THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 261 - Chương 265

Chương 261: Hồi hai mươi tư (6)

Lê Lợi thấy ông thầy tướng số kì lạ lại hóa ra một thiếu niên cũng chạc cỡ tuổi mình thì không khỏi lấy làm bất ngờ. Chàng cũng biết tính tình y cổ quái, hành sự khác thường, nhưng ắt hẳn là cũng có lòng đánh quân Minh cứu nước, bèn đáp:

“ Cầu cũng không được! ”

Nguyễn Trãi bèn ngồi xuống phản, tự rót một chén, lại ném bầu rượu sang cho Lê Lợi. Chàng cũng tự rót một chén, đoạn ngửa cổ uống cạn.

“ Chúa Lam Sơn ngài lần đầu nắm quyền lớn, cảm giác ra làm sao? ”

Nguyễn Trãi chợt lên tiếng, ánh mắt bên dưới vành nón ngưng thần tập trung quan sát từng biểu cảm trên mặt Lê Lợi.

Chàng bèn thở dài, đáp:

“ Ngài là bậc cao nhân chắc cũng thấy rồi. Luận văn Lê Lợi ta tuy là biết chút đỉnh chữ nghĩa, nhưng chuyện kinh tế (*) thì không thể gọi là năng thần. Luận võ ta tuy biết chút võ mèo cào, uy dũng không thể xứng làm thần tướng. Nhưng người dưới trướng đều là lương đống nhân tài, võ sánh với Phùng Hưng, văn chẳng thua Tiền Ẩn (*). Người làm chủ công như ta thẹn chẳng bằng với họ. ”

( kinh tế ở đây là kinh bang tế thế, kinh thế tế dân. Tiền Ẩn là tên hiệu của Chu Văn An)

Nguyễn Trãi bèn cười mà rằng:

“ Nếu như chúa Lam Sơn võ thắng Đinh Lễ, văn hơn Văn Linh, thì hà cớ gì cần phải có bọn họ phò tá nữa? Nói ngược lại cũng vậy. Nếu họ có thể lấy văn, lấy võ mà bình thiên hạ thì đâu cần theo phò tá cho ngài? ”

“ Lời của cao nhân cao thâm khó dò, Lê Lợi nhất thời chưa hiểu được. ”

Nói đến đây thì đứng lên, hơi khom người thi lễ, hàm ý xin chỉ điểm.

Nguyễn Trãi mới nói tiếp:

“ Kì thực chẳng ngoài một chữ “ nhân ”. Cây cỏ vô tri còn biết hướng đến vầng dương, huống chi là trăm họ mắt sáng như đèn? Luận văn thao võ lược, ngài không bằng bọn Đinh Lễ Văn Linh, nhưng thắng ở chữ “ nhân ” ở cái tâm là vậy. “ Nhân ” của ngài là mái chèo, “ nhân ” của trăm họ là dòng nước, còn Lam Sơn là con thuyền. Nước dâng được thuyền thì nhấn được thuyền, thuyền lật úp hay băng băng vượt gió lại phải xem người cầm lái. Cái chuyện dùng người, trị quốc an dân, kì thực không thoát một chữ “ nhân ”. ”

“ Ý của tiên sinh là? ”

Lê Lợi đã mơ hồ nhận thấy được điều gì, thế nhưng còn chưa thể phá được lằn ranh mỏng sau cùng, chung quy vẫn còn thiếu một chút.

Nguyễn Trãi bèn nói:

“ Hồ Nguyên Trừng tài hoa xuất chúng, Giản Định đế tráng chí hào hùng, Trùng Quang đế anh minh thần võ… đáng tiếc muốn xứng làm đấng minh quân thiên cổ thì còn thiếu một thứ. Trước đây ngài cũng chưa có, nhưng hiện tại xem ra đã có rồi. ”

Lê Lợi im lặng, tiếp tục chờ.

Rốt cuộc “ thứ ” mà Nguyễn Trãi nói là thứ gì mà đến bản thân chàng cũng không biết??

Nguyễn Trãi tự rót một chén, dốc cạn, lại nói:

“ Là ánh sáng. ”

“ Ánh sáng? ”

Nguyễn Trãi càng nói càng khó hiểu, càng nói càng bí ẩn.

Lê Lợi nhìn lên nhìn xuống, tự thấy bản thân làm gì có thứ hào quang mà y nhắc, không khỏi ngẩn ra.

Nguyễn Trãi bèn tiếp:

“ Kì thực thứ ánh sáng mà ngài có không có ở trên thân ngài, mà nằm ở thiên hạ! Thế cục bây giờ nước sôi lửa bỏng, trăm họ lầm than, giặc cướp hoành hành, bọn tiểu nhân mọc lên như nấm, bậc anh hùng tựa lá mùa thu. Quả chẳng khác nào đêm dài vô tận. Ba người kia có hùng tài đại lược, cũng chỉ thấy rặt là bóng đêm. Còn ngài… ngài thấy được ánh sáng. ”Lê Lợi gãi gáy, nói:

“ Tiên sinh đề cao ta quá rồi. Lê Lợi tự thấy bản thân không có hùng tài đài lược, cũng không có hùng tâm tráng chí như ba vị anh hùng tiên sinh vừa nói. ”

Nguyễn Trãi bèn cười, bỗng nhiên lại hỏi:

“ Thế để ta đổi phương pháp một chút. Xin hỏi ngài một câu, ngài vì sao mà lộng gươm múa kiếm? Vì thiên cổ bá nghiệp, hay vì thiên hạ thương sinh? ”

Lê Lợi nghĩ một chốc.

Đúng. Chàng là vì cái gì mà hương lửa đương nồng đã chuẩn bị dứt áo ra đi?

Vì bá nghiệp thiên thu ư?

Hay vì trăm ngàn bá tánh?

Lê Lợi tự hỏi, lại cũng tự thấy sức mình có hạn, sao có thể dùng lực một người mà cứu được muôn dân kia chứ?

Thành thử, mới lên tiếng rằng:

“ Kì thực Lê Lợi tự nhận mình không có tráng chí hào hùng như tiên sinh nói. Chẳng qua nếu Lê Lợi cầm gươm ra trận thì số người được bình an vui vẻ sẽ nhiều hơn một chút so với chuyện bình chân như vại mà thôi. ”

Nguyễn Trãi nghe đến đây, như đã đoán trước được đáp án của chàng, bèn cười vang:

“ Đó, chẳng phải ngài có thứ đó rồi đấy à? Thứ ánh sáng ngài mà tôi bảo ngài nhìn thấy được đấy, là “ phúc ” của bá tánh. Ba người kia tuy có muôn vạn hùng binh, thành cao hào rộng, nhân tài lương đống, nhưng lại không thấy được cái “ phúc ” này. Họ cầm gươm là để chém tan bóng tối, ngài cầm gươm là để bảo vệ cái mầm sáng!

Gươm của ngài có sắc bằng trời, cũng chém không được bóng đêm. ”

“ Tức là… thực chất muôn dân vốn đã chẳng cần ai bảo vệ. Cái họ cần chỉ là điểm sáng mà tiên sinh nói? ”

“ Chính thị. Dưới gầm trời thực chất chẳng có thứ gì địch nổi lòng dân. Ngài thử nói xem. Lấy sức người có hạn, đi bảo vệ thứ vô địch, có dở hơi hay không? Lòng người li tán thì có là nước lớn cương thổ muôn vạn dặm như đất Tần cũng phải chia năm xẻ bảy. Lòng người hội hợp thì một dúm đất cũng thành bất khả xâm phạm. Đó… là nhân giả vô địch! ”Lê Lợi nghe xong, bèn đứng dậy, chắp tay nói:

“ Mình ta say cùng thơ rượu.

Muôn người tỉnh với lợi danh.

Hiệp giả đại đạo vô nhân tẩu.

Gian nhân tiểu lộ vạn khách hành.

Thời buổi loạn lạc nhiễu nhương, con đường của bậc hiệp giả vốn đã rộng thênh thang nay lại càng vắng vẻ tiêu điều. Thế nhưng hôm nay Lê Lợi được tiên sinh chỉ điểm, không bước vào con đường này e là lòng không yên được rồi. Tiên sinh là người đi trước, liệu có thể phụ giúp cho ta một hai được hay chăng? ”

Nguyễn Trãi bèn đáp:

“ Tôi còn chuyện cần phải làm, xong việc sẽ tự đến Lam Sơn đầu quân cho ngài. ”

“ Không biết tiên sinh có cần người trợ giúp hay không? Chỉ cần trong khả năng, Lê Lợi tự nhiên sẽ giúp đỡ hết mình. ”

Lê Lợi bèn khảng khái.

Lúc này chàng thực lòng thực dạ nghĩ muốn giúp đỡ Nguyễn Trãi một lần để trả cái ơn dẫn đạo, thành thử những toan tính khác đều vứt ra sau đầu không nghĩ gì tới.

Nguyễn Trãi thấy ánh mắt chàng chân thành, biết ấy chẳng phải hư tình giả ý, bèn đáp:

“ Muôn đội hậu tình, tiếc là chuyện này vốn là chuyện cơ mật, càng ít hưng sư động chúng thì càng tốt. Huống hồ nếu tôi không tự tay mình làm, thì chẳng còn ý nghĩa gì nữa. ”

Nói đến đây, y bèn cười khẽ, rồi tiếp:

“ Lại nói, đợi tôi làm xong chuyện, chúa Lam Sơn ngài còn được lợi lớn bằng trời nữa đấy. ”

Lê Lợi nghe được ý kiên quyết của Nguyễn Trãi, bèn không nói gì thêm. Nãy giờ hai người đối ẩm chuyện trò quên hết chung quanh, nay đã có chút rát họng, bỗng nhiên thấy trên bàn đã để mấy đĩa thức ăn với chén bát đủ cả.

Lê Lợi thấy thế, bèn nói:

“ Thế thì trước khi tiên sinh đi, xin hãy để Lê Lợi tôi tận nghĩa chủ nhà thết đãi tiên sinh một bữa, thay lời chúc tiên sinh sớm ngày mã đáo thành công đi. ”

Hai người ăn uống một bữa, đàm luận tới tận khuya, giống như tri kỷ chỉ hận gặp nhau quá muộn. Mãi đến lúc trăng ló quá con sào chàng mới tiễn Nguyễn Trãi ra tận cửa, chờ bóng y khuất hẳn mới trở vào, vừa vặn thấy nàng Ngọc Lữ đang thu dọn chén đũa.

Lê Lợi thấy vậy, bèn nói:

“ Những chuyện này sau này mình cứ bảo người nhà làm là được, ngộ nhỡ đụng phải dao thớt hay mảnh bát mẻ kho gì đó chảy máu, không tốt đâu. ”

Trịnh Ngọc Lữ đáp:

“ Vợ phân ưu với chồng là lẽ đương nhiên, nâng khăn sửa túi vốn là chuyện nên làm. Em xuất thân bần hàn, những chuyện thế này nhắm mắt cũng xong thì có gì mà ngại. Huống hồ mình bây giờ vị thế đã khác xưa, cái ăn cái uống của mình em không an tâm giao cho người khác. ”

Lê Lợi nắm lấy tay vợ, nghìn lời vạn chữ trong lòng không nói ra hết.

Chương 262: Hồi hai mươi tư (7)

Lại kể chuyện Tạng Cẩu Phiêu Hương…

Hai người phá xong trận mười tám người đồng, lấy được bộ Niết Bàn kinh thì bán lại căn nhà cho một lái buôn, mua lấy hai con ngựa tốt, lại dành ra một ngày chuẩn bị lương khô nước uống. Trước hôm lên đường, Khiếu Hóa tăng dẫn theo một cô bé con đến tiễn. Cô bé răng trắng môi hồng, tóc buộc thành hai cái bím ở bên đầu, vừa đi tóc vừa lúc lắc sang hai bên, quả thực dễ thương như một hình nhân bằng sứ.

Ấy chính là con gái của Lê Lễ.

Số là hồi ấy Lê Lễ, lúc ấy vẫn là Trần Đĩnh, vừa chạy từ Hàm Tử quan về nhà. Giữa đường y tưởng hóa điên hóa dại, tự hủy đi dung mạo, trở thành bộ dáng người không ra người quỷ không ra quỷ. Trải qua trăm cay nghìn đắng vào được thành Đông Đô thì mới phát hiện nhà tan cửa nát, vợ chết con thơ.

Lúc ấy y định chết theo vợ, thì bỗng có tiếng con kêu lên thất thanh, y mới tỉnh táo được một chốc, theo bản năng lên tiếng muốn nhận mặt con. Tiếc là cô bé nhìn thấy một người đàn ông diện mạo hung tợn ôm xác mẹ mình, liệu có thể nghĩ y là người tốt được chăng? Thành ra y có muốn nhận con cũng không thể.

Vừa hay có Khiếu Hóa tăng đi ngang qua. Ông sư già bình thường nhìn như tùy ý xuề xòa, nhưng tâm tư nhạy bén cẩn mật, vừa nhìn qua đã đại khái biết được chuyện gì xảy ra. Hiểu nhầm giữa hai cha con bi kịch, làm Khiếu Hóa tăng chạnh lòng, mới thương tình thay Trần Đĩnh cưu mang dạy dỗ con nhỏ.

Ông lại thấy cô bé này tư chất sáng suốt thông minh, viết chữ rất đẹp, thế là nhận cô bé làm đệ tử đầu tiên và cũng là sau cùng của mình. Từ ấy con gái của Lê Lễ theo ông, thay ông chi chép An Nam thần binh phổ.

Ông gặng hỏi kỹ, thì mới biết mẹ cô bé đặt cho con mình cái tên Linh Lan.

Hiểu lầm giữa hai người quá sâu, Khiếu Hóa là người ngoài chẳng tiện nói chen vào, thành ra chỉ biết thở dài thườn thượt mỗi lần Linh Lan chửi mắng cái người hôm ấy bên xác mẹ mình. Có lẽ chỉ có nàng Đồng Xuân mới khuyên can nổi cô bé, tiếc là nàng đã tạ thế, chuyện giữa hai cha con chẳng biết lúc nào mới có thể được làm sáng tỏ.

Lại kể sau chuyện ấy Trần Đĩnh rời khỏi Đông Đô, cứ nửa mê nửa tỉnh. Lúc mê man thì chỉ nghe bên tai có tiếng vợ dịu dàng gọi tên, bốn phía văng vẳng anh em bè bạn lúc trước trong quân cười hào sảng. Có đến mấy chục bận y đã tự nhủ con gái đã có Khiếu Hóa bảo bọc, bản thân sống trên đời chẳng còn ý nghĩa gì, chỉ muốn chết quách đi cho xong.

Thế nhưng có lẽ mạng y chưa tận, đến lúc khẩn yếu nhất y lại tỉnh táo lại, thầm nhủ thù của Hồ Đỗ Hồ Xạ chưa báo, hiểu nhầm với con gái chưa giải. Nếu y chẳng may chết rồi thì ai thay y làm, xuống dưới cõi âm còn mặt mũi nào nhìn mặt người cũ? Thế là Trần Đĩnh cứ nửa mê nửa tỉnh lang thang đến thành Hoa Lư gặp được Lê Lợi và Phạm Ngũ Thư.

Hồ Phiêu Hương trông Linh Lan đáng yêu hết mực thì thích lắm, hai chị em tíu tít dắt nhau đi chơi quanh nhà.

Linh Lan có trí nhớ rất tốt, thấy đao Lĩnh Nam của Hồ Phiêu Hương bèn nói luôn một tràng. Nào là đao Lĩnh Nam và kiếm Đông A vốn được thánh tổ đúc làm một đôi. Đáng tiếc là ba chục năm trước nằm trong tay của Hỏa Công Băng Bà lại trở thành tử thù. Đến lúc hai người kia mất tích, kiếm rơi vào tay Thiên Cơ lão đạo, mà đao thì trời xui quỷ khiến thế nào lại lọt vào cung. Hồ Hán Thương không phải người trên giang hồ, không biết đao Lĩnh Nam là thánh vật, bèn ban cho con gái phòng thân.

Hồ Phiêu Hương thấy cô bé liến thoắng như thế, tính trẻ con bèn nổi lên, bảo:

“ Nghe em nói mà chị vỡ ra nhiều điều quá. Thế nhưng có một chuyện chị nghĩ mãi không thông, hôm nay gặp em là chân truyền của Khiếu Hóa tăng, không biết có thể giải đáp được hay không? ”

Linh Lan được khen thì phổng mũi, vỗ ngực nói:

“ Không hề chi, chị cứ hỏi đi. ”

“ Thánh tổ đúc tám món thần binh là chuyện của thời nhà Lí. Nhưng hai chữ Đông A ghép lại ra chữ Trần, vốn từ thời nhà Trần kháng Nguyên mới có ý nghĩa. Tại sao thánh tổ lại đặt tên kiếm bằng một từ vô nghĩa là Đông A? ”
Hồ Phiêu Hương đảo mắt, chậm rãi.

Quả nhiên cô bé Linh Lan trẻ người non dạ, rơi vào bẫy của Hồ Phiêu Hương, lúc này mới á khẩu, cứ “ chuyện này… ” “ cái này… ” nửa ngày trời cũng không đáp nổi. Lúc này thấy ánh mắt Hồ Phiêu Hương hấp ha hấp háy, mới biết bị trêu, thành ra lăn đùng ra dỗi.

Khiếu Hóa tăng với Tạng Cẩu thì đứng qua một bên, bàn chuyện chính sự.

Tạng Cẩu mở lời trước:

“ Ông Khiếu Hóa, có chuyện này con muốn hỏi ông. ”

“ Con muốn biết chuyện về Mạc Thúy? ”

Khiếu Hóa tăng đương nhiên đã biết xuất thân của Tạng Cẩu, tự nhiên biết cậu chàng gánh mối thù của thôn Điếu Ngư với tên phản tướng nọ. Thành thử, ông cũng có ý dùng dằng chưa muốn nói sự thật.

Tạng Cẩu tự nhiên nhìn ra được Khiếu Hóa tăng biết chuyện gì. Thế nhưng dường như ông còn có điều khó xử, không muốn tiết lộ cho cậu chàng. Song thù lớn còn chưa trả, hận ấy còn chưa đền, há lại có chuyện bỏ qua như thế? Thành thử cậu chàng bèn lên tiếng nài nỉ:

“ Khiếu Hóa tăng, ông coi như nể mặt sư phụ con, cho con biết đi. ”

Khiếu Hóa bèn thở dài, nói:

“ Cái này ông cũng chỉ nghe đồn thôi, không biết đúng sai ra làm sao. Nhưng hai năm trước y háo thắng lập công với triều Minh, đưa quân lên vùng núi non phía bắc đánh nghĩa quân của Nông Văn Lịch. Quân Hậu Trần cử đảo chủ đảo Bạch Long Hoàng Thiên Hóa đến trợ chiến. Mạc Thúy lọt vào phục kích, bị Nông Văn Lịch cầm nỏ cứng bắn cho một mũi tên. Đầu tên có bôi chất độc của Hoàng Thiên Hóa, e rằng trừ phi Tuệ Tĩnh thiền sư về nước Nam cứu y một mạng, bằng không thần y của Tàu có giỏi bằng trời cũng đành bó tay. ”Tạng Cẩu nghe được kẻ tử thù e rằng đã táng thây, lòng vừa hả hê lại có phần mất mát.

Nói đoạn, cậu chàng lại thấy tò mò về vị đảo chủ đảo Bạch Long này, bèn hỏi:

“ Hoàng Thiên Hóa này là ai, độc của y thực là đáng sợ như thế ư? ”

Khiếu Hóa tăng cười:

“ Y là một trong bảy tông sư. Tuy là võ lực tính ra là yếu nhất trong bảy người bọn ta, nhưng hạng như con thì còn khuya mới chống nổi năm chục chiêu dưới tay y. Lại nói, kì thực y và Tuệ Tĩnh thiền sư có thể xưng là sư huynh đệ. Tuệ Tĩnh thiền sư tục xưng là Y Thánh, thì con nghĩ xem độc công của Hoàng Thiên Hóa có thể yếu hay sao? Hồi ấy nếu không phải y chỉ có lòng tranh võ công cao thấp không dùng đến độc, thì chưa chắc ba tấm thánh lệnh đã vào tay Quận, Cứu Khổ đại sư và Thiên Cơ lão đạo. ”

Tạng Cẩu sau khi biết vị đảo chúa Bạch Long này có độc công một chín một mười với Tuệ Tĩnh thiền sư, thì không khỏi hít một hơi khí lạnh.

Khiếu Hóa tăng bèn nói tiếp:

“ Hai người này thực ra đều là môn hạ cuối cùng của phái Dược Tiên. Môn phái này có từ thời Văn Lang, tương truyền tổ sư đời thứ nhất chính là tổ mẫu Âu Cơ. Phái này mỗi đời chỉ thu hai người đệ tử, lại cố tình chọn người đã ngoài ba mươi, có môn phái đàng hoàng. Sau đó một người được truyền dạy độc kinh, một người được dạy cho y kinh. Tuệ Tĩnh thiền sư được truyền thụ độc kinh. ”

Tạng Cẩu bèn nói:

“ Không phải chứ? Tuệ Tĩnh thiền sư lại học độc kinh? ”

Cậu chàng nghĩ đến chuyện ông thiền sư hiền từ kia dùng độc hại người thì không khỏi rùng mình.

Khiếu Hóa tăng bèn giải thích:

“ Phái này trước giờ vẫn kì lạ như thế đấy. Nghe đâu là tổ mẫu dặn dò, tìm người có mối hận lớn mà truyền y kinh, tìm người có tâm địa thiện lương để truyền dạy độc kinh. Thế là cả ngàn năm nay không biết có bao nhiêu kẻ tội ác chất chồng được bộ y kinh cảm hóa, thành thần y tế thế cứu dân. Đáng tiếc, số người lương thiện vì có độc kinh mà càng ngày càng sa đọa cũng không phải là ít. Dĩ nhiên, thiền sư Tuệ Tĩnh không nằm trong số những người này. ”

Nói đoạn, ông tằng hắng một tiếng, lại nói:

“ Y độc vốn cùng một gốc, không phân chính tà, mà là do các bậc tiên hiền khổ tâm nghiên cứu ngàn năm mới đúc kết thành hai bộ sách quý. Thành thử lúc truyền cho hậu thế cũng không thể nhất bên trọng nhất bên khinh, thế chẳng khác gì khinh nhờn công sức người xưa. Kẻ dùng độc dễ làm ác, người hành y dễ cứu người, nên mới cố tình tìm người lương thiện để bảo quản độc kinh, tìm kẻ ác để trao cho y kinh. Người thiện có thể giữ mình, kẻ ác có thể được cảm hóa, thì là cái phúc của thiên hạ.

Thiền sư Tuệ Tĩnh lúc đúc ba tấm thánh lệnh từng nói hành y hay dụng độc cũng như là làm người, thiện ác kì thực cũng phải hỏi lương tâm của chính mình mà ra. Ông tự mình dung hội quán thông độc kinh, hiển nhiên không phải để giết người, mà dựa vào dược lí trong độc kinh để tìm căn nguyên nguồn cội của trăm bệnh nghìn độc trong thiên hạ từ đó mà trị bệnh tận gốc. Sau cùng đã thoát khỏi cái bóng của độc kinh, tự tạo thành một con đường riêng, có thể nói là con hơn cha nhà có phúc. ”

Chương 263: Hồi hai mươi tư (8)

Tạng Cẩu bèn nói:

“ Thế nhưng kẻ hành y cứu chữa cho kẻ ác thì cũng bằng tiếp tay cho phường gian. Người dùng độc mà biết giết chết kẻ tà thì cũng chính là đạo hiệp nghĩa. Nếu con đoán không nhầm, vị đảo chủ kia sau khi có được y kinh, cũng đã “ con hơn cha ” như Tuệ Tĩnh thiền sư, dùng thuốc làm độc. Còn liệu nhà này có phúc hay không thì còn chờ ông kể tiếp. ”

Cậu chàng biết khi không Khiếu Hóa tăng nhắc đến mối quan hệ giữa Hoàng Thiên Hóa và Tuệ Tĩnh thiền sư, ắt hẳn phải có dụng ý.

Khiếu Hóa tăng bèn đáp:

“ Nói đến Hoàng Thiên Hóa thì chỉ có thể nói một chữ là hận. Y hận sư phụ chia uyên rẽ thúy, hận bản thân vì đã nóng nảy xung động, hận đồng môn vì cạn tàu ráo máng, hận phái Dược Tiên tại sao lại cho y y kinh mà không phải độc kinh. Y cũng dựa vào y kinh, dựa vào nguyên tắc “ thuốc có ba phần độc ”, từ thần dược cứu người tạo nên độc dược giết người không thấy máu. Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa, rốt cuộc hai truyền nhân của phái Dược Tiên cũng có cơ hội đọ tài. Một người hạ độc, một người trị độc, đấu nhau một ngày một đêm. Hoàng đảo chủ cũng vang danh chốn giang hồ từ đó. ”

Tạng Cẩu bèn nói:

“ Ông Khiếu Hóa, ông kể chuyện này cho con nghe có phải muốn con giữ lấy mình, chớ có vì có võ nghệ mà thay tâm đổi tính có phải không? ”

Ông sư ăn xin bèn cười khà, bảo:

“ Đấy, những lúc mày không phát bệnh ngơ thì có đến nỗi nào đâu? ”

Khiếu Hóa tăng lại truyền thụ cho Tạng Cẩu những chỗ tinh diệu trong chiêu Hôm Mai Vượt Bể mà cậu chàng chưa nắm được, rồi mới tiễn chân hai người.

Tạng Cẩu và Phiêu Hương nhìn nhau một cái, trong hành lí cất quyển kinh Niết Bàn chứa bí mật Rồng Không Đuôi, cùng nhau đánh cương thúc ngựa chạy về phía tây. Đến chiều thì đến thành Lạc Dương, bèn tìm một quán trọ mà trú chân.

Lúc này người trong quán đã hơi đông, quán trọ vốn không lấy gì làm sang quý cũng vì thế càng thêm bí bức ngột ngạt. Tạng Cẩu và Phiêu Hương hỏi thuê phòng xong xuôi, bèn chọn đại một bàn trong góc ngồi xuống chờ nhà bếp làm đồ ăn. Lúc này ở bàn góc trong cùng phía tây bỗng có người lên tiếng:

“ Các vị hay tin quân Oa Khấu lại đánh vào Thanh Châu chưa? ”

Một người nữa đáp:

“ Triều đình có cử một vị tướng quân ra dẹp giặc, nghe đâu là họ Liễu thì phải. Không biết có làm được trò trống gì không nữa. ”

“ Chớ coi thường. ” – Kẻ lớn tuổi nhất bàn nói chen vào: “ Tay Liễu Thăng này từng đánh tan quân Mông Cổ của A Lỗ Đài ở Nhạn Môn quan, không đơn giản đâu. ”

Tuy không hề có ý nghe lén, nhưng hiện giờ công lực Tạng Cẩu đã có thành tựu, thành thử ba người nói gì cậu chàng nghe không lọt một chữ. Lúc thấy cả ba nhắc đến Liễu Thăng, Tạng Cẩu mới bất giác nghĩ đến lời Khiếu Hóa tăng nói trước cái hôm phá trận người đồng. Bấm tay đếm ngày thì lần cuối hai anh em gặp nhau đã là năm năm trước ở Nhạn Môn quan, không khỏi có chút chạnh lòng.

Hồ Phiêu Hương công lực không bằng Tạng Cẩu, tất nhiên không nghe thấy những người kia nói gì. Song cô nàng thấy nét mặt cậu chàng biến hóa, cũng biết là bạn có tâm sự.

Lúc này, gã trẻ nhất lại nói:

“ Nghe đồn Bách Nhân Đồ Tần Trảm liên hợp các phái, muốn mở đại hội võ lâm ở Tây An bàn chuyện phá giặc Oa. ”

“ Tần Trảm? Là cái kẻ đánh bại Trấn Tam Giới ấy hả? Chà… nếu không phải y và Đào Khiêm liên thủ đánh bại Tất Thắng, có khi đến bây giờ cả võ lâm này cũng không biết chuyện lão ta thông địch bán nước. ”
“ Đúng là không ngờ… Y đường đường là minh chủ một tỉnh, quyền cao chức trọng, gia tài bạc vạn, đã đạt tới tột đỉnh vinh hoa rồi, thế mà lại đi thông đồng với giặc Oa. Nay thân bại danh liệt, đáng kiếp lắm! ”

Bọn họ còn ngồi thóa mạ một hồi, từ ngữ hết sức dơ dáy bẩn thỉu. Tạng Cẩu nghe được một chốc, đoán chừng ba người không nói thêm chuyện gì quan trọng nữa bèn thôi không lí gì tới họ.

Hồ Phiêu Hương xem sắc mặt, đoán được cậu chàng dường như nghe được chuyện gì quan trọng, bèn huých vào tay Tạng Cẩu một cái, thấp giọng:

“ Nghe được gì rồi đúng không? ”

Tạng Cẩu đáp:

“ Phía đông có quân Oa đánh vào, Chu Đệ phái Liễu Thăng tới ứng chiến. Mà cái anh Tần Trảm cũng gửi thư mời võ lâm các phái đến Tây An một chuyến bàn cách chống địch. ”

Hồ Phiêu Hương lại nghĩ thầm:

[ Quái. Tần Trảm bây giờ là võ lâm minh chủ ở Sơn Tây, Tất gia trang ở Thái Nguyên. Đại hội võ lâm không họp ở đấy thì cũng chọn Võ Đang hay Thiếu Lâm, tự nhiên vượt ngàn dặm lên tận Tây An làm cái quái gì kia chứ? ]

Thấy có sự mờ ám, cô nàng bèn hỏi tiếp:

“ Cẩu còn nghe được chuyện gì nữa, nói ra tớ nghe thử. ”

Tạng Cẩu thuật lại chuyện Tất Thắng là gian tế cho Hồ Phiêu Hương nghe. Xong xuôi đâu đấy còn chêm một câu:

“ Cũng may hồi đó Hương nhìn ra bộ mặt thật của lão sớm, bằng không bây giờ hai đứa mình đã xanh cỏ dưới nấm mồ rồi. ”

Người nói vô tâm, người nghe lại hữu ý.Hồ Phiêu Hương bất giác tự hỏi.

Nếu Tất Thắng quả thực là gian tế, thì lão có tin tưởng nâng đỡ kẻ khác lên nắm giữ hắc đạo Thái Nguyên hay không? Thân là gian tế có khác nào đứng trên đống lửa ngồi tại đống than, sao lại có chuyện tin tưởng kẻ khác một cách dễ dàng?

Chứng tỏ…

Hoặc là lão tuổi già đột nhiên ngu bất chợt, hoặc là Đào Khiêm kì thực cũng là gian tế, hắn và Tất Thắng thờ chung một chủ.

Tất Thắng có thể xưng làm Trấn Tam Giới, làm đến minh chủ một tỉnh thì tự nhiên không thể là kẻ ngu. Như vậy, cũng chỉ còn chừa lại khả năng thứ hai: Đào Khiêm mượn tay Tần Trảm để thanh trừng lẫn nhau.

Mà đây lại là cái đáng sợ của Đào Khiêm.

Nếu như y dùng một kế liên hoàn phức tạp mà đáng sợ, kẻ ngu sẽ bị qua mắt, nhưng người có đầu óc nhìn vào sẽ chỉ xuất hiện nghi vấn chồng chất nghi vấn. Con người vốn có thiên tính tò mò, cái gì khiến người ta nghi ngờ, người ta càng thấy hứng thú. Mà nếu đã khiến kẻ trí giả hứng thú muốn đi tìm đến đầu đến đũa rồi, thì than ôi, có là kế trời kế biển thì cái kim trong bọc cũng phải có ngày lòi ra.

Mà kế sách phức tạp như vậy, một khi bị phá giữa chừng, thì không cách nào thực hiệp tiếp được nữa. Bao năm nhọc lòng tính toán sẽ đổ sông đổ bể ngay.

Loại kế sách phức tạp ấy chỉ có kẻ biết hết chuyện thiên hạ, tính toán vô vàn biến hóa trong cuộc đời không sai một li nào mới làm được.

Loại người như thế chắc chắn không tồn tại.

Mà nếu loại người này không tồn tại, thì thứ kế liên hoàn kia cũng chỉ tồn tại trên lí thuyết mà thôi.

Nhưng Đào Khiêm dùng một kế rất đơn giản.

Đơn giản từ cách thực hiện, đến động cơ lợi ích.

Mục đích của y quá rõ ràng, nhìn lướt qua là có thể phát hiện, thành thử mới khiến cho người ta không cảm thấy tò mò.

Nếu đã tưởng mình “ biết tỏng ” mục đích của hắn, thì tự nhiên những người thông minh như Hồ Phiêu Hương hay kinh nghiệm lăn lộn giang hồ phong phú như Tần Trảm mới không nghi ngờ gì nữa. Mà như thế, mới không ai cản mũi Đào Khiêm đạt được mục tiêu khác sâu xa hơn. Đạo lí này gọi là “ thả con săn sắt, bắt con cá rô ”.

Cái gọi là “ ta muốn lật đổ Tất Thắng ”, chẳng qua là một miếng mồi hắn thả ra cho Tần Trảm mà thôi.

Nghĩ theo hướng này, thì tự nhiên chuyện Tần Trảm muốn tổ chức đại hội Võ Lâm ở Tây An cũng không còn khó hiểu nữa.

Hồ Phiêu Hương nghĩ đến đây, bèn vỗ bàn, nói:

“ Cẩu! Đi! Chúng ta phải đến Tam Môn Hiệp gấp! ”

Chương 264: Hồi hai mươi tư (9)

“ Hả? Sao tự nhiên lại vội vã thế? ”

Té ra Tạng Cẩu còn đang ăn dở, nhưng thấy sắc mặt cô bạn ngưng trọng mười phần, bèn buông đũa chăm chú lắng nghe.

Hồ Phiêu Hương bèn nói:

“ Tớ sẽ giải thích sự thể mọi chuyện trên đường. Mau đi thôi… ”

Hai người nhanh chóng ăn uống, nghỉ ngơi một chốc, rồi leo lên ngựa phi về tây, may mà vừa kịp lúc cửa thành sắp đóng. Lính gác có khuyên bảo Tạng Cẩu và Phiêu Hương chớ nên ra khỏi thành lúc mặt trời sắp lặn, nhưng hai người có chuyện gấp nên tự nhiên không nghe theo.

Ra khỏi thành, Tạng Cẩu và Phiêu Hương bắt đầu thả cho ngựa chạy chậm lại. Mặt trời đã sắp lặn, mây kéo che trăng, nếu không phải hai người đều có công phu nội gia không tệ thì dù có giơ bàn tay ra trước mặt cũng không thể thấy được năm ngón. Lúc đôi mắt đã dần quen với bóng tối, Tạng Cẩu mới hỏi:

“ Cậu nghĩ ra chuyện gì à? ”

Hồ Phiêu Hương bèn kể hết những gì mình suy luận được lúc ở quán rượu cho Tạng Cẩu.

Tạng Cẩu nghe xong, bèn nói:

“ Tớ hiểu rồi. Anh Tần Trảm muốn tránh khỏi độc thủ của Đào Khiêm thì ắt sẽ chạy đến nhà vợ ở Tam Môn Hiệp. ”

“ Anh Tần Trảm từng đoán rằng Đào Khiêm muốn thuê mình sát hại cha vợ, chứng tỏ lão hẳn là kẻ có máu mặt trong hắc đạo, một thời ba khắc hẳn là có thể bảo vệ được vợ chồng Tần Trảm. Song tên Đào Khiêm kia ngụy kế đa đoan lòng dạ hiểm ác, chúng ta đến tri viện cho họ thì hơn. ”

Hồ Phiêu Hương vừa nói, vừa cười:

“ Đằng nào Tam Môn Hiệp cũng nằm trên đường chúng ta đến Tây An. ”

Tạng Cẩu cười khì, nói:

“ Tớ thấy Hương đang áy náy cái chuyện lần trước ở nhà anh Tần Trảm thì có. Hình như có ai đó tưởng mình thông minh, nhanh nhảu đoảng khiến người ta rơi vào bài bố của Đào Khiêm. ”

“ Nói gì cơ? Cái đồ đái dầm! Lớn đầu còn sợ ma… ”

Hai người vừa cười đùa, vừa phi ngựa.

Lúc bình minh ló rạng thì cả hai đến một trấn nhỏ. Tạng Cẩu và Hồ Phiêu Hương tìm chỗ buộc ngựa, vừa nghỉ ngơi trong thoáng chốc vừa hỏi đường đến Tam Môn Hiệp, thuận tiện dò la tin tức. Đường lão anh hùng Đường Vân của Tam Môn Hiệp trước vốn là chủ của mười tám lộ sơn trại thủy đạo, đối kháng với bốn đương gia. Gần đây con rể lão lại thành minh chủ võ lâm chính đạo Sơn Tây, thành thử thanh danh lão cũng lên như diều gặp gió. Hai người hỏi đường thoáng cái đã biết được đại khái. Thấy lão chưa có bề gì, ắt hẳn Đào Khiêm còn chưa tìm tới, hai người mới yên tâm phần nào.

Tạng Cẩu vừa gặm bánh bao, vừa nói:

“ Này, tớ chợt nhớ ra một chuyện. ”

Hồ Phiêu Hương nhấc chung trà, hỏi:

“ Cẩu nói xem. ”

“ Anh Tần Trảm chưa chắc đã trở về Tam Môn Hiệp đâu. ”

Nghe cậu chàng nói, cô bèn chậm rãi đưa tay vén tóc mai qua tai, ánh mắt hơi lộ vẻ chờ đợi. Tạng Cẩu uống một hớp trà, rồi nói tiếp:

“ Anh Tần Trảm và vợ chạy đến chỗ nhà cha vợ ở Tam Môn Hiệp cố nhiên là có thể giữ mạng, song ắt cũng liên lụy đến nhà ngoại. Thế lực của Đào Khiêm bây giờ rất mạnh, cha vợ của anh ta e rằng khó mà chống nổi. Nếu tớ là anh Tần Trảm, tuyệt nhiên sẽ không trở về, tránh khỏi liên lụy đến người nhà. ”

Hồ Phiêu Hương bèn nói:

“ Tưởng gì, chuyện này tớ cũng đã nghĩ đến rồi. Nhưng Cẩu thử nghĩ mà xem, bây giờ Đào Khiêm có thể lấy danh nghĩa của anh Tần Trảm phát ra thiệp mời võ lâm, chứng tỏ thế lực chính đạo ở Thái Nguyên cũng ít nhiều lọt vào tay gã rồi. Anh Tần Trảm làm người kiêu ngạo, tất nhiên sẽ không chịu hàm oan để cha vợ hiểu lầm mình sâu thêm. Trở về Tam Môn Hiệp… ”“ Không phải để tìm sự che chở, mà là để giải thích và cảnh báo cho cha vợ. ”

Tạng Cẩu kết luận.

Hồ Phiêu Hương gật đầu, nói:

“ Huống hồ, nếu bây giờ đi thẳng đến Tây An, thể nào cũng có kẻ bám đuôi cho xem. ”

“ Chẳng phải đã bàn nhau rồi sao? Sớm mai cứ thế mà làm… ”

Tạng Cẩu nói

Hai người cẩn thận nghỉ ngơi lại trấn nhỏ một ngày, sau đó vào tinh sương hôm sau lặng lẽ đổi trang phục. Nhân lúc gà còn chưa gáy, hai người dắt đại hai con ngựa tồi trong chuồng khác ra mà thúc cương. Trước đấy Tạng Cẩu đã nghe lén, biết chủ nhân của đôi ngựa sẽ nghỉ lại mấy ngày liền, thành ra mới nhắm vào chúng.

“ Ngựa tốt đổi ngựa tồi, xem như hai người có lãi. ”

Tạng Cẩu vừa leo lên yên cương cũ mèm, vừa cười.

Hai người đã sớm nói với nhau phải cắt đuôi Tửu Thôn, Gia Luật ra sao.

Vốn là Tạng Cẩu và Phiêu Hương định ở lại Lạc Dương ít bữa, làm bộ như muốn cắt đuôi hai người kia, rồi mới tìm cách lặng lẽ chuồn êm khi đến một trấn nhỏ nào đó. Song vì chuyện của Tần Trảm, cả hai cưỡi ngựa phi ra khỏi thành vào ban đêm, nhìn qua đã rất giống như muốn cắt đuôi kẻ khác rồi, nên có thể bỏ qua bước này.

Đến trấn nhỏ nào đó, giả vờ buông lỏng cảnh giác, nghỉ ngơi cho kỹ, rồi tinh sương đổi ngựa mà đi.

Nếu có ai hỏi, thì bảo là sáng sớm còn chưa tỉnh hẳn mắt mũi kèm nhèm nên dắt nhầm. Huống hồ, khổ chủ tự nhiên được hai con ngựa tốt, hẳn là không có vấn đề gì.

Tạng Cẩu và Phiêu Hương đổi hai con ngựa xấu, đi một vòng qua chợ, rồi đến trưa mới đủng đỉnh rời trấn.

Sở dĩ làm như thế, là để diễn cho bàn dân thiên hạ xem, tránh khiến người ta để ý, lưu lại manh mối cho Tửu Thôn, Gia Luật.

Cũng phải nói, võ công Tạng Cẩu bây giờ đã không thua kém gì hai kẻ kia, thế nên bọn hắn cũng không dám trắng trợn ở sát bên theo dõi hành tung của hai người. Mà nếu đã không thể theo đuôi trực tiếp, thì sẽ để ý đến đôi ngựa trong chuồng.Tạng Cẩu và Phiêu Hương ra khỏi trấn ở cổng bắc, đi vòng một quãng, rồi mới theo hướng cũ mà đi. Lần này hai người không dám lơ là, che giấu tung tích rất cẩn thận, thành ra đi hết chẵn ba ngày mới đến được Tam Môn Hiệp.

Lúc này trời đã chuyển chiều, trên đường cái đã vắng bóng người lại qua. Song may sao hai người vẫn bắt gặp được một lão nông về muộn để hỏi thăm tin tức.

Lão nông thấy tự nhiên có người từ chốn khác đến thì tỏ vẻ đề phòng. Tạng Cẩu cho tiền bạc thì lão cứ từ chối bây bẩy, sống chết cũng không hé môi nửa chữ với hai người. Nói đoạn, lão nông nọ kéo nón che xuống đi thẳng.

“ Lạ thật. ”

Tạng Cẩu thấy bị bỏ lại giữa đường, gãi gáy.

“ Hay là cứ tìm chỗ nào nghỉ lại rồi dò hỏi sau? ”

Nhìn sắc trời đã nhá nhem tối, cậu chàng bèn quay sang hỏi.

Hồ Phiêu Hương nghĩ một thoáng rồi nói:

“ Không được, chờ lâu là hỏng chuyện. Chúng ta cứ tìm chỗ nào buộc đại hai con ngựa trước, rồi đi ngay trong đêm, cứ nhè nhà nào còn sáng đèn thì ấy hẳn ắt là nơi ở của cha vợ anh Tần Trảm. ”

Tạng Cẩu tuy không hiểu tại sao cô bạn lại gấp gáp vội vàng như thế, song tin tưởng vào bạn, thành thử không dị nghị gì. Hai người buộc đại đôi ngựa vào một gốc cây bên đường, rồi lấy y phục đen ra thay, cẩn thận mượn bóng đêm mà thám thính thành trấn.

Mảnh trăng treo nơi đầu thành có mấy dải mây vắt qua…

Cơn gió đìu hiu từ những ruộng đồng quạnh quẽ rặt những gốc rạ thổi vào, mang theo mấy phần tư vị thê lương.

Trăng mờ…

Đêm tối…

Gió lộng…

Quả thực là thời cơ hoàn hảo để tập kích.

Tạng Cẩu và Phiêu Hương dùng khinh công tuyệt đỉnh, chậm rãi tiến về phía một trang viên bấy giờ vẫn sáng trưng đèn đuốc. Trong bóng tối, cậu chàng có thể nghe những tiếng chân rất khẽ, tiếng thở dãn và đều, và tiếng vải thô mài vào nhau xột xoạt. Đại khái trong phạm vi trăm bước chung quanh hai người có tầm năm đến bảy người nữa cũng đang mượn sự che chở của bóng tối mà tiến về phía tòa trang viên đang sáng đèn. Điều đó càng khiến hai người thêm chắc chắn rằng nơi đó chính là nhà của cha vợ Tần Trảm – Đường lão gia.

Tạng Cẩu vừa ra hiệu cho bạn hãm tốc độ lại, thì trong bóng tối trước mặt cậu chàng đã có một tiếng chó sủa vang lên, lúc bổng lúc trầm, cơ hồ chẳng theo một cái quy luật nào cả. Nếu không phải đã sớm biết chỗ đó có kẻ đang ẩn thân, thì Tạng Cẩu cũng không thể phân biệt được ấy là tiếng người hay tiếng chó sủa ma. Cậu chàng cố tình đè thấp hơi thở, lưng ép sát vào bức vách của một nhà dân gần đó, chờ đợi… Quả nhiên một lúc sau, có tiếng chó sủa từ phía đông vang lên. Những kẻ đang ẩn nấp cơ hồ chỉ chờ có thế, bắt đầu cẩn thận tiếng về tòa phủ đệ.

Đợi bọn chúng đi được một quãng, Tạng Cẩu mới ra hiệu để cô bạn thở ra một hơi.

Lúc này hai người đã biết điểm đến, cũng biết nhân mã phe Đào Khiêm còn chưa tập hợp đủ, nên cũng không mạo hiểm bám đuôi ngay để tránh bại lộ hành tung.

Hồ Phiêu Hương thấy chốn này hẳn đã an toàn, bèn rỉ tai Tạng Cẩu, tiếng chỉ như muỗi vo ve:

“ Anh Tần Trảm có ngoại hiệu là Bách Nhân đồ, tự nhiên là thiện nghệ chuyện lấy đầu người trong tối. Nếu bọn chúng đã cẩn thận đến vậy, thì suy đoán của chúng ta có lẽ đã đúng bảy tám phần rồi. ”

Cậu chàng bèn nói:

“ Sao Hương biết đêm nay bọn Đào Khiêm sẽ hành động hay thế? ”

Chương 265: Hồi hai mươi tư (10)

Hồ Phiêu Hương gió ngón tay búng một cái vào trán cậu chàng, cười mà đáp rằng:

“ Cẩu còn nhớ lão nông dân mình hỏi đường hay không? ”

“ Cái lão không lí gì tới mình rồi bỏ đi ấy hả? ”

“ Đúng vậy… ”

Hồ Phiêu Hương vén tóc qua vành tai, đoạn tiếp:

“ Lùi một vạn bước mà nghĩ, lão nông chân lấm tay bùn kia vì sao lại chê món tiền có thể giúp lão ăn mấy năm không hết, tậu trâu mua ruộng? Còn không phải là vì sợ bị liên lụy hay sao?? ”

Tạng Cẩu bèn hỏi:

“ Thế thì cũng chỉ có thể nói ông ta hiểu nhầm chúng ta và bọn Đào Khiêm cùng phe, việc gì phải sợ hãi thế? ”

Hồ Phiêu Hương bèn đáp:

“ Những cái lúc thế này, đám dân tham còn đáng sợ hơn là gian tế. Nếu tớ là cha vợ anh Tần Trảm, thì trước tiên là cử mấy thuộc hạ tín cẩn giả làm người từ nơi khác đến, sau đó làm trò mua chuộc người dân. Kế đó quay lại phạt nặng những kẻ nhận tiền để lộ tin tức, dùng chiêu giết gà dọa khỉ. Lão nông kia hẳn là bị dọa sợ vỡ mật một lần, tự nhiên là không dám hé răng nữa. ”

Tạng Cẩu gãi gáy, nói:

“ Cũng có lí. Nhưng làm thế có phải là hoành hành bá đạo, hà hiếp dân lành quá đáng hay không? ”

“ Cẩu thật là… có thưởng phải có phạt thì mới thu phục được lòng người. Tớ nghĩ cha vợ anh Tần Trảm đã hứa với dân trong vùng chỉ cần qua được nạn này, thì sẽ thưởng hậu. Kết hợp cả mềm mỏng với cứng rắn, tưởng thưởng và răn đe thì người ta mới làm theo ý mình được. Hiểu chưa? ”

Tạng Cẩu thầm lấy làm khó hiểu, bởi nếu những gì Phiêu Hương nói là đúng thì nhà Hồ đã chẳng đến nỗi nước mất nhà tan. Nhưng cậu chàng không biết phải đáp làm sao, thành thử chỉ biết im lặng không nói gì.

Rồi, Tạng Cẩu lại sực nhớ tình tiết quan trọng nhất thì Phiêu Hương vẫn chưa trả lời, bèn nói:

“ Hương có quên chuyện gì không đấy? ”

Hồ Phiêu Hương bèn đáp:

“ Cẩu còn nhớ phản ứng của ông cụ không? Nhìn bộ dạng vội vã bỏ đi của ông ta, ngoại trừ chuyện ông lão sợ bị phạt ra, thực ra còn có một khả năng… ấy là hôm nay lão ấy đã bị ai khác hỏi thăm rồi. Những chuyện này thà tin là có, chớ tin là không, thành thử tớ mới bảo Cẩu đi nhanh cho kịp… ”

Hai người chờ thêm một chốc, thì có tiếng chó sủa vang ba hồi liên tiếp.

Tạng Cẩu và Phiêu Hương nhìn nhau gật đầu một cái, đoạn cùng búng mình lao về phía trang viên còn đang sáng đèn. Cả hai đều có khinh công hiếm thấy, thành thử cả đám cao thủ đang tiềm phục trong bóng tối lẫn dân thường trong trấn đều không phát hiện ra hành tung của hai người.

Tạng Cẩu nép mình trong bóng của nhà cửa cây cối, chạy không thấy tiếng động, chẳng mấy đã thấy thấp thoáng phía trước có một đội nhân thủ cỡ năm chục người tề tụ trước một căn miếu hoang. Cậu chàng bèn thu người, nép sát vào tường viện, rồi nhân một cơn gió bung mình nhảy lên nép sau mái ngói khuất khỏi tầm mắt của bọn chúng.

Cậu chàng vừa hạ xuống mái ngói, thì đã cảm thấy mái tóc của Hồ Phiêu Hương vuốt nhẹ qua má. Hai người ép sát bụng vào lớp ngói, thở khẽ như sợi tơ. Tạng Cẩu lại vận nội công vào đôi tai, cố gắng nghe xem đám người trước cửa miếu đang nói gì với nhau.

“ Lần này chắc ăn không đấy? ”

Kẻ lên tiếng giọng ồm ồm như kẻ viêm họng, thành thử cậu chàng không đoán nổi thân phận của đối phương.

Lại có kẻ đáp:

“ Chắc cả mười mươi. Cá trên thớt chim trong rọ, còn chạy đi đâu được nữa? ”

Tiếp nữa, có một tên khác rụt rè:

“ Đèn trong trang vừa mới tắt, có khi nào có gian trá gì hay không? ”

Kẻ thứ ba này vừa mới mở miệng, thì Tạng Cẩu đã đoán ra được thân phận của gã. Gã là Quách Phong.

Họ Quách là kẻ gió chiều nào xoay chiều nấy, hà hiếp kẻ yếu, xu nịnh kẻ mạnh, quả thực là một tiểu nhân. Lần này hắn cũng đến Tam Môn Hiệp, tự nhiên là đã ngả theo Đào Khiêm, làm ra chuyện bán nước hại dân.
Lúc này trong bọn đã có một tên không thể kiên nhẫn được, nói giọng rất trầm trọng:

“ Lòng dạ đàn bà, chẳng quyết đoán, sao có thể làm được chuyện lớn? ”

Nói rồi, y hạ thấp giọng, nói:

“ Lần này chủ công đã phái Thần Tiễn Chu Hùng, Bạch Diện Thư Sinh và Oanh Thiên Lôi đến trợ chiến. Chớ nói là một Tần Trảm và một Đường Vân nhỏ nhoi, cho dù đối phương có mời được hai đứa nhóc An Nam cũng đừng mơ cục cựa nổi. Huống hồ, hai tên tiểu tặc kia bây giờ chắc hẳn còn lo chuyện của riêng chúng, sao lại đến chõ mũi vào chuyện này? ”

Y nói đến đây, thì cười nấc lên…

Cái kiểu cười thâm hiểm này ngoại trừ Đào Khiêm thì còn ai vào đây nữa kia chứ?

Tạng Cẩu và Phiêu Hương nhìn nhau, không nén nổi cười một cái.

Chuyện trên đời quả thực là xảo diệu…

Được Đào Khiêm trấn an, Quách Phong mới an tâm thở phào một hơi.

Gã họ Đào lại tiếp:

“ Huống hồ, cho dù chúng có đến đây, ba vị cao thủ cũng xử chúng ngay. ”

Oanh Thiên Lôi, Thần Tiễn Chu Hùng và Bạch Diện Thư Sinh chính là ba tên thủ hạ của Gia Luật Sở Tài tham gia vào trận xông phá Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Tuy không trực tiếp bại dưới tay Tạng Cẩu, nhưng để cho cậu chàng đoạt kinh an nhiên rời khỏi, bọn chúng đến giờ vẫn không nuốt trôi nỗi nhục này. Thành thử lúc Đào Khiêm nhắc đến “ hai tiểu tặc An Nam ” thì bọn chúng lộ rõ vẻ khó chịu.

Thế nên y mới nói một câu, cốt là để xoa dịu ba gã.

Oanh Thiên Lôi cười khẩy, nói:

“ Chuyện ấy đã hẳn. Nếu tên tiểu tử ấy dám đến, thì cự kiếm trong tay ta sẽ chặt đứt hai chân nó, thuận tiện đoạt luôn bí mật của Khổng Lồ. ”

Bọn Đào Khiêm kiên nhẫn đợi trước miếu chừng một khắc…

Tạng Cẩu và Phiêu Hương cũng nép mình nấp trên mái ngói.

Cũng may đám người kia tập hợp phía trước, Tạng Cẩu và Phiêu Hương nấp trên nóc chính điện cách bọn hắn cả mấy trượng. Bằng không lấy võ công của Oanh Thiên Lôi tuy là không phát hiện được Tạng Cẩu, nhưng Phiêu Hương thì khó thoát.Lại qua thời gian uống xong chung trà…

Lúc này từ phía trang viên, có một bóng người vận đồ đen lao về phía đoàn người. May sao Tạng Cẩu và Phiêu Hương nép ở góc khuất, có cây to che chắn, thành ra hắn cũng không thấy được.

Đào Khiêm bèn hỏi:

“ Sự thể thế nào? ”

Gã kia bèn cười tà:

“ Đã xong xuôi rồi. Một lát nữa chúng ta đánh vào, chắc chắn bọn chúng trở tay không kịp… ”

Cả bọn định thành kế sách, đợi vừa đến giờ Sửu, thì lục tục động thân phóng người về phía tòa phủ đệ.

Không hay biết có hai bóng người âm thầm bám theo sau…

Lúc này trong sảnh đường của nhà họ Đường, tình thế đã hỗn loạn lắm rồi. Đếm sơ qua là thấy có độ gần hai mươi người đang nằm vạ vật trên nền nhà, ôm bụng lăn lộn. Đường lão gia là người võ công khá nhất thì cũng phải tựa người, một tay vịn tai ghế mới run rẩy đứng thẳng được.

Ông dùng một tay vịn vào tai ghế…

Tay còn lại duỗi thẳng một ngón ra, run rẩy chỉ vào mặt người duy nhất còn đang đứng được.

“ Nuôi hổ gây họa, đúng là nuôi hổ gây họa. Đường Vân này anh minh một đời, không ngờ về già lại mù mắt nhìn lầm con sói mắt trắng nhà ngươi. ”

Nói được đến đây thì nộ khí công tâm, phun mạnh một bụm máu.

Người duy nhất còn có lực chiến đấu không ai khác… là Tần Trảm.

Lúc này y quả thực oan khuất tày trời, nhưng mồm năm miệng mười cách mấy cũng không rửa sạch cho nổi.

Chẳng là mấy ngày trước hạ nhân của Đường Vân dò la được hành tung của đám người Đào Khiêm, dựa vào kinh nghiệm đi lại giang hồ cũng đoán được đại khái hôm nay bọn chúng sẽ tấn công phủ đệ. Lão bèn cho gọi hết cao thủ trong các sơn trại, thủy đạo dưới trướng về trợ chiến, thanh thế rất thịnh. Hôm nay lúc trời nhá nhem bèn mở một bàn tiệc, ăn uống một phen để tăng thêm sĩ khí.

Tần Trảm thân là sát thủ, càng gần đến lúc giao chiến y càng không cho phép mình thả lỏng, thành thử chỉ ăn lương khô uống nước lã.

Ngoài ra, còn là để phòng hờ chuyện bị người ta hạ thuốc vào đồ ăn.

Lúc này điều y ái ngại nhất đã thành sự thật. Trong trang viên nhà họ Đường hẳn là đã có gian nhân náu mình tiềm phục nhiều năm, lúc này mới thừa lúc mọi người cao hứng để hạ thuốc vào tiệc rượu.

Tần Trảm biết lúc này có nghìn từ vạn chữ cũng khó mà minh oan cho bản thân. Y đảo mắt một cái, đoạn đi đến bên Đường Vân. Y đặt tay lên lưng lão, một mực vận Kim Ô thần công truyền nội lực vào đặng giúp lão ép độc. Đường Vân chỉ thấy chân khí nóng ấm cuồn cuộn truyền vào các đại huyệt sau lưng mình, chất độc trong thể nội cũng dịu xuống. Song, Đường Vân mặt đỏ hầm hè, tuyệt không nhận tình mà đề chưởng giáng một đòn ngay lồng ngực Tần Trảm, miệng quát:

“ Không cần nhà ngươi giả nhân giả nghĩa! ”

Quần hào trong sảnh trúng thuốc vô lực, toàn thân đau nhức như xương bị dòi đục khoét, nhưng thấy chuyện này cũng bất bình mà thóa mạ Tần Trảm. Người nào người nấy đều nghĩ, y không phải là kẻ chủ mưu thì cũng là kẻ thủ ác chứ không ai khác vào đây…

Tần Trảm trúng một chưởng nặng…

Y loạng choạng lui lại, miệng trào máu.

Đường Vân trong lúc khốn đốn vận công đánh ra một chưởng cũng khiến thương thế của lão nặng thêm.

Từ nhà dưới có người vén rèm đi vào.

Nàng ta chính là con gái của Đường Vân, vợ của Tần Trảm – Đường Nhu.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau