THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 291 - Chương 295

Chương 291: Hồi hai mươi lăm (16)

Trần Thu Nguyệt cũng chẳng thèm để mắt thái độ của vua Trùng Quang. Cô nàng bỏ qua ba tướng, hướng về phía Hoàng Thiên Hóa mà nói:

“ Nhận được nhờ cậy của đảo chủ, ta đã gọi anh em đến cả rồi. ”

“ Kình Nương nể mặt như thế, Hoàng mỗ xin cám ơn trước. ”

Trần Thu Nguyệt gạt tay, nói:

“ Chút chuyện này đã là gì? Sau này còn phải nhờ cậy đảo chủ nhiều. ”

Nguyễn Cảnh Dị và Nguyễn Súy thấy người đàn bà này chẳng thèm để mình vào mắt, ngay cả chút lễ khách sáo cũng chẳng buồn làm, thực là không coi ai ra gì.

Duy chỉ có Đặng Dung là có chút kiến thức giang hồ võ lâm, hiểu được tại sao Trần Thu Nguyệt lại có thái độ như vậy, bèn ra hiệu cho hai tướng còn lại bình tĩnh.

Trần Thu Nguyệt này hiệu xưng là Đông Hải Kình Nương, trong đám cướp biển cực kì có tiếng nói.

Trong võ lâm Đại Việt bây giờ, ba thế lực Quần Hào, Lục Lâm, Ẩn Thế được chia theo ba tấm thánh lệnh của thiền sư Tuệ Tĩnh tuyệt nhiên không phải phe phái duy nhất. Hổ Vương có thể tính là một thế lực trung lập…

Hải tặc cũng thế.

Những kẻ cướp biển lấy biển khơi làm lãnh địa, thuyền chiến làm bản doanh, quanh năm suốt tháng rong ruổi trên đầu sóng chẳng có chỗ nào cố định. Lại nói, đám đầu lĩnh hải tặc lại càng chẳng phải thiện nam tín nữ gì, trên cái đầu treo lủng lẳng một cái án chém đầu thị chúng, chỉ cần đặt một ngón chân lên quê cũ là đầu một nơi thân một nẻo tức thì. Những người như vậy, có quê mà không thể về, thì còn nói gì tới quốc tịch nữa? Thành thử, đã làm hải tặc, là không còn thuộc vào một quốc gia nào cả, có muốn xếp họ vào một thế lực trong võ lâm thì cũng là chuyện không tưởng.

Nhưng tiền cướp được, cũng phải có chỗ để tiêu xài, ăn chơi hưởng lạc. Bằng không thì còn đi cướp làm cái gì nữa, ở nhà cày ruộng cho rồi. Thành ra đám hải tặc trong vùng lấy đảo Bạch Long Vĩ làm chốn thế ngoại đào nguyên, cho người lên khai khẩn đất hoang, dựng nhà lập trại, chăn dê thả bò, trồng lúa ủ rượu. Của phi nghĩa trong thiên hạ thì có bao giờ là ít, thành thử bẵng đi một thời gian, quả thực đã biến đảo Bạch Long Vĩ thành một chốn xa hoa đô hội.

Mà nguyên do Hoàng Thiên Hóa trở thành đảo chủ đảo Bạch Long Vĩ cũng thật là li kì…

Trước lại kể sau khi bị trục xuất, Hoàng Thiên Hóa chán nản uống say bí tỉ, trời xui đất khiến thế nào lại ngủ đứ đừ trong khoang thuyền của một bọn hải tặc đang vào bờ mua vật tư chở ra Bạch Long Vĩ. Thế là vừa tỉnh dậy, y đã thấy mình ở trên đảo. Đám hải tặc thấy có người “ đi lậu ” thì tri hô inh ỏi cả lên. Hoàng Thiên Hóa tuy có chân truyền của Hỏa Công, nhưng lúc này ngạo khí nổi lên, thế là tự phế sạch võ công, đám hải tặc lúc này cần người bèn cho y làm lao dịch trên đảo.

Y chăn dê nửa năm, thì được truyền nhân phái Dược Tiên bí ẩn truyền cho y kinh.

Hoàng Thiên Hóa nghe ngóng được chuyện sư phụ mất tích, chỉ một lòng muốn phục thù, nhưng ai dè lại được quyển y kinh dùng để tế thế cứu người. Y bèn nảy ra cách làm thầy thuốc chữa thương cho bọn hải tặc, vừa nghiên cứu y kinh, vừa lấy tiền tài của chúng mua giống thuốc về trồng trọt nghiên cứu. Đám cướp đánh giết ngày đêm, trên biển lại lắm rủi ro, chuyện bị thương thật khó tránh, thấy y biết chữa bệnh thì mừng rơn. Chỉ cần là chuyện liên quan đến chữa thương, thì đều đáp ứng cả.

Từ ấy Hoàng Thiên Hóa một ngày chữa cho cả trăm tên cướp, lại vừa nghiên cứu y kinh và các giống cây thuốc. Y kinh quả nhiên là quyển sách thần hiếm có trên đời, chẳng những có cách trị trăm bệnh nghìn độc, lại lí giải rất sâu về kinh lạc huyệt đạo. Hoàng Thiên Hóa thiên tư hơn người, qua nửa năm đã dung hội quán thông được y kinh, lại dựa vào việc quan sát các loài sinh vật biển mà bọn cướp biển chỉ cho tự luyện lại võ công như trước. Đến ngày y nắm được y kinh, hiểu được y độc đồng nguyên – dùng thuốc hạ độc, cũng là cái ngày toàn bộ đảo Bạch Long Vĩ chao đảo.

Đám hải tặc dựa vào phương thuốc của y, tự bốc thuốc bổ sắc lên uống hòng nâng cao công lực, nào ngờ lăn ra trúng độc cả đám. Hoàng Thiên Hóa lúc này tuy võ công đã đủ để thanh trừ môn hộ, nhưng muốn tìm được tung tích ân sư thì cần có thế lực, nên bắt cả bọn phải thần phục mới chịu đưa thuốc giải.

Đám cướp biển lúc đầu cũng chỉ gật đầu lấy được, độc vừa được giải là nhảy vào quyết ăn thua đủ với Hoàng Thiên Hóa. Nào ngờ võ công của y bây giờ đã vượt xa ngày trước, dễ dàng đánh lui cả bọn, lại lựa lời nói mát, mới được tôn làm đảo chủ đảo Bạch Long Vĩ.Mà Đông Hải Kình Nương cũng là một trong những kẻ bị đánh bại hồi ấy.

Hoàng Thiên Hóa bèn tiếp:

“ Chuyện đang cấp bách, Kình Nương chịu khó phối hợp với người này. Nếu quân ta thắng trận, ắt không quên công của các vị. ”

Nói đoạn ra dấu cho một kẻ đi ra từ mé tả điện rồng.

Kẻ nọ là một tên đầu trọc lốc, mặt mày nanh ác, sau lưng xăm hình ác long, eo đeo một cái búa và một cái dùi đen thui, ngoại trừ Hồng Giang Giao Long Phạm Hách thì còn ai vào đây nữa?

Té ra thuở trước chuyện y bị thằng nhóc con đánh bại truyền ra ngoài. Tuy vẫn biết ấy là đệ tử của Quận Gió, nhưng lúc ấy Tạng Cẩu mới tám tuổi đầu, thành thử oai danh cũng như địa vị của Phạm Hách cơ hồ mất sạch, y lại càng cố mà bám vào sơn trang Bách Điểu. Đồng thời, cũng không ngừng luyện võ, hòng rửa cái nhục ngày trước.

Đến gần đây chuyện Phan Chiến Thắng là Chế Bồng Nga giả dạng bị Hổ Vương lật tẩy, sơn trang Bách Điểu cáo lỗi với võ lâm, tự chặt đứt hết vây cánh mà Chế Bồng Nga tạo nên trong từng ấy năm, Phạm Hách mới thảm càng thêm thảm.

Cơ hồ chỉ trong một tháng, Thập Bát Liên Trại từng nức tiếng sông Hồng một thời tan rã…

Phạm Hách giữ được mấy thuộc hạ thân tín, lâm vào cảnh cùng quẫn phải đi làm cướp vặt trên núi. Độ vài ngày trước không ngờ có người đánh tiếng là đảo chủ đảo Bạch Long cần tìm, y mới dẫn thuộc hạ lặn lội ngày đêm đến quân doanh Hậu Trần mong kiếm được chốn dung thân.

Đặng Dung hơi cựa mình trên ghế, đoạn nói:

“ Chuyện sắp tới thành bại ra sao phải trông chờ vào hai vị rồi. ”Nói chuyện năm ngoái, hữu quân đô đốc đồng trị là Hàn Quan được lệnh Chu Đệ đem một vạn hộc lương thảo từ Quảng Đông sang tiếp tế cho quân Minh, đoạn ở lại đấy trấn giữ luôn.

Cuối năm gần Tết, y đang ở Đông Quan thì nhận được thư của Trương Phụ, đại ý rằng: “ Quân Hậu Trần trước là mấy lần đánh ra Bắc không thành, sau lại có thánh chỉ của Vĩnh Lạc cấm dân từ Diễn châu trở vào nam trồng trọt, nay đã bị dồn vào ngõ cụt, chẳng mấy mà cạn lương thảo. Không đánh đường bộ ra bắc được, thể nào bọn chúng cũng dùng đường biển từ Hóa châu đánh dọc theo bờ biển để cướp lương thảo nuôi quân. Nay nhờ tướng quân lên trấn thủ Vân Đồn, không cho chúng có cơ hội trở mình. ”

Lão Hàn Quan đọc lại thư một lần nữa xong, bèn cười:

“ Trương hầu gia tâm tư cẩn mật, hèn chi lại được bệ hạ trọng dụng như thế. ”

Nói đoạn, lão lại trầm ngâm:

“ Nhưng không biết lần này hầu gia có cẩn thận thái quá hay không. Một đám giang hồ thảo mãng mà thôi, có thể gây ra được bao nhiêu sóng gió cơ chứ? ”

Từ trước đến nay, đơn đả độc đấu thì quân đội không bằng nhân sĩ võ lâm, nhưng đánh trận thì hào khách giang hồ tuyệt đối thua xa binh lính triều đình. Ấy vốn là thường thức, người làm tướng nào cũng biết. Thế nên triều đình mới để mặc nhân sĩ giang hồ kéo bè kéo phái, ít khi quản đến.

Nay Trương Phụ khi không lại bảo lão cẩn thận với võ lâm nước Nam, Hàn Quan tuy là nể Trương Phụ, nhưng cũng chưa tin lắm.

Nguyên văn trong thư Trương Phụ nói rằng:

“ Đám thảo mãng An Nam ngày trước giúp ta đánh Đại Ngu, mục đích muốn khôi phục lại triều Trần. Thế nhưng con vịt đã lên đến đĩa há có thể để cho bay mất? Bọn chúng đối với việc này vẫn lấy làm căm tức, nhưng châu phủ phía bắc đều dưới quyền của thiên tử, kỷ luật nghiêm minh, tuần hành gay gắt, bọn chúng có lòng mà không có chỗ phát tác. Khó mà tránh được chuyện bọn Đặng Dung Quý Khoáng không ngấm ngầm liên lạc với chúng, Hàn tướng quân phải hết sức cẩn thận. ”

Hàn Quan bấy giờ nhìn ra cửa bể Vân Đồn, thấp thoáng ngoài khơi là tàu lớn tàu nhỏ neo đầy ở các cầu cảng, buồm lên lớp lớp như rừng, quả thực không hổ là thương cảng lâu đời nhất Đại Việt.

Tương truyền cái tên Vân Đồn bắt nguồn từ núi Vân, tức núi có mây phủ. Vốn là nơi trọng yếu, nên từ thời tiền Lê đã cho quân đội trấn giữ ở chốn này, để là đồn Vân. Đến thời vua Lí Anh Tông thì chính thức lập trang Vân Đồn, cũng biến chốn này thành thương cảng đầu tiên của nước Đại Việt.

Bấy giờ phương bắc có Nông Văn Lịch, Nguyễn Liễu, thổ hào nổi lên cướp phá khắp nơi, hay có chuyện cướp bóc lương thảo quân nhu. Thành thử Chu Đệ thường phái người dùng đường biển tải lương thực khí giới quân nhu từ Quảng Đông sang, qua Vân Đồn vào nước Nam. Thế nên thương cảng này là nơi trọng địa của quân Minh, thường xuyên có trọng binh đồn trú bảo vệ.

Trong tay Hàn Quan nắm cả vạn quân, mấy trăm tàu chiến lớn nhỏ, thử hỏi đám giang hồ thảo mãng kia làm gì được?

“ Dù các ngươi có ba đầu sáu tay đi chăng nữa cũng chẳng là cái gì. ”

Lão tự tin vào trọng binh, lại càng tự tin vào tài cầm binh của bản thân.

Không phải lão chưa đọc chiến báo của Trương – Mộc từ thời đánh Đại Ngu, cũng không phải lão không biết khả năng thế lực võ lâm liên hợp với quân triều đình tồn tại. Thế nhưng, ngay cả khi thêm một đám người giang hồ, thì lão cũng chẳng thèm để đội quân thiếu lương của Trùng Quang đế vào mắt. Hàn Quan chưa từng đặt hai bên lên bàn cân, bởi lão tin song phương căn bản không cùng một tầng thứ. Song, để cho chắc ăn thì lão thỉnh thoảng vẫn cử sĩ tốt chèo thuyền nhẹ ra tuần tra.

Chương 292: Hồi hai mươi lăm (17)

Lại phải nói vùng Vân Đồn này có sáu trăm đảo đá lớn nhỏ, mà số đảo có người ở lại chỉ vỏn vẹn có hai mươi. Thành ra chốn này chẳng những đường nước lắt léo như trận đồ, cực kì dễ lạc phương hướng, lại đất rộng người thưa, muốn dọ thám được hết cũng không phải chuyện một sớm một chiều.

Hàn Quan không phải kẻ ngốc, lão biết quân Trần ra bắc lần này là để cướp lương, nên nếu có tấn công thì cũng đánh vào những đảo lớn. Lượng lương thực bọn họ tải được theo thuyền lại có hạn, thế nên có muốn lởn vởn trong các quần đảo đá chờ thời cơ đánh lén cũng chẳng được.

Thế nên lão có thể đủng đỉnh thư thả. Người cần gấp là vua tôi Trần Quý Khoáng.

Lại qua một hai ngày, rốt cục cũng có một đoàn dọ thám trở lại.

Theo quân tình những người này nghe ngóng được, thì ngoài khơi đảo Cát Bà, Long Châu có bóng cờ quân Trần.

Hàn Quan hay tin, vuốt râu cười nhạt. Lão không lãng phí thời gian, mặc khôi giáp, đeo ấn kiếm, dẫn quân tinh nhuệ lên thuyền, tổng cộng lên hơn năm mươi chiếc kéo về phía Nam chuẩn bị tùy thời chặn đánh quân Trần.

Từ cửa Vân Đồn, xuôi Nam vào vịnh Bái Tử Long, chèo thuyền dọc theo bờ biển độ mấy ngày thì sẽ đến đảo Cát Bà. Từ đó về hướng đông là đảo Long Châu.

Nói về đảo Cát Bà, tương truyền rằng cái tên này đã có từ thời xa xưa, từ thời Hùng Vương. Vốn đảo tên là Các Bà, nhằm vinh danh Các Bà là hậu phương của Các Ông theo Thánh Gióng ra trận phá giặc Ân, lâu dần bị đọc trệch thành Cát Bà. Đến nay trên đảo vẫn còn đền thờ Các Bà, tuy đang buổi chiến hỏa liên miên, nhưng khói nhang không dứt.

Muốn đến Cát Bà, phải qua vịnh Bái Tử Long cũng nhiều đảo đá lớn nhỏ, tương truyền là châu ngọc năm xưa đàn rồng phun ra đánh đuổi ngoại xâm. Nơi rồng mẹ hạ xuống là Hạ Long, còn nơi các con rồng con hạ xuống là Bái Tử Long này vậy.

Đội thuyền chiến của Hàn Quan lướt biển mà đi, khí thế hùng hổ thật là dọa người. Tuy là các đảo đá san sát, ngang dọc như trận đồ, nhưng đã có mấy tên chài lưới địa phương vốn thông thạo đường đi lối lại chèo thuyền nhẹ đi trước dẫn đường, nên đại binh của lão cứ băng băng rẽ sóng. Đội thuyền của Hàn Quan cứ thế đi qua hai vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, một đường bằng phẳng chẳng gặp chút khó dễ nào. Điều này không khỏi làm lão sinh nghi.

Hai vùng vịnh này nổi tiếng là địa thế hung hiểm, dòng nước biển biến hóa khôn lường, lại nhiều đảo đá, động đá, đá ngầm…v.v… Nếu nói đâu là nơi thích hợp nhất để đặt quân mai phục, thì chỗ này có thể nói là hạng nhất.

Hàn Quan sẽ không khinh địch tới mức cho rằng Đặng Dung không hiểu đạo cầm quân đánh trận.

Thế nên lão mới lấy làm bứt rứt trong lòng, cứ cảm thấy chuyện này có gì quái quái mà không sao cắt nghĩa được.

Nhưng ngờ vực hay không thì đoàn thuyền chiến của lão cũng đã cập bến đảo Ngọc, hay đảo Cát Bà.

Lúc này tổng binh trấn giữ trên đảo Cát Bà vội vàng đến tận cảng biển, gióng trống mở cờ đón hữu quân đô đốc. Hàn Quan thấy cờ xí rợp trời toàn là cờ phe mình, lại càng thấy khó hiểu.

[ Lẽ nào quân Trần lại yếu đến thế, không thể đánh nổi hơn ngàn quân đóng trên đảo hay sao? ]

Thuyền cập bến…

Lúc này Hàn Quan mới để ý là có mấy chiếc thuyền là đang neo buộc ở cảng phía đông, bèn hỏi tổng binh trên đảo:

“ Tàu này là của ai? Quân giặc đánh dữ dội không, bị thương bao nhiêu người? ”

Bấy giờ tay tổng binh mới nói:

“ Đúng là tì chức đã báo với thám quân là có cờ của giặc, nhưng hôm sau thì mới biết là hiểu nhầm. Tì chức cũng đã cho người chèo thuyền nhẹ cố gắng đuổi theo thám quân, tiếc là không kịp, khiến cho đô đốc tới đây không công thế này thật là đáng tội chết. ”

“ Ý ngươi là sao??? Lẽ nào ngươi không biết báo sai quân tình là tội chết? ”
Hàn Quan quắc mắt, râu cằm trợn ngược cả lên.

Tay tổng binh giữ đảo Ngọc toát cả mồ hôi hột, nuốt nước bọt đánh ực một cái mới có đủ can đảm để nói tiếp:

“ Bẩm báo đô đốc, xin hạ cố đến tệ xá, sẽ có người giải thích tường tận ạ. ”

Hàn Quan hừ một tiếng, nhưng cũng đi theo tay tổng binh này về phủ đệ.

Dọc đường, lão đảo mắt quan sát tứ phía theo thói quen của một người làm tướng đánh trận. Chỉ thấy đường ngang ngõ dọc vẫn có lính Minh tuần tiễu đều đều, hàng quán vẫn buôn bán bình thường. Lề xá sạch sẽ, chẳng có dấu vết gì là vừa trải qua một trận chiến cả.

Đi độ uống hết chung trà thì về đến phủ của tay tổng binh, Hàn Quan được y dẫn vào một gian thư phòng trang nhã. Bấy giờ ở ghế khác mé tay phải đã có một người đàn bà ngồi sẵn, hai thanh loan đao đặt trên bàn.

Hàn Quan tự nhiên nhận ra thân phận người này, không khỏi kinh ngạc:

“ Là Đông Hải Kình Nương? Khi không cô đến đây làm gì? ”

Lão làm tướng, lại phụ trách chuyện tải lương thảo quân lương từ Lưỡng Quảng sang đất nam, dọc đường tự nhiên không thể tránh khỏi chuyện giao thiệp với hải tặc.

Hải tặc là thế lực chẳng thuộc riêng một nước nào, tự thành một phe, thành thử đối với nhiều tên chẳng còn kể gì đến dân tộc với yêu nước. Hàn Quan bỏ món tiền lớn ra nhờ, trước là để Đông Hải Kình Nương cho thuyền lương đi qua, sau là cũng theo đó thuê mấy tay thông thạo đường nước từ chỗ ả đến làm hoa tiêu cho lão.

Kì thực Hàn Quan nắm trọng binh, Đông Hải Kình Nương có gọi thêm mấy băng hải tặc khét tiếng nữa cũng chưa chắc đã dám đến vuốt râu hùm. Thế nhưng lão tướng này biết nhiều lúc lui một bước trời yên biển lặng, tuy là chẳng sợ đánh, nhưng bỏ tiền ra mua đường cũng coi như bán cho đối phương một cái ân tình, nể mặt người ta. Về sau nếu có làm ăn nhờ vả gì thì cũng dễ. Chứ nếu như ngang tàng chẳng để ai vào mắt, thì muốn nắm được địa thế các đảo đá, hải cảng, đảo nọ đảo kia ở chốn Vân Đồn này cũng không dễ gì.

Lão biết người phụ nữ này hoành hành một vùng biển lớn, trước đây hay làm ăn với quân Minh đóng trú ở các tỉnh phía Nam Đại Minh, sau quân Minh chiếm đóng Đại Việt thì ả cũng thuận tiện mở rộng địa bàn luôn, có thể nói là quan hệ hai bên cùng có lợi.

“ Còn không phải đến thỉnh tội với đại nhân hay sao? ”Trần Thu Nguyệt đáp, đoạn đứng lên xá lão một cái.

“ Tiểu nữ hôm trước do nể mặt người ta, có thu nhận mấy người vào băng. Những tên này đều là cựu binh của giặc Trần, vì không chịu nổi cảnh ăn đói mặc rách nên đào ngũ. Thương tình bọn chúng không chốn dung thân, tiểu nữ mới sắp xếp cho làm bảo tiêu đám “ hoa thuyền ”. Ai dè mấy tên này cả gan treo cờ giặc Trần trên thuyền, khiến tổng binh đây hiểu lầm, mới báo sai quân tình cho ngài. Lúc tiểu nữ hay tin tức tưởng điên cả tiết, vội vàng đi thuyền nhẹ đến đây, chém chết mấy tên kia, rồi ở lại thỉnh tội với ngài. Cứ tưởng ngài từ Vân Đồn xuống đây phải nhanh hơn tiểu nữ một bước, may sao trời phật phù hộ lại để tiểu nữ đến trước đô đốc, bằng không thì thật là khó ăn nói. ”

Hàn Quan nghe hai chữ “ hoa thuyền ”, không hiểu chuyện gì, bèn hỏi lại:

“ Kình Nương chẳng những làm nghề buôn không vốn, còn làm bà mối kết duyên nữa hay sao? ”

Đông Hải Kình Nương nghe lão nói, ngẩn ra một chốc, đoạn bụm miệng nén cười:

“ Hàn đô đốc thực là người quân tử. Nhưng tiểu nữ là người làm ăn, cái chuyện làm mai này kiếm bao lâu cho phát tài? Thực ra… ”

Té ra “ hoa thuyền ” trong lời ả là thuyền chuyên chở gái bán hoa từ Đại Minh sang phục vụ cho quân Minh.

Đại Việt là nơi văn hóa xóm làng phát triển, gái bán hoa có muốn hành nghề cũng khó, thế nên nhìn khắp cõi trời Nam cũng chẳng có lấy một chốn kỹ viện lầu xanh nào cả. Có chăng cũng chỉ có cách giả làm phường con hát, ả đào, lang bạc tứ xứ mà thôi.

Binh lính đều đương tuổi tráng niên, tự nhiên có nhu cầu chuyện ấy. Nạn dân thường là hay bị nhũng nhiễu, nhưng thường là không tình nguyện, nếu không phải kháng dữ dội thì cũng là phó mặc cho qua. Tuy thỏa mãn được thú tính bệnh hoạn của một số tên, song nhìn chung cũng không thể bằng gái bán hoa ỏn ẻn lãng mạn, biết chiều chuộng vỗ về. Lại nói con gái nhà lành, sao có thể rành chuyện gối chăn hầu hạ như phường danh kỹ cho được?

Thế nên Đông Hải Kình Nương mới lập một đội thuyền chuyên chở các cô này sang nước Nam, phục vụ nhu cầu của lính tráng. Nhưng lấy tên là “ thanh thuyền ” thì quá là khó nghe, bởi thế mới gọi là “ hoa thuyền ” cho êm tai, chứ không phải loại thuyền khuê tú của các tiểu thư đài các.

Hàn Quan nghe xong, không khỏi ho khan mấy tiếng.

“ Nếu như Kình Nương đã nói thì lão phu cũng tin theo. Song quân kỷ phải giữ nghiêm, không thể có ngoại lệ. Binh bất yếm trá, chuyện này đã có liên can tới giặc Trần thì không thể coi nhẹ. Thế nên xin Kình Nương hợp tác để thuộc hạ của lão phu xét thuyền một chuyến. ”

“ Mọi chuyện xin nghe theo đô đốc. ”

Đông Hải Kình Nương nhoẻn cười, đoạn cắp hai thanh loan đao, nhẹ nhàng đi ra cửa.

Bấy giờ Hàn Quan mới trách tên tổng binh:

“ Nhà ngươi đúng ra phải khám thuyền của ả luôn, sao lại để đến bây giờ? ”

“ Dạ dạ, là lỗi của hạ quan. ”

Tay tổng binh giữ đảo dạ rối rít, lão tướng Hàn Quan cũng bỏ qua, nào biết trong lòng y đang nghĩ:

[ Hừ, ả là khách hàng lớn, làm phật lòng ả thì bản quan chẳng phải mất một món lời lớn hay sao? Những chuyện thế này cứ đẩy lên trên để thượng cấp như Hàn đại nhân ngài định đoạt là được. ]

Té ra tên này thường hay ăn chặn, ngấm ngầm bán đao kiếm cho băng cướp của Đông Hải Kình Nương. Thậm chí Thần Cơ sang pháo sau mấy lần trung gian cũng đã được tuồn sang cho ả hơn chục khẩu. Tay tổng binh bán quân nhu kiếm một vố cả vạn lượng bạc, không bỏ ra lấy một đồng vốn, so với Đông Hải Kình Nương thì càng giống phường đầu trộm đuôi cướp hơn.

Chương 293: Hồi hai mươi lăm (18)

Hàn Quan thấy là thuyền của cướp biển, nghĩ những người này chẳng tội gì đi giúp quân Trần, mà nếu là người của Kình Nương thì tự nhiên cũng lí giải được chuyện đoàn thuyền qua vịnh Bái Tử Long mà không gặp mai phục, nên có phần thả lỏng hơn. Lúc đám bộ hạ khám thuyền mấy lần không thấy gì, lão cũng ưng thuận để Kình Nương đi khỏi.

Tổng binh nọ còn cố tình giữ lão ở lại mấy ngày nữa, tranh thủ thời cơ mà nịnh nọt hết mực. Lão Hàn Quan nghĩ lúc này đã làm rõ được thực hư, cũng nể mặt ở lại ít lâu rồi hẵng dẫn đại binh về Vân Đồn.

Nào ngờ…

Lão đi khỏi một ngày, thì bỗng nhiên từ mấy đảo đá có một đoàn thuyền cỡ trung chậm rãi rẽ sóng về phía cảng Vân Đồn.

Phó tướng của Hàn Quan ở Vân Đồn hay tin, biết thuyền không treo cờ Hậu Trần, bèn hạ lệnh cho binh sĩ chớ bắn pháo vội, mà ra ngoài cảng xem xét tình hình.

Đoàn thuyền thả neo ở lưng chừng biển, cách cảng độ hai hải lí thì dừng lại. Đoạn có một đoàn hơn năm chục người chèo thuyền con vào hải cảng. Kẻ dẫn đầu là một tay lão nhân râu hổ mắt báo, vóc người cường tráng, hai tay đeo một đôi vuốt hổ bằng sắt nặng đến hơn mười cân. Phó tướng giữ Vân Đồn trông thấy y, tỏ vẻ ngờ vực, cất tiếng hỏi:

“ Xin hỏi các hạ có phải Sa lão tiền bối không? ”

“ Không sai! Chính là ta! ”

Lão họ Sa ôm bụng cười vang.

Phó tướng nọ thấy vậy, bèn nghĩ thầm:

[ Lão này có danh là Hải Thượng Hung Lang, trước nay vốn đối chọi gay gắt với Đông Hải Kình Nương. Lần này tại sao lại xuất hiện trong địa bàn của ả? ]

Hải Thượng Hung Lang nói:

“ Lần này lão hủ đến đây là để bàn chuyện làm ăn với các ngài. Thế nào?? Có thể cho thuyền của ta cập bến trước rồi nói tiếp được chứ? ”

Phó tướng nọ bèn nói:

“ Đương nhiên là được. ”

Y lại thầm nghĩ:

[ Đối phương vốn là hải tặc, quen đánh trên thuyền, thạo hải chiến, đánh bộ tự nhiên không quá đáng sợ. Hà huống cướp biển dù có hung danh cỡ nào thì cũng chỉ là cướp cạn, so với đám giang hồ thảo mãng càng không có quy củ phép tắc, làm sao đánh lại được quân triều đình của mình? ]

Phó tướng nọ thấy lão họ Sa chủ động đề nghị cho băng của lão cập bến.

Đơn giản bởi y nghĩ rằng băng cướp của Hải Thượng Hung Lang chẳng thể nào uy hiếp nổi mình.

Đánh từ xa, chỉ cần y muốn, dùng hỏa pháo đánh chìm mấy chiếc thuyền của lão lúc nào mà không được?

Còn vào bờ, mấy ngàn quân của y cũng không phải hạng giá áo túi cơm để mà bị khinh khi. Chỉ cần y ra lệnh một tiếng, lập tức mấy trăm quân sĩ của lão họ Sa sẽ bị bủa vây trùng trùng ngay tức khắc. Đến lúc ấy muốn thoát cũng khó.

Huống hồ, đoàn thuyền chỉ có năm sáu cái, cùng lắm được hai trăm người, thử hỏi có thể chống lại mấy nghìn quân hay sao?

Thế nên y không ngại ngần gì…

Thuyền của Hải Thượng Hung Lang được cho cập bến.
Tức thì, có hơn trăm người mặc áo vải thô kệch túa ra, tay sẵn khí giới, chân vừa chạm đất là nhè quân Minh mà đánh giết.

Hải Thượng Hung Lang cười gian ác, chồm tới vung hai nắm đấm to như miệng bát. Cặp vuốt hổ của lão rít gió nghe vù vù, kình phong thật là lợi hại. Tay phó tướng tuy là bất ngờ, nhưng cũng không phải hạng tầm thường, vội vàng rút bội đao ra đỡ được song trảo đánh lén. Y lại cất cao giọng điều khiển từng tốp quân Minh bố trận, hò nhau tăng viện cho bến cảng.

Toán cướp biển lúc này chia làm hai mũi, đánh tạt từ hai cánh vào muốn bẻ gãy phòng ngự của quân Minh, hòng vòng ra phía sau. Quân Minh lấy khiên lớn ra cố thủ, thương dài chọc liều về trước kháng cự. Song cũng không ích gì…

Chỉ thấy người dẫn đầu toán cướp mé tả vung đao một cái, chặt phăng bốn năm cái đầu thương. Y lại thuật thế tung chân đạp vào khiên, đẩy ngã một lúc hai ba binh sĩ. Mà thuộc hạ dưới trướng y xung phong theo chủ có trận thế đàng hoàng, bảo hộ yểm trợ lẫn nhau, tuy chưa thể xưng là quân kỷ nghiêm minh như lính tinh nhuệ, xong cũng tuyệt đối không phải loại kỷ luật mà một toán cướp cạn bình thường có thể có! Có mấy người lấy sẵn vôi bột trong áo, tung bừa vào mặt quân Minh, làm chúng dính vôi không mở nổi mắt. Liền đó đồng bọn sẽ nhào tới, lấy đao cứa cổ đám quân đang bị bất ngờ. Vôi vốn là thứ ám khí đánh lén được giang hồ cho là bần tiện nhất, bởi nó cực kì hiểm ác. Nếu vôi sống gặp nước sẽ sôi lên, làm mù mắt kẻ trúng phải ngay, muốn lau rửa buộc phải dùng dầu mới được. Mà thế thì có thắng cũng không phải bằng võ.

Nhưng những người này thì khác, dùng vôi sống chẳng hề cố kỵ gì hết.

Lại có người lấy phấn độc màu trắng vẩy vào mặt quân Minh, được một chốc thì những tên này đột nhiên trở nên cuồng loạn, đâm chém không phân địch ta. Tình trạng giống y hệt toán phục binh nhà Hồ năm xưa, lúc Phạm Hách xuất hiện đục thuyền. Không nói cũng biết ấy là quái độc của Hoàng Thiên Hóa.

Cánh phải thì người dẫn đầu là một kẻ dùng thương hai đầu. Mỗi lần y vung tay, thì ngọn thương lại đánh ra nào là không biết cơ man bao nhiêu võ nghệ, lúc thì như đao chiêu lúc lại như kích pháp, hiểm ác vô cùng. Quân Minh chưa từng thấy thứ thương pháp nào quái lạ mà lại hung bạo đến thế, nháy mắt tử thương vô số.

Bám theo y có một tướng khác, cũng dùng một ngón giáo dài. Tuy chiêu số không có gì đặc biệt, nhưng lại vừa vặn yểm hộ hết những chỗ sơ hở của người đi trước, bổ trợ hoàn mĩ đến nỗi tưởng như giọt nước cũng không lọt nổi.

Những người này chuẩn bị trước mà tới, quân Minh lại không đề phòng, vốn đã ở vào thế bị động. Bọn này lại vẫn tưởng mình đang đấu với hải tặc, nên không ngờ đợt tấn công của những người này chẳng những có tổ chức, lại còn mạnh như vũ bão, thế là bất ngờ đến độ lóng ngóng tay chân. Lúc hoàn hồn thì đồng bọn đã chết một đống, lá gan dần teo nhỏ lại.

Phó tướng giữ đảo thấy những tên cướp này đánh trận cực kì bài bản, chợt nghĩ đến một khả năng:

“ Khốn kiếp! Những tên này vốn không phải băng cướp của Sa lão quái ông! ”

Hải Thượng Hung Lang cười to, nói:

“ Đúng! Mà chắc ngươi cũng đoán được thân phận họ rồi! Không sai! Đều là tướng sĩ nhà Trần cả! ”

Tay phó tướng chặc lưỡi, thầm chửi mình cả tin, song vẫn mắng:
“ Quý Khoáng khí số đã tận, ngươi thờ hắn lúc này chỉ tổ tự tìm đường chết! ”

“ Chuyện ấy không cần ngươi quan tâm! ”

Lão họ Sa trầm giọng, đoạn vung tay vạch tiếp mấy chiêu trảo pháp hiểm ác. Tay phó tướng phải căng mình lên mà chống trả, không tiện phân tâm điều binh khiển tướng. Song, y lại càng cố trấn tĩnh, không vì những lời khiêu khích của Hải Thượng Hung Lang mà xuống tinh thần:

“ Chỉ độ mấy khắc nữa quân ta sẽ tới tri viện, lúc ấy có hỏa pháo bắn phá, thử xem các ngươi dùng thân máu thịt chống kiểu gì! ”

“ Mấy khắc? Bọn ta chỉ cần giữ chặt được chỗ này một khắc thôi! ”

Lão vừa nói dứt thì cúi thụp đầu xuống, vung trảo đánh hạ bàn tay phó tướng.

Lúc này Hải Thượng Hung Lang quay lưng về phía biển, lão khổ người to lớn, chắn hầu hết tầm nhìn của tay phó tướng kia. Nay lão hụp đầu ra chiêu, y vốn có thể đỡ được dễ dàng, nào ngờ cái đầu lão vừa biến mất thì đập vào mắt tay phó tướng đã là mấy chục thuyền lớn, trên có cờ Trần treo phấp phới.

Xoạc!

Lúc y nhận ra thì bụng dưới đã bị vuốt hổ bấu vào, cậy bung cả giáp, cắm vào đến hai bên eo. Tay phó tướng rú lên một tiếng, lui vội, thà hi sinh một ít máu thịt ở lườn để thoát khỏi vuốt hổ của lão họ Sa. Nhưng Hải Thượng Hung Lang chẳng phải tay mơ, lão được đà bèn khinh công lao tới trước, đà và thế đều ở phía lão. Mà hai trỏ của lão cũng khuỳnh lên đánh vào khớp xương khuỷu của phó tướng khiến y không tài nào vung đao chém vào đầu vào lưng lão được.

Đơn đả độc đấu, quả thực người giang hồ vẫn có lợi hơn.

Lão họ Sa tiến bước, thấy móng hổ đã chém ngập vào người phó tướng sâu cỡ một đốt tay, lão mới đột nhiên búng mình, toàn thân xoay chuyển như con vụ. Phó tướng nọ chỉ kịp á một tiếng, tức thì đã bỏ mình, toàn thân bị xé làm mấy mảnh.

Phó tướng đã chết, quân Minh ở bến cảng như rắn mất đầu, càng thêm rối loạn. Đánh thêm một chốc thì mất hết ý chí, quăng gươm giáo bỏ chạy thục mạng đi chờ viện quân.

Hải Thượng Hung Lang biết lúc này trận chiến mới thực sự bắt đầu, nhưng chuyện phía sau thực sự không còn liên can gì tới lão nữa. Lão bèn chẹp miệng một cái rồi nói:

“ Ba vị tướng quân! Sa mỗ chỉ giúp được đến đây thôi, chuyện cố thủ bến cảng nhường cho chư vị! Chuyện ta và Kình Nương thực ra là chỗ hữu hảo cũng xin các vị giữ kín cho. ”

Đoạn lão nhảy phốc lên thuyền con, chèo thục mạng ra biển.

Té ra lão này và Đông Hải Kình Nương đều là hai con cáo già. Hai người biết nếu hai băng cướp lớn của họ liên thủ thì đám hải tặc trong vùng sẽ kinh sợ, thậm chí liên hợp tấn công lại hai người cũng không biết chừng. Thế là cả hai bèn đóng một màn kịch không đội trời chung, hòng qua mặt thiên hạ. Nếu không phải lần này Hoàng Thiên Hóa mở lời e có chết lão cũng không ra tay, tránh để lại dấu vết.

Ba tướng trong lời lão tự nhiên là Nguyễn Súy, Lê Sát và Lê Văn An.

Nguyễn Súy lau máu ở đao, rồi nói:

“ Lúc này tuyệt không thể để giặc Minh cướp lại bến cảng. ”

Lê Sát bèn hỏi:

“ Tướng quân có cao kiến gì? ”

“ Hai vị chia ra phối hợp với Hoàng đảo chủ quấy nhiễu khắp cái đảo này, cố gắng đừng để quân Minh tập trung lực lượng chiếm lại bến cảng. Ta và binh sĩ sẽ ở lại đây cố thủ. Chỉ độ một khắc nữa là đại quân ta cập bến, sẽ bắn ba hồi pháo cho các vị biết. ”

Chương 294: Hồi hai mươi lăm (19)

Lê Văn An nghĩ thầm:

[ Thế chẳng phải mình và Lê Sát sẽ thành tử sĩ chịu chết hay sao? ]

Song nghĩ thì nghĩ thế, y cũng biết chuyện này trước sau gì cũng cần người đến đảm đương, lại nhớ lời căn dặn của Lê Lợi nên chút ấm ức trong lòng cũng vợi đi hầu hết.

Lê Sát xốc thương, nói:

“ Cứ giao cho tôi! ”

Đoạn dẫn theo một toán quân, từ bến cảng túa đi khắp nơi. Phàm những nơi trọng yếu như kho thuốc súng, kho khí giới, giếng nước, sông suối trên đảo đều bị ghé thăm, nếu có thể đánh tan được phòng ngự của quân Minh thì sẵn mồi lửa thiêu trụi, hoặc hạ độc xuống nguồn nước, còn không thì cũng uy hiếp bắt quân Minh đồn trú ở đấy không thể rời khỏi vị trí.

Lúc này, thuốc độc do Hoàng Thiên Hóa chuẩn bị trước trận đại chiến đều được binh sĩ dùng vô tội vạ. Không cần biết là phấn, hay thuốc nước, hay đạn khói, quân Trần cứ nhác thấy bóng lính Minh là vơ lấy mà ném tới tấp. Độc của đảo chủ đảo Bạch Long cực kì cổ quái, làm quân Minh nhất thời thất điên bát đảo.

Biết đối thủ có thuốc độc, nên bọn này càng phải chú tâm cố thủ những nơi như thượng nguồn, hoặc giếng nước. Dù sao bấy giờ đang đóng quân ở trên đảo, nước ngọt có hạn, ngộ nhỡ để đối phương hạ độc vào nguồn nước thì rắc rối vô cùng.

Thành thử, quân lực trên đảo khó bề tập trung vào một chỗ, Nguyễn Súy mới có thể cố thủ được. Song vì phải ngăn không để quân Minh dùng pháo tự bắn phá bến cảng ngăn tàu cập bến, nên ba quân xung buộc phải phong không cần mạng, lấy máu ra để câu giờ, tử vong thảm trọng.

Qua một khắc, thì đoàn thuyền lớn chở đại quân của Hậu Trần đã cập bến. Dẫn đầu là Nguyễn Cảnh Dị, theo sát là các tướng Đồng Mặc, Nguyễn Ngân Hà, Lê Nhị, Lê Khang, Đỗ Cối và Nguyễn Hiêu.

Lúc này quân Trần hội họp với cánh quân của Nguyễn Súy, thanh thế lên rất mạnh.

Nguyễn Cảnh Dị và Nguyễn Súy, cũng như các tướng Hậu Trần trước khi đến Vân Đồn đều đã học thuộc lòng bản đồ bố phòng trên đảo do Đông Hải Kình Nương vẽ từ trước, bắt đầu hùng hổ tiến về những kho lương thảo để càn quét.

Bấy giờ trong quân ngũ nhà Minh hãy còn một vài tướng tỉnh táo. Bọn họ hiểu được quân Trần lần này tấn công Vân Đồn chắc chắn là để cướp lương thực, thế nên vừa nhác thấy không cản nổi quân của Trùng Quang đế cập bờ là quân Minh kéo đại quân cố thủ kho lương thực.

Quân của Lê Sát, Lê Văn An và Hoàng Thiên Hóa thấy đại quân đã trở lại, bèn dùng hết thuốc độc vôi sống để quấy nhiễu rồi thừa lúc hỗn loạn giả làm thường dân mà lỉnh mất. Trong đánh trận, thường thức vốn là phe công phải đông hơn thì mới thắng được, trước giờ rất ít khi có ngoại lệ. Tuy là chiến đấu quy mô nhỏ như vài chục đấu hơn trăm thì cơ hội lớn hơn, nhưng cũng không quá khả thi. Hai tướng Lê Sát, Lê Văn An biết điều này, nghĩ chẳng thà cho lui quân trước, đợi hội họp với đại quân cùng đánh quân Minh còn hơn là bỏ mạng uổng phí ở đây.

Quân Minh đã biết Hậu Trần đến đây cướp lương, thế nên cố thủ rất vững. Địa thế trên đảo lại phức tạp, thành thử phía thủ thế hẳn phải chiếm địa lợi. Song nhờ có địa đồ của Đông Hải Kình Nương mà quân Hậu Trần do Nguyễn Cảnh Dị và Nguyễn Súy dẫn đầu dễ dàng đoán được vị trí các ổ phục binh của quân Minh, theo đó mà vạch hướng công kích. Độ nửa ngày thì chiếm được kho lương của quân Minh, nào ngờ lúc vào thì lương thực đã bị một mồi lửa thiêu rụi hầu hết, một vạn hộc lương thực viện trợ mà Chu Đệ sai Hàn Quan tải vào Nam, đặt ở Vân Đồn cũng phải dăm ba ngàn, thế mà nay đã bị thiêu ra chỉ còn mấy trăm hộc, kèm theo một chút tro tàn.

Nguyễn Súy đánh trận cả ngày, tinh thần đã mỏi mệt nên có chút nóng đầu, suy nghĩ không được thông suốt như thường ngày. Lúc này thấy quả ngọt sắp được hái chỉ có một nhúm lương thực ít ỏi kèm theo một đống tro tàn thì không khỏi bực mình, giận lẫy sang Lê Sát và Lê Văn An.

“ Mẹ kiếp! Các ngươi quấy nhiễu quân giặc, thì cũng phải biết đánh chó ngó chủ! Bây giờ kho lương thành ra thế này còn cướp cái giống gì? ”

Lê Văn An và Lê Sát cũng giết quân địch đến mệt lả, lại đều là bậc quan võ tính nóng như lửa, nay bị y quy tội thì không khỏi nóng máu:

“ Ý ông là sao? ”

Nguyễn Súy xì một tiếng;

“ Ta nghĩ các người sợ thánh thượng có được số lương này, thạnh thế càng lớn, đòi lại được giang sơn gấm vóc ta thì Lam Sơn của các người không được giây máu ăn phần tí nào đúng không? ”

Lê Văn An quắc mắt:

“ Nguyễn Súy! Nhà ngươi ăn nói cho cẩn thận! ”

Tuy bình thời Nguyễn Súy ở chức cao hơn y, song Lê Văn An cũng không tham luyến gì chức quan này cả. Cùng lắm là y từ quan về Lam Sơn.

Lúc này Nguyễn Cảnh Dị bèn nói:
“ Chắc là giặc đoán được ý ta, nên dùng kế vườn không nhà trống đấy thôi. Các vị tướng quân chớ có làm mất hòa khí nội bộ. ”

Nguyễn Súy dậm chân:

“ Bao nhiêu anh em phải vong mạng mới đổi lấy được cơ hội này, thế mà nay tay trắng, tôi không cam đâu! ”

“ Chúng ta không được gì, nhưng chí ít chỗ lương thực này giặc cũng không dùng được, coi như là không thành công cũng thành nhân vậy. ”

Chư tướng nhìn nhau rồi thở dài, đoạn rút lui, không quên lấy hỏa pháo bắn tan tành bến cảng không cho quân Minh đuổi theo.

Sau đấy mấy ngày, quân Hậu Trần liên tiếp xuất hiện ở mấy đảo lớn để cướp lương thực, đáng tiếc là Trương Phụ đã lường được hành động này, căn dặn quân tướng dưới trướng hễ quân Trần đánh được vào thì lập tức đốt trụi kho lương. Quân của Trùng Quang đế đánh mấy trận đều thắng, đáng tiếc thương vong thì lớn, lương thu về thậm chí còn không đủ để nuôi quân ra trận, có tải về Hóa châu cũng chẳng trụ nổi mấy ngày.

Rốt cuộc, lúc về đến chốn thành quách tiêu điều, quân số chỉ còn có ba bốn thành, vua quan ai nấy đều mệt mỏi rệu rã. Đến cả Lê Sát mà lúc này sát ý cũng u ám, mất hết sức chiến đấu.

Về phần Hàn Quan…

Lão ở Cát Bà mấy ngày, thì có quân tình quân Hậu Trần tấn công Vân Đồn truyền về. Lúc được tin, lão đang uống trà với tổng binh giữ đảo, tiểu binh vừa báo tin xong là chén trà trong tay lão đã bị vỡ thành bốn năm mảnh. Sắc mặt Hàn Quan âm trầm như sắt, ra lệnh cho ba quân tức tốc lên thuyền truy sát quân Hậu Trần!

Nào ngờ, thuyền ra khơi được mấy dặm, vừa gặp con sóng trở thì đã có một bộ hạ báo:

“ Báo! Đáy thuyền có lỗ thủng! ”

Lúc lão xuống thấy nước đã ngập vào khoang dưới cùng của thuyền thật, không khỏi giật mình!

[ Chẳng lẽ có quỷ thần? ]

Đầu tiên Hàn Quan đặt mối nghi ngờ lên Đông Hải Kình Nương, nhưng y thị hành xử kín kẽ không có dấu vết, cả ngày thị và thuộc hạ ở trên bờ, mà thuộc cấp của lão lại xét thuyền ả đến mấy lần cũng không thấy có gì lạ. Không nói Kình Nương vốn “ không có lí do ” bán đứng lão, cho dù có, thì lão cũng không nghĩ ra ả làm thế nào.

Kì thực… vốn Kình Nương không phải người làm chuyện đục thuyền này, mà là Phạm Hách!Vốn là trước khi xuất phát, Đông Hải Kình Nương mới cho đóng gấp một con thuyền có hai tầng, một tầng ngầm bên dưới khoang thuyền không ai biết cả. Bình thời trong khoang ngầm chất đầy các bao cát để dù có người đi lại trên khoang thuyền cũng không biết bên dưới rỗng không. Cửa vào thứ nhất nằm trong khoang, ngay dưới giường của Đông Hải Kình Nương nên bọn lính lác không tiện tra xét. Phía mũi thuyền cũng thiết kế một cái cửa ra, nhưng cửa này chỉ có thể mở từ bên trong, lại nằm ngầm dưới nước nên quân Minh cũng sơ ý bỏ qua. Phạm Hách chui vào khoang thuyền nằm, đoạn Kình Nương cứ tính chỗ nào hắn đang nằm lên thì kê hàng hóa đặt lên đấy, lại cố tình bố trí sẵn lỗ cho hắn thở.

Còn chiếc thuyền thì cự nhiên chở toàn là gái bán hoa từ phía nam Đại Minh.

Ả hẹn đến đêm để các ả đào lên đàn hát cho lính lác quân Minh, Phạm Hách sẽ bí mật mở cửa ngầm, lặn đến đáy thuyền của Hàn Quan, đoạn đục một cái lỗ dưới đáy tàu, chỉ vừa bằng cái chén hạt mít. Cứ đục được một lỗ lại nhét một cục dây thừng vào để bịt kẽ hở. Thứ dây thừng này lấy một đám giấy bồi làm trung tâm giữ vững chỉnh thể, bình thường sẽ không thấm nước. Nhưng một khi sóng lớn đánh vào làm thừng lỏng ra, sẽ để nước tràn vào làm rã giấy bồi ra. Lúc ấy thì dây thừng sẽ tự giải nút, lỗ hổng cũng đột nhiên vô thanh vô tức xuất hiện ở đáy thuyền.

Lúc này Giao Long Chuy mới phát huy diệu dụng.

Thứ này đúc bằng đồng đen, cho dù là tấm thép dày cả tấc nó cũng đục xuyên như tờ giấy, huống hồ là gỗ. Thành thử Phạm Hách có thể đục cho đáy thuyền của quân Minh thành cái tổ ong mà lính lác thủ trên thuyền cũng không hay biết gì.

Cũng phải nói, từ sau trận thua nhục trước Tạng Cẩu, tên này chú trọng luyện võ hơn, nên Quy Tức công gia truyền tiến bộ, nay có thể lặn một hơi hơn nửa canh giờ mà không cần ngoi lên, cũng tính là một dị loại. Cứ mỗi đêm ba canh giờ, hai canh nghỉ ngơi lại sức. Sáng sáng tên nào trực thuyền đi mua đồ ăn sẽ bớt lại chút ít lén lút đưa cho Phạm Hách.

Hai bên làm một màn vải thưa che mắt thánh, chẳng mấy đã xử đẹp cả đoàn thuyền của Hàn Quan. Chuyện này tự nhiên không có sách sử nào chép. Nếu có, thì cũng trở thành một chuyện tiếu lâm, tựa như chuyện Nguyễn Công Trứ lấy mo cau che mông trâu lại, gọi là “ bịt miệng thế gian ” vậy.

Hàn Quan và bộ hạ bấy giờ lênh đênh giữa trùng khơi, bốn bề chỉ có rặt sóng và nước, mắt thấy thuyền nào thuyền nấy đều bị giống mình thì không khỏi kinh hồn. Tiếc là có muốn cũng chẳng thể chắp cánh mà bay như loài chim đang chao liệng trên đầu được. Chẳng mấy mà nước phá vách thuyền mà vào, cả một đoàn binh thuyền lớn chìm nghỉm vào biển nước mênh mông.

Phải đến mấy ngày sau, Hàn Quan và bộ hạ mới được người ta phát hiện đang ngồi trên một mảng thuyền vỡ, đưa vào bờ. Lão vừa mở mắt thì quan địa phương đã cho người đến rước về phủ.

Lúc này đọc quân tình, thấy đâu đâu cũng là cảnh quân Hậu Trần thắng trận, lão mới hiểu…

Té ra quân Trần thực sự lẩn khuất trong rặng đảo đá ở vịnh Bái Tử Long, chỉ chờ lão đi khỏi sẽ tấn công vào Vân Đồn. Sở dĩ đại binh của lão đi qua hai vịnh lớn mà không tổn hại gì, vì Trùng Quang đế và Nguyễn Cảnh Dị biết có đánh được hạm đội của lão cũng chẳng thu được bao nhiêu lương thảo cả.

Về phía Kình Nương, thì lão không nghi ngờ thị quá, chỉ nghĩ mấy tên Hậu Trần kia sớm đã có mưu đồ nên mới lên thuyền của y thị. Tính ra, thị cũng là “ người bị hại ”.

Lão ngâm nước biển mấy ngày, nhiễm lạnh vào phổi, nay nộ khí công tâm thì bệnh tình càng chuyển biến nặng. Thuốc thang được một thời gian, đến tháng tư thì mất. Sử chép là mất vì bệnh, không nói uyên nguyên sâu xa này.

Xét cho cùng…

Xưa nay, lợi người lợi ta là chuyện ai cũng thích.

Hại người, lợi ta là cách hành xử của kẻ tiểu nhân.

Lợi người, hại mình thì phải là kẻ ngốc, hoặc bậc anh hùng mới làm nổi.

Nhưng hại người mà không lợi mình, thậm chí hại cho mình, thì trên đời duy chỉ có kẻ điên!

Thế nên, Hàn Quan mới bị Đông Hải Kình Nương qua mặt.

Lời tác giả:

_ Hết hồi 25, xin có đôi lời cải chính là việc Nguyễn Biểu bị Trương Phụ giết xảy ra sau khi Nghệ An bị chiếm. Ở hồi này tác hơi lầm lẫn nên đã viết thành Nguyễn Biểu mất trước, rồi Nghệ An mới mất

_ Sở dĩ tác không dùng từ " giặc Minh " trong lời kể, mà chỉ dùng trong lời nhân vật thì đó là do tác cảm thấy nếu dùng từ " giặc " thì bản thân khó lòng kiềm chế được cảm xúc, không giữ được cái đầu lạnh. Lúc ấy thể nào cũng viết thiên vị cho người Việt. Điều ấy đi ngược lại tôn chỉ ban đầu khi đặt bút, nên mới phải làm thế, chứ không phải tác không phân biệt ai là giặc ai là bạn.

_ Đến nay cũng đã gần xong thiên, có đôi lời cần giải thích. Ở thiên thứ hai thì các nhân vật nhà Hậu Trần như Trùng Quang Giản Định, Đặng Tất Đặng Dung…v.v… chưa được khai thác kỹ như tướng nhà Hồ hồi 1. Thực chất không phải tác thiên vị Hồ mà bỏ bê Hậu Trần, mà do thiên thứ hai tác chọn đi theo hướng " Lam Sơn đang làm gì trong lúc Hậu Trần dấy nghĩa ", phát triển từ chuyện Thái Tổ Lê Lợi làm chức Kim Ngô tướng quân dưới thời Trùng Quang. Vì đi theo hướng này nên thời lượng của mạch truyện thứ hai phải chia bớt ra cho các tướng Lam Sơn, không được tập trung như thiên thứ nhất.

Chương 295: Hồi hai mươi sáu(1)

Sái Già chiến, bạch vân hạo hãn

Mộ thiên vương, quái thú hoành hành

Lại kể chuyện hai người Tạng Cẩu Phiêu Hương ở Tây An.

Lúc này mọi chuyện đã định, ngày lành xuống mộ do Lý phủ chọn, hai người được thảnh thơi một đoạn thời gian.

Về phần các môn các phái cử ai xuống mộ cổ thì hai người không quan tâm lắm, bởi nhìn ánh mắt thiên hạ thì rất có khả năng cả hai sẽ bị cô lập, một mình một phe. Dù sao cũng là thay mặt quốc gia dân tộc mà tranh đoạt.

Lúc này, trên dưới Lý phủ có nhốn nháo thì hai người cũng không để vào lòng, không nghe không thấy gì hết. Dẫu biết chỉ là khoảng lặng ngắn ngủi trước cơn bão, thì hai người cũng cố mà thả lỏng tinh thần chuẩn bị đối phó với sóng gió trước mắt.

Trương Tam Phong và thiền sư Tuệ Tĩnh quyết định ở lại cho đến ngày quần hào xông vào cổ mộ, rồi mới đưa vợ chồng Tần Trảm tìm nơi an cư. Hồ Phiêu Hương và Đường Nhu lại được một cơ hội tỉ tê trò chuyện trong khuê phòng, chị chị em em ríu ra ríu rít.

Tạng Cẩu thì ngồi với ba người Tần Trảm, ông thiền sư và lão đạo sĩ.

Trên mặt bàn để hai vật, một là Quỷ Diện Phi Châu của các đời Quận Gió, thứ còn lại chính là đao Lĩnh Nam.

Hai thánh vật đúc bằng đồng đen này không khỏi khiến Trương Tam Phong tò mò. Mà cả thiền sư Tuệ Tĩnh cũng muốn nhìn cho rõ, rốt cuộc thứ kim khí màu đen bóng này có công dụng gì mà lại quý đến thế.

Không tìm hiểu còn đỡ, vừa nhìn vào thì lại đau đầu.

Đao của Hồ Phiêu Hương nhẹ như cái lông ngỗng, cơ hồ một người không biết võ công cũng cầm lên múa may dễ dàng. Phi Châu của Tạng Cẩu thì trái ngược hẳn, tuy chỉ to bằng quả quất, nhưng nặng nề vượt quá vẻ ngoài, đến nỗi khiến người trưởng thành phải dụng sức mới nâng lên nổi.

“ Viên châu này nặng dễ đến hơn chục cân, thế mà thanh đao này lại tưởng như không hề có cân nặng. ”

Tần Trảm có danh xưng là Bách Nhân Đồ, là tay sát thủ có tiếng từng giết cả trăm người, nhưng chưa bao giờ y thấy một thứ kim khí nào quái lạ đến thế cả.

Tuệ Tĩnh thiền sư bèn nói:

“ Đâu chỉ có cân nặng? Đao thiên về chém bổ, trọng về thế và đà. Nên đao thường phải nặng, cho dù là liễu diệp đao cũng phải nặng hơn trường kiếm mấy phân. Nhưng chân nhân xem thử thanh đao này, lúc chém tuy nhẹ như cầm làn khói, nhưng thế mạnh lực trầm, chứ không phải ỷ y vào sự sắc bén mà thủ thắng, thực là đã quái dị càng quái dị. ”

Trương Tam Phong cầm thanh đao, phạt thử một cái, thì thấy thế công không kém gì một thanh cửu hoàn đao, không khỏi giật mình.

Tần Trảm cũng chặc lưỡi, tấm tắc khen rằng đồng đen thực là thứ kim khí trên trời, không phải người phàm làm ra nổi.

Trương Tam Phong trả đao cho Phiêu Hương, rồi lại trêu:

“ Đại sư Nguyễn Minh Không nước con luyện ra được thứ kim khí này thì thực là bậc kì tài nghìn năm không có một. Ài… biết thế mình không thèm để ý tới chút mặt mũi hư danh, cứ gật bừa với quần hào để độc chiếm mộ cổ quách cho rồi. ”

Tạng Cẩu nghe thế thì giật mình một cái, còn Hồ Phiêu Hương thì đánh chỏ vào vai bạn, nhắc:

“ Ông ấy trêu thế thôi, có mỗi Cẩu là tưởng thật. ”

“ May quá. Nếu phải đấu với Trương chân nhân, chớ nói tớ không ra tay được với ân nhân, cho dù có đánh thì cũng là tự chuốc khổ vào thân mà thôi. ”

Thấy cậu chàng vừa vuốt ngực vừa thở phào, cả năm người đều bật cười ha hả.

Hôm sau, Tạng cẩu và Phiêu Hương thủng thẳng đến Thính Tuyết Lâu. Đương nhiên sau lưng không thiếu người của sáu môn phái lớn bám theo giám sát, phòng hờ hai người thừa cơ trốn mất. Quần hào muốn xuống mộ Thánh Chèm, không có Tạng Cẩu Phiêu Hương sao mà được?

Hai người đi chuyến này, chính là để gặp Lí Bân, nói đúng hơn là vợ vừa cưới của y cũng là cô bé Hằng ngày xưa ở cửa biển Kì La.

Bậc thang gấp khúc quanh co, đường núi đẫm sương đêm thực khiến người ta khoan khoái.Tạng Cẩu và Phiêu Hương chọn một hành lang gỗ để ngồi, tự lấy rượu và đồ nhắm thưởng thức. Hai người đợi chừng một thoáng thì có kẻ dưới đến lau dọn, đưa thêm đồ nhắm và đổ đầy rượu. Tạng Cẩu mới kéo một người lại, nói:

“ Phiền tiểu ca báo với bà chủ có người cũ muốn gặp. ”

“ Thiếu hiệp lại khéo nói đùa. ”

Tay người ở gỡ tay Tạng Cẩu, vẻ mặt vẫn không thay đổi, vừa cười híp mắt vừa nói:

“ Lâu chủ đến nay vẫn phòng đơn gối lẻ, đâu có phu nhân gì? ”

Tạng Cẩu và Phiêu Hương nghe mà không tin vào tai mình.

Chuyện này rốt cuộc là sao?

Hồ Phiêu Hương đảo mắt, rồi nói:

“ Thế cũng được. Phiền tiểu ca nói với gia chủ một tiếng, là có bạn cũ ở phương nam, từ Nam Kinh đến đây muốn gặp. ”

Nói đoạn lấy bạc thưởng cho tên này.

Gã người ở nhét bạc vào túi, rối rít cảm ơn, rồi ba chân bốn cẳng đi làm chuyện được giao phó.

Lúc này chỉ còn hai người, Tạng Cẩu bèn hỏi:

“ Này, Hương không phải nói Lí Bân hỏi cưới Thanh Hằng nhà mình sao? ”

“ Nhầm sao được? Bác tớ gửi thư báo chuyện này được hơn một năm nay rồi. Cậu không tin bác Trừng sao? ”

“ Hay mình nhận nhầm người? ”Tạng Cẩu gãi gáy.

Lúc đầu hai người nhận định cái ý tưởng quái lạ này tuyệt chỉ có Lí Bân mới nghĩ ra được. Mà chủ quán xuất hiện, trông cũng hệt như Lí Bân trong ký ức của Tạng Cẩu và Phiêu Hương.

Nay lại hay tin y chưa có vợ…

Hai người không khỏi cảm thấy quái lạ.

Hồ Phiêu Hương lại nói tiếp:

“ Nếu y thực là Lí Bân, thì tự nhiên sẽ hiểu được ấy là chúng ta, rồi tự đến gặp. Còn nếu không thì coi như bỏ phí chuyến này vậy. ”

Hai người lúc này không cần che giấu thân phận, cứ thản nhiên dùng tiếng Việt, đám nhân mã do lục đại phái cử đi bám đuôi nghe chẳng hiểu gì cả, ôm một bụng tức mà không làm gì được.

Tạng Cẩu và Phiêu Hương chờ thêm một canh giờ, vừa ngồi đối ẩm thưởng cảnh vừa chuyện trò nên không lấy gì làm nhàm chán. Lúc này mới có một người chậm rãi đi lên chỗ hai người đang ngồi. Trông y có vẻ gì áy náy và rụt rè, mấy bước chân đầu tiên cứ muốn đặt xuống lại thôi.

Hồ Phiêu Hương tự nhiên là đã thấy được những phản ứng này của y, dựa vào ấy có thể khẳng định y nhất định chính là Lí Bân. Nếu như là một người lạ, chưa từng quen hai người bọn Tạng Cẩu thì sẽ không phản ứng như vậy. Y sẽ tò mò, thậm chí là hoài nghi chứ không rụt rè thế này.

Mà y rụt rè như thế, lại thêm lời của tên tiểu nhị, thì Hồ Phiêu Hương đoán được chắc đến chín phần mười là cuộc hôn nhân giữa y và Thanh Hằng đã đổ bể. Tuy cô nàng chưa từng ưa Lí Bân, song lại thấy rõ mồn một là cô bé người hầu có cảm tình với y. Nay thấy cô bị gã phụ bạc, lại ngay sau khi đã dạm hỏi chuyện cưới hỏi thì càng bực mình.

Vừa thấy Lí Bân, cô nàng đã cười:

“ Lí tướng quân… không ngờ bây giờ lại đến đây làm chủ quán rượu. Sao rồi, chuyện cưới hỏi lúc trước thế nào? ”

Nghe Phiêu Hương hỏi, thì y như bị chạm trúng vết thương cũ, chỉ biết cúi đầu mà thở dài.

Mất một lúc sau, y mới lên tiếng:

“ Liễu tướng quân cũng có ý với nàng. Y thiếu niên anh hùng, công lao hãn mã, Lí mỗ tự thẹn không xứng với nàng… nên… ”

Hồ Phiêu Hương càng nghe càng tức, rồi đập bàn quát:

“ Không có chí tiến thủ! Hằng thoát được người như ngươi ta còn thấy mừng! ”

Tạng Cẩu thì vẫn yên lặng không nói gì cả.

Cậu chàng vốn tính ôn hòa hơn Phiêu Hương, thế nên nãy giờ cứ cảm thấy Lí Bân dường như có nỗi khổ riêng khó nói.

Lúc này Phiêu Hương đã đứng phắt dậy, nói:

“ Đi thôi Cẩu, đến hỏi thăm cái Hằng luôn tiện nhờ chuyển cho bức thư, ai mà ngờ gặp được cái kẻ phụ tình bạc nghĩa này. ”

Tạng Cẩu bèn cười, nói:

“ Cậu đi đâu chơi một lát đi, tớ có chuyện cần nói riêng với Lí Bân. ”

Cô nàng còn định căn vặn, nhưng thấy bạn cười hòa, thì cũng thở dài nhượng bộ.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau