẫn còn đường rút, thì liệu có hết lòng cầu thắng hay không? Lê Lợi làm vậy, là tự đặt bản thân vào thế “ không thắng không được ”… Bởi nếu chàng thất bại, thì những người đi theo đều sẽ chết. ”

“ Và anh ta thất bại thật? ”

Lúc hỏi câu này, ánh mắt Phạm Ngọc Trần hơi sáng lên, như thể có chút mong chờ.

Đáng tiếc, câu trả lời của Ngọc Lữ lại không giống như những gì cô đang muốn nghe.

“ Đúng vậy. ”

Nàng thở dài, đoạn nói:

“ Dựa vào một nhúm khổ sai, sao mà đánh lại quân Minh thiện chiến? Kết cục không nói cũng biết, để răn đe, bọn chúng kéo quân đến đàn áp, lùa hết nông phu nổi loạn ra đồng rồi cứ thế mà thảm sát. ”

Như thể nhớ lại cảnh đồng thây suối máu khi đó, Trịnh Ngọc Lữ khẽ rùng mình một cái.

Phạm Ngọc Trần cũng hít một hơi thật sâu, rồi hỏi:

“ Thế thì làm sao mà anh ta thoát thân được? ”

Chương 300: Hồi hai mươi sáu (6)

“ Lúc đó trên cánh đồng, có một vài người cố tình đánh ngất chàng, rồi tự sát, lấy thân xác đè lên che chắn. Quân Minh nghĩ đã giết hết cả bọn, bèn dùng thương dài chọc mấy cái vào đống xác rồi bỏ đi, chàng mới may mắn thoát chết. ”

Trịnh Ngọc Lữ thở ra, nói:

“ Cũng coi như là có thiện báo. ”

Phạm Ngọc Trần lúc này mới lay lay vai áo nàng mà hỏi:

“ Chị kể hết rồi, nhưng sao em vẫn chưa thấy anh chàng có gì hơn người cả. ”

Ngọc Lữ nén cười, đáp:

“ Trước đây thì chị cũng không hiểu lắm, chỉ biết là trong vô thức thấy chàng có điểm rất khác người. Bây giờ, sau khi hầu chuyện u một thời gian thì hiểu rồi. ”

Nàng cố tình ngưng một chốc để trêu chọc cô nàng Ngọc Trần, rồi mới tiếp:

“ Chàng hơn người ở chỗ, người khác kêu gọi quần hùng dấy binh tạo phản, tuy nhìn chung vẫn là vì việc khởi nghĩa đánh giặc quốc gia đại sự là trên hết, nhưng trong lòng khó tránh khỏi tính toán mấy phần lợi ích riêng tư, muốn sau khi công thành danh toại trở thành hoàng đế quân lâm thiên hạ. Chỉ riêng chàng ta thì lúc ấy hoàn toàn không có tính toán gì tới thiệt hơn được mất của bản thân, chỉ biết vì trăm họ mà tận hết tám chữ: “ cúc cung tận tụy, chết cũng cam lòng ”. Tuy văn tài võ lực còn hạn chế, nhưng cái tâm đã đặt đúng chỗ. ”

Ngọc Trần nghe đến chỗ này, đột nhiên thốt lên:

“ À!!! Thì ra bác Thương cho người đến Hóa châu bày trò, là để thử lòng anh Lợi sao? ”

Ngọc Lữ bèn đáp:

“ Đúng vậy. Nếu lúc ấy chàng không thể hiện được tâm đó, thì u sẽ bất chấp chuyện Trùng Quang đế có phải bậc chân long thiên tử hay không, để cả Lam Sơn đầu quân cho Hậu Trần, hết lòng dốc sức phụng sự đế Quý Khoáng. Khi ấy dù có mất cả cơ nghiệp tổ tông cũng sẽ quyết một phen sống chết với quân Minh, thà chết vinh còn hơn sống nhục. ”

Ngọc Trần nghe đến đây, cũng đã có thể nói tiếp vế sau hoàn chỉnh:

“ Nhưng anh Lợi lại có cái “ tâm ” đó mà bác tìm, nên bác mới quyết định sẽ tự lực cánh sinh? ”

“ Nơi này tai vách mạch rừng, hai cô nỡm lại oang oang bao nhiêu chuyện đại sự thế này, có ngày mất đầu như chơi đấy. ”

Lúc này đã có một người thứ ba xuất hiện.

Giọng nói trầm như tiếng hổ, ấm rực như lửa, ngoại trừ Hổ Vương Đề Lãm e trên đời không còn người thứ hai có cái giọng đặc trưng như thế. Lúc này Hổ Vương đang ngồi vắt vẻo trên một chạc cây, khoanh tay nhìn xuống chỗ hai cô nàng đang đứng, vừa cười nhếch mép vừa nói.

“ Hổ Vương đã đến đây thì cháu không làm phiền nữa ạ, cháu xin lui trước. ”

Trịnh Ngọc Lữ đứng dậy, thi lễ cẩn thận với Hổ Vương rồi nhanh nhẹn đi khỏi cho cha con hai người được ở riêng với nhau. Tuy lúc này cô nàng đã có thể coi là bà trẻ ở Lam Sơn, Hổ Vương thì là khách, nhưng xét cho cùng thì Hổ Vương là tri giao của ông Lê Khoáng, cụ thân sinh của chồng nàng, nên nàng vẫn giữ lễ con cháu trong nhà với ông.

Phạm Ngọc Trần thấy cha, trước tiên là cúi xuống, mân mê vạt áo.

Hổ Vương thì nhảy xuống khỏi chạc cây, thở dài, đến xóc cô nàng lên, cõng lên lưng. Phạm Ngọc Trần bị bất ngờ, hơi hoảng loạn, vội vàng lí nhí:

“ Cha! Bỏ con xuống đi. Con từng này tuổi rồi… người ngoài… ”

“ Người ngoài nào mặc kệ! Con là con gái cưng của cha, cho dù đến năm con ngũ tuần đại thọ sắp xuống lỗ cũng không thay đổi. ”

Hổ Vương nói, đoạn đứng dậy.

Ngày bé, Ngọc Trần không có mẹ dỗ dành, nên mỗi khi cô nàng khóc lóc ông thường hay cõng cô nàng như vậy nhong nhong chạy khắp đầu bản đến cuối bản. Tuy bây giờ cô nàng đã là thiếu nữ, nặng hơn ngày còn bé cả mấy chục lần, nhưng Hổ Vương đâu phải hạng yếu ớt gì, nên vẫn cõng cô nàng trên lưng nhẹ bẫng.

Phạm Ngọc Trần ôm cổ cha, vùi mặt vào tóc ông. Lúc này Hổ Vương đã thấy đầu mình mát lành lạnh, biết là con gái đã khóc. Nghĩ đến chuyện ông chia uyên rẽ thúy, Hổ Vương lại chạnh lòng.

Ông bèn nghẹn ngào:

“ Con gái lớn rồi, ngày xưa cha cõng con, con sẽ nín. Giờ đây cha cõng con, con lại khóc. ”Phạm Ngọc Trần thổn thức, lại nhìn lên mái đầu cha. Hổ Vương trước giờ vẫn sừng sững như tòa núi chống trời, cô nàng nhìn vào ông vừa yên tâm vừa sợ hãi, thế mà giờ đây đầu cũng đã hai màu tóc mất rồi.

Cô nàng bèn lí nhí:

“ Thì ra cha sớm đã nhìn ra chỗ xuất chúng của anh Lợi, nên mới đề cập ước hẹn cũ với bà Thương. ”

Hổ Vương lại thầm nghĩ, nếu như không phải ông phái người lần theo tung tích của Ngọc Trần đến tận bến Bô Cô, thì đã không phát hiện được mối nghiệt duyên giữa nàng và Đinh Lễ từ sớm để mà tìm cách ngăn chặn. Còn Lê Lợi hơn người thế nào, là chuyện sau này ông kiểm tra chàng trước cổng làng, lại nói chuyện với bà Thương mới biết.

Mà đề cập chuyện cưới xin cũng là để đem ván đóng thuyền cho sớm, tránh để tình cảm hai người thêm sâu đậm.

Nào ngờ lại sinh ra bao nhiêu là chuyện, Lê Lợi xin cả thánh chỉ về, mới buộc Hổ Vương ra hạ sách này.

Hổ Vương không nói những lời này với con gái, mà nói:

“ Con nỡm nhà cô, dám nghĩ cha cô là loại người cổ hủ đấy phỏng? Nếu thằng Lợi là kẻ không ra gì, chẳng cần đến con, cha là người đầu tiên xé bỏ ước hẹn cũ giữa hai nhà, mặc kệ anh Khoáng có đồng ý hay không. ”

Phạm Ngọc Trần bây giờ mới hiểu, đối với Hổ Vương, ước hẹn với người xưa tuy là quan trọng, nhưng vẫn không bằng hạnh phúc cả đời của con gái.

Hổ Vương trong lòng thấy bất nhẫn, bèn nói:

“ Ngọc Trần, mấy hôm trước cha nói chuyện với thằng Đinh Lễ rồi. Ý nó muốn giữ lại thánh mạch không chữa, lấy thần lực thánh mạch ban cho để đánh giặc giúp nước. Chí của y không đặt ở nhi nữ tình trường, lại sợ làm lỡ dở con, nên mới phải ra hạ sách đó. Con nếu đã có tình cảm với nó, thì cũng nên ủng hộ hoài bão của nó. ”

Nói ra được chuyện này, lòng ông tự nhiên thấy nhẹ nhõm hơn chút đỉnh. Tuy nguyên nhân sâu xa là do ngăn cản thánh mạch kết hợp với quả trầm, nhưng chuyện Đinh Lễ không muốn yên bề gia thất bây giờ cũng không phải là giả.

Phạm Ngọc Trần yên lặng một chốc, đoạn thở dài, rồi mới nói:

“ Chuyện này, thực ra con cũng đoán được một hai rồi. Nhưng sao anh ta không nói ngay từ lúc đấy, mà phải đóng màn kịch phũ phàng như vậy. Làm con tức muốn khóc lên được. ”

Hổ Vương đáp:

“ Cô làm như cậu ta không dùng cái giọng ấy, thì cô sẽ nghe đấy. Tôi đẻ ra cô tôi còn lạ gì, kiêu ngạo thành tính, thân lừa ưa nặng. ”

Phạm Ngọc Trần đang leo sau lưng ông, không thể nhìn biểu cảm trên mặt cha, nhưng nghe giọng thì cô nàng đoán chắc Hổ Vương vừa bĩu môi một cái dài cả dặm đường trước câu hỏi của cô. Nhưng khi Phạm Ngọc Trần nghĩ cẩn thận, thì quả thực lúc ấy nếu Đinh Lễ nói nhẹ, chắc cô nàng sẽ cố thuyết phục y bằng được. Mà cho dù có thất bại, thì cũng khó mà bình tĩnh tiếp nhận như bây giờ được.Vậy mới nói kì thực trên đời, có những chuyện không phải ai nói cũng được tiếp nhận giống hệt nhau. Cô nàng đảo mắt một cái, lại đổi giọng:

“ Cha này, hay bây giờ con đến chỗ Lê Lợi đánh trận, trước là có thể dùng thuật ngự thú giúp đỡ ít nhiều, sau cũng để từ từ quan sát xem anh ta là người ra sao. ”

“ Tiền tuyến là nơi giáo gươm va chạm, cung mác tung hoành, nghiêm hiểm trùng trùng như sóng, đâu phải chỗ cho trẻ con chơi? ”

Hổ Vương nghe vậy, lập tức rắn giọng từ chối.

Phạm Ngọc Trần bấy giờ mới giở chiêu làm nũng, dụi mặt vào tóc Hổ Vương mà yêu cầu:

“ Cha… đồng ý đi mà… cùng lắm cha cho chú bác nào trong bản theo sát bảo vệ con là được. ”

Hổ Vương thở dài:

“ Cái giọng này tức là nếu cha cô không đồng ý, thì cô lại tự ý chạy đến chỗ quân Trần có đúng không? Ài… con mới chả cái, từng này tuổi đầu rồi mà tôi còn phải đau đầu nhức óc lên vì cô mấy phen. ”

Thấy Hổ Vương không phản đối nữa, Phạm Ngọc Trần mới khấp khởi mừng thầm.

Đêm hôm ấy, Hổ Vương không nghỉ ngơi mà cưỡi hổ chạy đến chỗ trại chó của Nguyễn Xí, tìm một gian nhà còn sáng đèn mà vào.

Vừa đẩy cửa, thì Đinh Lễ đã đặt quyển binh thư trên tay xuống bàn, vái chào ông một cái.

Hổ Vương bèn phất tay, lại nói:

“ Chuyện hôm nay đúng là làm khó cậu. ”

“ Không có gì đâu Hổ Vương, Ngọc Trần dù sao cũng là bạn cháu, sao cháu đành lòng để cô ấy mất mạng vì cháu được? ”

Đinh Lễ cười, kéo ghế để Hổ Vương ngồi, lại đi rót nước mời ông.

Có tiếng y vọng từ buồng trong ra:

“ Thực lòng mà nói, nếu không làm theo kế của Hổ Vương, lấy cá tính kiêu ngạo ương ngạnh của Ngọc Trần chắc gì đã chịu nghe cháu giải thích. Hà huống chi, chuyện ngọc nát hương bay sau khi cháu và cô ấy kết hợp thực quá hoang đường. Nếu không phải Hổ Vương là người thẳng tính, lại có cả lời của thiền sư Tuệ Tĩnh thì ngay cả cháu chưa chắc đã tin nổi. ”

Hổ Vương nói:

“ Dù có thế nào đi chăng nữa, thì chuyện ta thiếu cậu một cái ân là có thật. Thế nên, vật này coi như là lễ tạ. ”

Đinh Lễ chưa kịp nói lời chối từ thì Hổ Vương đã mất bóng. Trong căn phòng leo lét ánh đèn chỉ còn chén nước ông chưa từng đụng môi, và một hai trang sách vàng vọt cũ kỹ trên bàn.

Tờ thứ nhất ghi mấy chữ;

“ Thần công này tuyệt đối không thể truyền cho bất cứ ai khác, học nằm lòng rồi thì mau đốt nó đi. Sau này nếu có người hỏi, thì tuyệt đối không thể khai ra tên của môn thần công này, bằng không cho dù cậu chạy tới chân trời góc bể, ta cũng tìm giết bằng được. ”

Đinh Lễ thầm nghĩ:

[ Rốt cuộc là thứ thần công gì mà Hổ Vương lại đặt điều kiện nghiêm cẩn hà khác đến thế? ]

Đầu nghĩ, thì tay đã giở đến tờ thứ hai.

Bốn chữ đầu tiên đập vào mắt Đinh Lễ chính là “ Phiên Thiên Chân Ngôn ”.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau