THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 26 - Chương 30

Chương 26: Hồi bảy (7)

Ánh lửa bốc lên ở phía doanh trại quân Minh.

Hồ Xạ và Hồ Đỗ lĩnh soái ấn, nắm trọng binh, dẫn theo tướng là Trần Đĩnh đem bảy vạn đại quân đóng kín bờ nam của sông Hồng. Sử Minh thuật lại rằng thuyền chiến thuyền lương quân nhà Hồ nối đuôi nhau kéo dài tới năm dặm. Xạ lại cho nói khống lên là hai mươi mốt vạn, nhằm hư trương thanh thế.

Nguyễn Tông Đỗ và Nguyễn Công Khôi được phân làm phó soái. Một đưa cho cánh quân của Xạ, kẻ kia điều vào hàng ngũ của Đỗ.

Cả hai đều biết Hồ Hán Thương làm vậy là để phân hoá bớt ảnh hưởng của họ trong quân, song nhớ lời Nguyên Trừng căn dặn nên không thể từ chối.

Ánh mai chiếu nghiêng về phía tây, phủ lên những lá cờ đang bay phần phật trong gió sớm. Hoà cùng tiếng sóng vỗ mạn thuyền là giọng hò đánh giặc của binh sĩ.

“ Đánh cho Mông Cổ ngã ngựa

Đánh cho Nam Hán chìm thuyền

Đánh cho nhuộm hồng Như Nguyệt

Đánh cho cốt trắng Bạch Đằng

Đánh cho Núi Tản Sông Đà

Đánh cho hào khí Đông A. ”

Giọng hò chắc và khoẻ khác chi đôi chân trần Lĩnh Nam, vang rõ từng tiếng như nện liên tiếp vào trái tim quân giặc. Tiếng trống nhịp tiếng hò, tiếng tù đệm giọng ca mà vang mãi lên bầu trời xanh thăm thẳm.

Giáp trụ được dát một lớp nắng mai, như là hoàng kim rực rỡ. Lưỡi kiếm đẫm sương đêm vung cao, hệt như sao trời đậu xuống nơi đây. Hét một tiếng “ tiến công ” vang rền bằng hết sức bình sinh, Hồ Xạ xua quân đánh ập thẳng vào hàng thuyền địch quân.

“ Giết! ”

“ Sát! ”

Hoả pháo nổ rung trời dậy đất, hoả mai bắn mù mịt trên sông. Hai quân như chẳng còn thiết tính mạng mình, vừa khai hoả giao tranh tới tấp lại vừa giong thuyền vào gần nhau. Sĩ tốt hai bên cứ nhân đó mà nhảy qua thuyền địch.

Kẻ vung gươm chém tới tấp, người tuốt kiếm lên bổ túi bụi. Binh tướng hai bên như bị cuốn vào một tràng đồ sát vô tận. Họ giết nhau tới đỏ mắt, môi miệng khô ran cả lên, hai tay đẫm mồ hôi còn người thì nóng lên bừng bừng.

“ Đánh cho Mông Cổ ngã ngựa… ”

Choang!! Phập!

Một lính Minh bưng tay bịt nhát gươm nơi cổ, ú ớ muốn nói gì đó nhưng máu tươi đã trào ra từ các kẽ tay. Y chẳng thể tin được chuyện vừa mới xảy ra trước đôi mắt trợn tròn của mình. Chỉ với một nhát chém, người lính Đại Ngu thấp hơn y hẳn một cái đầu đã phạt đứt đôi thanh kiếm, chém toạc cả họng y. Làm xong, đôi vai gầy hẵng còn run rẩy. Thế rồi bụng tay lính người Minh trúng ngay một đạp, ngã lộn cổ khỏi mạn thuyền mà mất hút giữa làn nước sông Hồng.

“ Đánh cho Nam Hán chìm thuyền ”

Tiếng hò đồng thanh của một toán lính Hồ vang lên, gọi dậy cả những con sóng dưới sông. Quân Minh chẳng thể hiểu được vì sao lính Hồ đột nhiên lại chiến đấu một điên cuồng như vậy nữa. Miệng ngâm, chân bước, gươm vung. Một lính Hồ nay có sức mạnh bằng ba người lớn.

Pháo cứ nổ, lửa cứ cháy, song tiếng hét thất thanh, đau đớn của con người vẫn vang lên mặc cho cả một biển âm thanh khác chói tai hơn gấp trăm lên. Càng ngày, tiếng hét càng rõ thêm, tiếng hò khai trận càng yếu bớt.

“ Cứu! Aaaaaa… ”

“ Ma chú! Bọn chúng đang niệm ma chú! ”

“ Niệm! Đánh cho… không có tác… ọc… từ… khi nào… ”

“ A… Lan… ”

Phập!!

Trần Đĩnh - phó tướng của Hồ Xạ trong trận này - nhẹ nhàng rút thanh kiếm ra khỏi lồng ngực đối thủ vừa bị y hạ sát. Thập hộ người Minh đổ gục xuống, trong miệng ú ớ một cái tên không thành tiếng. Vung mạnh cánh tay, máu chưa khô vẩy lên sàn tàu thành một dải đỏ ối.

Lửa cháy trên mặt thuyền, ăn vào cột buồm mà leo mãi lên cao. Một vị bách hộ Đại Ngu mặt lấm le tro, môi đỏ những máu cứ thế mà cất bước, mà xông xáo giữa trận hình quân Minh. Hoả mai nổ vang xung quanh. Đoàng! Đoàng! Đoàng! Huyết nhục đỏ lòm thi nhau bật lên từ những chỗ khác nhau trên người y. Bựt. Bựt. Bựt. Dưới chân đạp lên dòng máu nóng mình vừa đổ, y vừa hô vừa vung gươm lên phác thẳng ra trước. Trong mắt y không còn vết thương trên người. Bên tai y không nghe thấy tiếng máu mình đang chảy cạn. Da thịt y không còn biết đau. Mùi máu, mùi khói cứ xa dần theo những hơi thở dồn dập. Y chỉ biết chém, chém và chém. Như một cỗ máy. Hành động ấy cứ lặp đi lặp lại, hết giây này qua giây khác trước con mắt hãi hùng của dân phương bắc.
“ Đánh… cho nhuộm hồng Như Nguyệt…

Đánh… cho cốt trắng… ”

Y không nói được nữa. Một viên đạn đã găm thẳng vào cổ họng người bách hộ, xiến đứt quai buộc quanh cằm. Mũ trụ rơi xuống sàn tàu, vang lên một tiếng phịch gọn ghẽ của sắt và thép nặng. Tóc y xổ tung ra, đen và xơ xác. Đôi chân trần đỏ lòm những máu từ từ khuỵu xuống. Hơi thở cuối cùng lặng lẽ lìa bỏ lá phổi, bên cạnh con tim đã im lìm.

“ Ma quỷ! Hắn là quỷ đấy! ”

Quân Minh hò nhau nâng hoả mai, giương cung lắp tên mà bắn tới tấp vào người viên bách hộ. Cả người y cứ rung lên hết trận này tới trận khác, tên và đạn sắt thi nhau găm vào bụng vào ngực y. Máu đã thôi chảy… dòng máu y đã chảy cạn từ lâu.

Êm, nhẹ, như một chiếc lông rơi xuống, vị bách hộ kia ngã gục xuống bên xác những thuộc hạ của mình.

“ Hắn chết chưa? ”

“ Hắn là ai?? Tại sao chưa nghe dân Nam nói trong quân ngũ của chúng có vị chiến thần này? ”

Quân Minh bắt đầu nhìn nhau, hỏi. Trong lòng, họ thực muốn biết tên của cái người “ An Nam ” đã phủ bóng ma sợ hãi lên ngày hôm nay, khắc lên tim của họ sự hãi hùng. Nhưng trên đời chẳng ai trên đời biết bách hộ ấy là ai, tên gì, từ đâu tới…

Tất cả những gì còn sót lại về y, ấy là y sinh ra người nước Nam, trong tim y chảy xuôi dòng máu Lĩnh Nam.

Thuyền chiến nhà Minh bị quân Hồ quây lại, co rúm vào một góc trên sông. Sự chống cự của con dân phương Bắc càng thêm dữ dội bao nhiêu, thì giọng hò của dân nam càng bay bổng lên bấy nhiêu.

“ Đánh cho núi Tản, sông Đà.

Đánh cho hào khí Đông A. ”

Hồ Xạ tung mình qua thuyền địch. Mỗi lần tay y vung lên, một mũi tên lại bắn về phía quân Minh, cướp đi một sinh mạng. Người lính ngã xuống hôm nay, ngày hôm qua thôi có lẽ còn là con của cặp vợ chồng già hiếm muộn, chồng của một gia đình, là cha của những đứa con. Nhưng từ mai trở đi, chỉ còn là vong hồn dưới chốn âm ti.

Hồ Xạ ném, ném tiếp! Mũi tên ngậm kình bay như gió, nhanh tựa chớp. Y thoắt ẩn thoắt hiện giữa ba quân khác nào hoả thạch điện quang.

Có thể đêm nay y sẽ mất ngủ vì những vong hồn táng thân dưới tên quay lại đàm đạo đòi mạng.

Có thể lát nữa y sẽ ngậm men cay của rượu mà khóc cho những người đã ngã xuống, xác trôi theo dòng sông đỏ nước đến tận phương nao…

Nhưng còn hiện tại…Hồ Xạ bỏ lại trái tim mình, học cách tạm quên đi sự cảm thông và trắc ẩn. Mũi tên trong tay y không thể không phóng ra, đoạt lấy mạng sống của kẻ khác.

Bởi một lẽ thật đơn giản, đơn giản đến mức tàn nhẫn: đây là chiến trường.

Tiếng hò chung quanh cất cao, hào khí Đông A quyện lấy thanh âm réo gào đòi mạng của quỷ ma quá khứ, đệm những tiếng kêu la đau đớn mà bốc lên ngùn ngụt.

Quen rồi…

Tướng trên chiến trường, đêm nào mà không có ma âm của những kẻ đã khuất văng vẳng bên tai?

“ Hào khí Đông A, hào khí Đông A… ”

Hồ Xạ đánh. Đánh quên mình. Tay y nâng lên hạ xuống. Vai mỏi nhừ. Chân y chạy. Đạp trên xác mà chạy. Cũng chẳng rõ xác ấy là người Minh hay người Ngu. Ngã xuống rồi thì là xác chết, dân bắc hay người nam đã không còn quan trọng.

Theo sát y là viên phó tướng - Trần Đĩnh. Người này cũng là một tay kiếm có hạng. Lưỡi gươm trong tay y nay đã đỏ lòm những máu…

Lục… bục…

Chiếc thuyền chiến cuối cùng đã chìm, ánh lửa nhỏ bé nơi mũi thuyền loé lên một lần cuối trước khi biến mất hoàn toàn trong dòng nước. Xác tàu, mảnh vỡ dạt vào bờ la liệt. Có thể thấy nhiều vết cháy đen khắp các thớ gỗ.

Hồ Xạ đứng nơi mũi thuyền, trông ra xa. Chưa bao giờ y đứng gần với doanh trại nhà Minh đến vậy. Y không khỏi thấy xúc động, cảm giác chỉ cần phái binh, là có thể một trận gió quét sạch lá khô, toàn thắng trở về.

[ Quân địch trên các chiến thuyền ít đến mức đáng ngờ. Lẽ nào Trương Phụ thí xe giữ tướng, đại bộ phận quân địch đã tranh thủ rút lui hay là công trại?

Không thể! Kị binh của Mộc Thạnh tổn hại thê thảm ở trận trước, không lí nào y dám mạo hiểm như vậy. Thế thì chỉ có thể là mai phục… mai phục đặt ở doanh địch!

Aizz… Trận này thắng quá dễ dàng, về sau ắt phải khổ chiến nhiều phen. ]

Hồ Xạ cẩn thận suy ngẫm, cố gắng tiên liệu đường đi nước bước của Trương - Mộc. Đánh? Hay là không đánh? Chỉ một quyết định tưởng như đơn giản ấy thôi, người làm tướng cũng phải đắn đo cân nhắc cẩn thận.

“ Báo!!! ”

“ Có chuyện gì? ”

Hít sâu một hơi, dẹp yên tâm tình hỗn loạn, Hồ Xạ quay đầu quắc mắt nhìn người lính vừa chạy tới. Y chính là người y cắt cử để theo dõi động tĩnh của Tông Đỗ.

“ Tông Đỗ phó soái, Công Khôi phó soái đã dẫn theo hai vạn binh mã, chia làm mấy đường xuôi theo lạch nhỏ tiến về tây, ý muốn đánh tập kích Minh doanh. Đây là quân thư hai vị phó soái gửi cho nguyên soái. ”

Hồ Xạ nhíu chặt đôi mày, tay đón mảnh giấy từ tay binh sĩ mà hai hàm nghiến nhau kèn kẹt, hai vai khẽ run không ngừng vì tức.

“ Gửi Hồ nguyên soái

Trên chiến trường, binh quý thần tốc. Nay mắt thấy cơ hội đột kích từ cánh tây, chẳng kịp bẩm báo kẻo trễ mất thời cơ, đành phải tiền trảm hậu tấu dẫn quân thi hành. Nếu thua, nguyện táng thân nơi đáy sông đầu mác. Còn như may mắn thắng được, nguyện đến trước mặt nguyên soái thỉnh tội. Quyết không dám hai lời. Chỉ xin nguyên soái phát binh công phá địch doanh, mở cho tam quân một cửa sinh thì may mắn muôn phần, ta và Công Khôi dù tuẫn quốc cũng xin đời đời ghi ơn tạc đức.

Nguyễn Tông Đỗ kính viết ”

“ Học một rổ chữ nghĩa, đọc hàng chồng binh thư ấy thế mà chỉ dùng để viết thư. ”

Hồ Xạ xé vụn bức thư, lại tiện tay đem rải xuống sông. Vụn giấy theo dòng nước dập dềnh, bị sóng đánh tan ra mọi hướng. Y hướng mắt về phía doanh trại nhà Hồ, nơi Hồ Hán Thương đang hí hửng chơi đùa cùng tấm hổ phù của mình. Có lẽ, bên cửa lều Hồ Nguyên Trừng đang đứng ngóng ra chiến trường ở xa, hồi hộp chờ tin chiến thắng.

[ Tướng quốc ơi… không phải ta không nhịn, mà do người ta lấn ta. ]

Hồ Xạ cười khổ, nhẹ lắc đầu.

Chương 27: Ngoại truyện: Thuận thiên kiếm tiền truyện - Hồi một (1)

Ngày xuân, tam tôn luận hào kiệt

Dưới trăng, tiên nữ hái hoa sen

1391

Thành Thăng Long đương độ vào Tết về, mưa xuân lất phất ngoài hiên, đào thắm rộ khắp ba sáu phố phường.

Chẳng là năm trước thái thượng hoàng Nghệ Tông sai Lê Quý Li cự giặc Chiêm Thành ở Thanh Hoá, trúng phải kế trá bại của kiêu hùng Chiêm Thành là Chế Bồng Nga chết nhiều tướng binh. Quý Li chạy về xin thêm chiến thuyền, Nghệ Tông bèn cử Trần Khát Chân cầm quân cự địch. Quân Đại Việt thắng to, Bồng Nga tử trận, rửa được mối thù Duệ Tông chiến tử năm nào.

Thành thử dịp Tết năm nay, binh tướng cả nước được cho về nhà ăn Tết những năm ngày.

Hồ Xạ bèn rủ hai anh em kết nghĩa là Hồ Đỗ và Phạm Lục Bình ngồi thuyền dạo hồ Tây. Trên hồ, rợp bóng thuyền to thuyền nhỏ. Tiếng đàn, tiếng ca dẻo ngọt như mứt tết của các ả đào đất Long thành nhẹ nhàng đùa giỡn mặt sóng. Khói trầm từ chùa Trấn Quốc bên hồ phảng ra, thơm ngào ngạt.

Hồ Đỗ đứng ở đầu thuyền chỏ vào một đám hội múa lân bên bờ hồ, tấm tắc:

“ Nè! Chúng bay coi cái đám đằng kia diễn Khổng Lồ sang Tàu kìa. Chẹp, con rết đẹp dữ. ”

Gánh này múa rất nghề, dân đi lễ hay du xuân bâu đến xem đông nượm như nêm. Tay múa chính cạo trọc đầu, mặc cà sa cất giọng đứng giữa tràng múa. Giữa những dải lụa múa xập xình giả làm sóng nước, một con rết thân đỏ lòm do hai ba người cùng múa cứ giãy lên, nhe nanh phun nọc phì phì đe doạ.

Phạm Lục Bình nhẹ giọng:

“ À. Ấy ắt là con lân hồi Trung Thu, được sửa lại một thành con rết thôi. Quốc gia đang buổi khó, vui Tết mà không quên tiết kiệm là đúng, đáng hoan nghênh. ”

Nói xong lại lấy ấm trà ra, tự rót cho mình một chén mà nhấp.

Người diễn Khổng Lồ thấy Ngô Công chồi lên cản, bèn co chân hươ tay, miệng lẩm nhẩm đọc như người ta làm phép. Rồi vung gậy tầm xích, cao giọng:

“ Bớ chư thần Bắc quốc, thiên tử các người đã đồng ý cho ta kho đồng. Hà cớ gì cử Ngô Công đánh lén? Lại tưởng dân Nam ta ít phép đấy chăng? ”

Nói đoạn phất tràng hạt. Ngờ đâu diễn lâu, mồ hôi trơn ướt, khiến chàng hạt văng ngay vào đầu rết.

Xạ thấy vậy nói ngay:

“ Cứ như lần trước ta xem thì phải đến lúc cuối, Khổng Lồ ném tràng hạt ra thì rết mới chết. Lần này còn chưa cao trào mà đã gặp cảnh khép màn, xem gánh múa này giải quyết ra sao. ”

Đột nhiên nảy ra vấn đề, nhưng tay diễn vai Khổng Lồ không núng tí nào. Y hạ chân xuống dậm hai cái, chắc là mật hiệu của gánh hát với nhau, rồi ứng tấu nói:

“ Phật ta có đức hiếu sinh, tràng hạt vừa rồi chỉ là cảnh cáo. Nhược bằng loài rết nhà mi còn không chịu tỉnh ngộ, thì phải ăn một gậy. ”

Ba người đóng con rết biết ý, bèn lắc đầu rết phì phì, tỏ ra giận dữ. Nói rồi một người bỗng cao hứng, lại biết chút chữ nghĩa bèn đáp ngay:

“ Sư An Nam chớ vội cười, ấy là tại mấy hôm trước có con thạch sùng đái vào bát cơm, thánh thượng ăn phải nên còn lẩm cẩm lú lẫn. Đồng đen là kì kim thánh thiết, chỉ có ai ngu si tăm tối mới đem cho đám man di các người. ”

Mọi người nghe xong cười ầm cả lên, biết ngay gánh hát giở trò chọc vua phương bắc.

Mấy đứa làm sóng nước bắt đầu chạy nhanh, lụa xanh uốn khúc liên hồi thể hiện biển cả cuộn trào càng dữ. Phía nhà bè lại cho nổi trống thùng thùng dồn dập thêm, đốt pháo giả làm tiếng sét nổ.

Đùng! Đùng! Đoàng!

Pháo nổ giòn tan, chỉ thiếu một chút là bằng tiếng cười của đám trẻ đang đứng xem.

Sau đó người diễn Khổng Lồ vung gậy tầm xích, đánh một hồi với rết. Hai bên quần nhau dữ dội. Thế rồi mọi thứ lại trở về với kịch bản y như trong truyện cổ. Con rết thua, ôm đầu lặn mất. Khổng Lồ đem đồng về nước, đúc ba món bảo vật cho phật môn nước nam. Riêng cái chuông đồng thì không giữ được, bởi chuông vừa đánh thử một tiếng, vàng bạc từ các nước lân bang mà cụ thể là con trâu vàng trước cửa kho đồng Trung Quốc đã ba chân bốn cẳng chạy sang Đại Việt.

Cuối vở diễn, Khổng Lồ ném chuông xuống hồ tây, rồi lấy một con trâu bằng giấy sơn vàng thả xuống hồ. Nước hồ ngấm vào khiến con trâu mủn dần ra, rồi theo sự dập dềnh của làn sóng mà tan ra, hoà vào làn nước trong xanh cùng với ánh mặt trời.

“ Từ ấy, hồ Tây, hay đầm Xác Cáo còn có tên nữa là hồ Kim Ngưu. Về cái tên đầm Xác Cáo, thì ngay ngày mai chúng tôi sẽ diễn vở Long Quân diệt Tam Tinh để giải thích. Mong bà con chòm xóm nhớ ghé lại đón xem… ”

Người dẫn truyện đệm một câu kết thật êm, rồi các nghệ nhân chính kéo nhau lên chào khán giả.

Ba người Hồ Xạ cũng vỗ tay tán thưởng, đoạn ghé thuyền vào sát bãi sen nghỉ chân. Nay sen đang vào độ khép bông, phải hai tháng nữa mới lại có hoa về. Hồ Xạ đón chén trà của Lục Bình, vừa nhấp vừa thưởng cảnh. Thứ trà xanh ướp theo phương pháp bí truyền của danh tướng Phạm Ngũ Lão, ngửi chỉ thoang thoảng nhẹ nhàng mà nếm rồi thì cứ thơm tho ngấm cả vào gan ruột. Cả đám ngồi hóng gió một lúc, sau lại kéo nhau lên bờ, ghé vào hàng nước của một lão làm thêm miếng trầu cho thơm miệng.

Bà lão hàng nước miệng bỏm bẻm nhai, môi đỏ những nước trầu. Thấy ba người lên bờ, nhìn phục trang và cách đi đứng thì đoán là quân nhân đang nghỉ Tết, bèn đặc biệt têm cho ba miếng trầu cánh phượng. Lão đưa trầu qua, lại nhắm mắt khẽ ngửi hương trà còn vương lại trên áo ba người, khen

“ Chè của mấy chú ngon ghê, già mà đem thứ tầm thường này ra thì phải xấu hổ. ”

Hồ Xạ và Lục Bình từ tạ một cách khiêm tốn, chỉ có Hồ Đỗ là oang oang cười, nói:

“ Bà cụ này có cái mũi khá ghê, nói chẳng phải khoe chứ trà của thằng em tôi phải ngon nhất nhì cái xứ Kinh Bắc này rồi. Thôi, cụ có rượu đó không cho tôi xin hai đồng uống đỡ lạt miệng. Từ sáng đến giờ toàn chè là chè, chưa được giọt cay cay nào vào mồm đây. ”
Bà lão đon đả rót luôn cho Đỗ một bát to. Y không nói không rằng bưng lên uống một hơi cạn sạch. Cụ nức nở:

“ Chú này uống rượu khá quá, hơn đứt ông già nhà tôi. ”

“ Rượu ngon thế này mà cụ ở nhà không uống được hơn gấp mười thằng Đỗ này ấy à? Cụ tự ủ đúng không? ”

Có câu miếng trầu là đầu câu chuyện. Bốn người nhai trầu, tán gẫu một hồi, lại quen thân hơn.

Được một chốc, bỗng có một nhóm ba bốn thanh niên ghé quán. Trông dáng vẻ thì hình như là người từ trấn khác đến Thăng Long. Họ kéo băng ghế đối diện nhóm Hồ Xạ, gọi thêm xị rượu rồi giở cân thịt đem theo ra nhậu. Tết nhất, chẳng mấy nơi mở cửa làm ăn. Chỉ có quán nước của bà lão này là vẫn bán. Cả đám mới rủ nhau ghé lại mua rượu nhậu chơi cho qua bữa trưa.

Bà cụ hàng nước vừa ngồi têm trầu, vừa hỏi:

“ Nghe cụ nhà ta giải ngũ về, hay kể tên Chế Bồng Nga người Chiêm là một vị vua kiệt xuất. Chẳng những anh dũng thiện chiến, cầm binh như thần, lại khéo léo trong việc trị quốc an dân. Vốn là già không tin. Song từ khi hắn dẫn quân đánh vào Thăng Long được tới bốn lần thì cũng hơi hãi. May mà y đã chết. Nay có các vị tướng lĩnh mới từ chiến trường về, có thể để già thoả trí tò mò được chăng? ”

Nhóm Hồ Đỗ chưa kịp tiếp lời, thì bỗng phía bàn đang nhậu có người lên tiếng:

“ Chế Bồng Nga là cái thá gì? So với trang chủ Bách Điểu Sơn Trang bọn ta thì chỉ đáng xách dép! ”

Năm ấy Hồ Đỗ, Hồ Xạ với Lục Bình chỉ có mười sáu tuổi, nóng nảy thành tính, hiếu thắng nổi danh cả cái đất Thăng Long này. Ba người nghe đối phương tâng bốc trang chủ của mình lên, giống như nói kháy quân nhân bọn họ là lũ giá áo túi cơm vậy. Thế là máu trong người cứ sôi lên sùng sục.

Phải nhắc tới chuyện trong quân ngũ nhà Trần thời ấy, hung danh của Chế Bồng Nga thịnh tới độ Lê Quý Li nghe thấy cũng phải kiêng dè bốn phần. Y cầm quân chiếm Thăng Long tới bốn lần, trận chiến ở thành Đồ Bàn còn giết chết cả Trần đế thời ấy là Duệ Tông. Trên chiến trường y hung hãn như mãnh hổ, nơi trướng bồng lại nham hiểm tựa hồ li. Có thể nói, ngoại trừ nhà Minh hùng cứ ở phương bắc thì Chế Bồng Nga đích thị là đại địch của nhà Trần khi ấy.

Hồ Xạ nhếch mép cười khẩy, phản pháo ngay:

“ Vòm trời của con ếch đúng là mãi mãi chỉ bằng miệng giếng. ”

“ Mày nói cái gì? ”

Đám người Bách Điểu Sơn Trang đập mạnh vào mặt bàn, đứng phắt dậy. Sơn trang Bách Điểu là một phái rất mạnh của bạch đạo, hùng cứ cả một trấn Thái Nguyên. Đến cả quan phủ cũng sợ bọn họ một phép, gặp dịp đến chầu trang chủ cũng phải khiêm nhường lễ độ chứ không dám hách dịch như bình thường.

Đệ tử sơn trang đi lại trên giang hồ, được cả nể, đâm ra coi trời bằng vung. Nhân sĩ võ lâm cả trấn Thái Nguyên nể mặt trang chủ bọn họ, nên mới không chấp nhặt. Thế là lâu dần thành quen, nay được cử đến Thăng Long nhưng vẫn giữ thói cũ.

Phía bọn Đỗ, Xạ cũng tuốt ngay khí giới khỏi vỏ. Phạm Lục Bình nắm Thư Hùng kiếm, đầu đen gác sau lưng. Hồ Xạ với tay mó lấy ống tên, những ngón tay đặt vào phần lông vũ ở đuôi tiễn. Hồ Đỗ ngày ấy còn chưa học được thần công của Lý Thân. Y thủ thế dùng một thanh đao to bản, dài chừng ba thước ta.

Thấy đám Hồ Đỗ muốn chơi cứng, đám người Bách Điểu sơn trang cũng rút luôn binh khí ra đeo vào tay. Binh khí độc môn của sơn trang là Kê Trảo, ấy là một loại bao tay có gắn ba lưỡi dao hẹp và dài, nhọn hoắt như cựa gà chọi.

Bà lão bán quán thấy chỉ vì một câu hỏi vu vơ của mình mà hai bên đột nhiên gay gắt như chó với mèo như nước với lửa, thì chột dạ. Bà lão vội lên tiếng van lơn:

“ Tôi lạy các cậu, các cậu cho tôi xin. Thanh niên các cậu sức dài vai rộng, các cậu để bà già này kiếm miếng cơm manh áo đi. ”

Cả đám nghe vậy mới ngừng tay, cũng thấy thương bà lão già cả, ngày Tết mà còn ngồi đây bán quán. Bên phía Bách Điểu Sơn Trang hất cằm, thách:“ Canh hai đêm nay có dám tái đấu ở chỗ này không?? ”

“ Chỉ sợ chúng mày chạy! ” – Hồ Đỗ trầm giọng, từ từ nhét đao trở vào vỏ.

Xong xuôi, hai bên trả tiền cho bà hàng nước rồi tản đi, hẹn ai mà thua sẽ phải dập đầu xin lỗi và đền đối phương một cân bạc trắng.

Vụ lùm xùm với đám người Bách Điểu Sơn Trang cũng khiến ba người Hồ Xạ cụt hứng, chẳng muốn nhàn rỗi du xuân nữa. Thấy mặt trời cũng bắt đầu đứng bóng, Phạm Lục Bình bèn kéo hai người kia về nhà, định bụng sẽ làm bữa cơm ăn cho chắc bụng tối còn ứng chiến.

Cả ba vừa chạm gót tới ngõ, thì đã thấy ngoài cổng có buộc một thớt chiến mã. Da bóng, bốn chân cứng cáp. Ấy ắt là loại chiến mã có thể phi qua đèo, băng qua suối mà cứu chủ nhân.

Phạm Lục Bình thầm nghĩ:

[ Từ khi cụ cố mất, nhà mình không có ai ra làm quan (*) cả. Không biết con ngựa này của ai. ]

Hồ Xạ cũng phát hiện sự lạ, âm thầm cảnh giác. Chỉ có Hồ Đỗ là vỗ đánh đét vào mông ngựa, liếm mép:

“ Con này mà thịt lên chắc ngon lắm. Miếng nào miếng nấy chắc nình nịch thế này cơ mà. ”

Con chiến mã như nghe hiểu tiếng người, đột nhiên tung vó đá hậu đánh bốp một cú ngay giữa bụng Hồ Đỗ. Chiến mã rất khoẻ, Hồ Đỗ ăn một đạp xong, bay đánh vèo ra sau rồi ngã lăn kềnh ra đất. Y ôm bụng, kêu không lên tiếng, phải lăn lê dưới đường một lúc mới đứng lên được.

Cũng may là Đỗ da dày thịt béo, nên không tổn hại nội phủ. Hai người kia cười lăn, vội vàng đỡ hắn lên dìu vào nhà.

Lúc này ở gian khách phòng đã có một người thanh niên tuổi chạc hai mươi đang ngồi nói chuyện với Phạm phu nhân. Hai chén trà đặt ở giữa hai người hãy còn toả khói nghi ngút. Thanh niên ấy vận một bộ giao lĩnh màu xanh tím, thắt lưng buộc cẩn thận, đầu vấn khăn vuông.

“ Lục Bình, về rồi hả? Ngồi xuống đây tiếp khách. ”

Phạm phu nhân thấy bóng con ngoài cổng, vội vàng đứng dậy gọi vọng ra. Phạm Lục Bình ra dấu nhắn Hồ Đỗ Hồ Xạ tự mình đi ra phía gian sau, bởi Phạm phu nhân không thích hai người này lắm. Bà muốn con mình phải giao du với những bậc quyền cao chức trọng, tài nghệ siêu quần trong quân để sau này còn thăng tiến.

Lục Bình tiến gần, nay mới có cơ hội được nhìn kỹ người thanh niên nọ. Trông y rất đỗi anh thư quắc thước, mày kiếm sắc và thanh, đôi mắt sáng như mắt cú vọ. Dù dùng lễ vãn sinh để đối đáp Phạm phu nhân, nhưng từng cử chỉ lời lẽ của y vẫn mang một chút phong độ của bậc đại tướng. Chỉ tiếc là nét kiêu ngạo trên khoé môi thì không giấu được.

Biết người này xuất chúng, Phạm Lục Bình cũng không dám quá thờ ơ. Y lục lọi trí nhớ mình xem dạo gần đây trong quân có vị tướng tài nào trẻ tuổi như vậy hay không, và một cái tên xẹt qua đầu y.

Phạm phu nhân thấy con không nói gì, bèn mở lời:

“ Cháu nó là vậy đấy, kiệm lời lắm. Lục Bình á, chắc con biết tướng quân Trần Khát Chân rồi, mẹ đoán là không cần giới thiệu lại đâu. Hai người cứ thong thả chuyện trò việc công việc nước, bà lão này là phận nữ nhi góc bếp không tiện nhiều lời. ”

Trần Khát Chân chắp tay, cúi mình:

“ Phạm phu nhân chờ chê cười, Khát Chân may mắn lập công mới được đề bạt. Bản thân tôi luôn lấy Điện Suý thượng tướng làm tấm gương để noi theo, nhưng phúc bạc chưa có dịp may được diện kiến con cháu của lão anh hùng Phạm Ngũ Lão. ”

Phạm phu nhân khách sáo lại mấy câu, rồi lui.

Còn lại mỗi hai người với nhau, Phạm Lục Bình mới cau mày, hỏi:

“ Anh hùng đánh bại Chế Bồng Nga hôm nay đến tìm tên tiểu tốt tầm thường này, thật đúng là rồng đến nhà tôm, khiến tệ xá bừng sáng… nhưng thôi, kẻ ngu này không nhìn ra mục đích chính xác, song cũng mạo muốn phán đoán rằng Trần Khát Chân anh cũng không tìm đến chỗ tôi để nghe mấy lời khách sáo hoa mĩ này đâu. ”

Trần Khát Chân thu lại vẻ tươi cười cung kính, bình thản:

“ Không hổ là con cháu Phạm lão tướng quân. Người như Lục Bình mà phải làm một tiểu tốt vô danh chẳng phải hoang phế tài năng lắm ư? ”

“ Ý tướng quân đây là? ” – Phạm Lục Bình nheo mắt lại, vẻ cảnh giác.

“ Lê Quý Li được thánh thượng trọng dụng, song lòng có vẻ còn có dị tâm chứ không hết dạ phụng sự thánh thượng. Chi bằng chúng ta hành thích lão ta, giúp Nghệ Tông bệ hạ nhổ đi một cái gai trong thịt. Khi ấy chẳng những ta có tiền đồ vô lượng, mà con đường thăng tiến của Lục Bình cũng thênh thang. ”

Trần Khát Chân nhấp một ngụm trà, mắt nhắm lại.

(*) Đính chính: hậu nhân của Ngũ Lão sau đầu quân cho nhà Tây Sơn là Phạm Ngũ Thư, ở đây sẽ được đồng nhất với Phạm Lục Bình. Để giải quyết hiện tại có 2 cách:

_ Đổi tên, sau khi nhà Hồ diệt vong.

_ Biến Lục Bình thành nhân vật hư cấu xây dựng dựa trên hình ảnh nhân vật có thực trong sử Việt ( giống trường hợp của Lí Tồn Hiếu trong thuyết Đường).

Cảm ơn vì đã đọc

Chương 28: Hồi tám (1)

Cổ quan, tiễn lạc phủ can đoạn

Khoái Châu, Tạng Cẩu học kì công

Phải nói về nửa ngày trước, Liễu Thăng được Trương Phụ, Mộc Thạnh cấp cho một con chiến mã và lương ăn ba ngày, dặn cậu nhanh chóng rời khỏi quân doanh, mang cả Tạng Cẩu lẫn Phiêu Hương theo.

Biết chân mình gãy, chiến đấu có nhiều điều bất tiện. Ở lại nhiều khi chẳng những giúp được gì đã đành, mà còn khiến người khác vướng tay vướng chân thêm. Thế là Liễu Thăng đồng ý ngay.

Một tiểu tốt được Trương Phụ âm thầm phái theo quan sát động tĩnh của ba người, cũng là để âm thầm bảo hộ Liễu Thăng. Tuy nhiên vừa mon men ra khỏi doanh trại, y đã bị Quận Gió đánh bất tỉnh nhân sự rồi vác đi tận đâu chẳng rõ.

Cửa Hàm Tử thuộc xã Hàm Tử, huyện Khoái Châu, thuộc phủ Thiên Trường - tức là tỉnh Hưng Yên ngày nay. Nơi hai quân giao tranh là Hàm Tử, cách bãi Màn Trù độ mấy dặm. Đi tiếp về phía nam chừng nửa ngày đường, sẽ có thể gặp được làng xóm.

Dân chúng phần nhiều đã chạy nạn xuống phía nam, khiến cho mấy chục dặm vuông không thấy một bóng người.

Quận Gió biết hai bên sẽ sớm khai chiến, bèn bám theo ngựa của Liễu Tử Tiêm. Ông xách cổ hai đứa Tạng Cẩu, Phiêu Hương khinh công đi suốt đêm đến nơi này mới thả chúng xuống. Về phần Liễu Thăng, Quận đưa cho cậu một tấm bản đồ chỉ đường, dặn phải thả cương thật chậm, vừa đi vừa quan sát cảnh vật.

Mặc dù Liễu Tử Tiêm chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra, nhưng nghĩ sư phụ ắt là muốn tốt cho mình nên ngoan ngoãn làm theo.

Ba thầy trò Tạng Cẩu đi mấy bước là gặp mấy gian nhà trống hơ trống hoác bị dân bỏ lại từ hồi chạy nạn, cổng vào còn không kịp khép, bụi đóng trước hiên hãy còn chưa dày. Thấp thoáng bónh con lợn già chết gục trong chuồng, ruồi bâu thành bầy quanh cái thây đã bốc mùi hôi thối. Họ đã đi qua cơ man không biết bao nhiêu mà kể những căn nhà như vậy.

Quận Gió trông cảnh này, bất giác cảm khái:

“ Chiến tranh… đến cùng nạn nhân chỉ là muôn dân trăm họ mà thôi. Ấy thế mà không đánh không được. Kì thay… ”

Hai đứa nhóc bị Quận Gió túm áo xách lên, dùng khinh công đi như bay cả đêm. Thế nên đến giờ vẫn chưa hoàn hồn, bước đi hãy còn lẩy bà lẩy bẩy không vững. Mà Quận thì mặc kệ, bắt hai đứa nhóc phải quen dần với tốc độ của ông. Cả Tạng Cẩu lẫn Phiêu Hương đều mang trong mình những bộ khinh công kinh thế hãi tục, thế nên việc này là tốt cho sự phát triển của chúng trong tương lai.

Quận Gió để chúng lẫm chẫm bám theo mình, còn ông cứ đi trước dẫn đường, cố ý thả chậm cước bộ lại. Được một chốc thì cả ba đến trước một căn miếu cũ mèm vắng tanh vắng ngắt. Quận Gió đưa tay đẩy nhẹ cổng bước vào sân trước. Tiếng cọt kẹt của thứ gỗ đứng lâu một chỗ vang lên não nề, đuổi đám quạ đang ngủ gục nơi mái hiên và dưới các tàng cây bay phốc lên không. Chúng rải xuống đầu ba kẻ xâm phạm từng tiếng kêu chói tai, quang quác đầy giận dữ. Lông vũ đen ngòm rơi lả tả xuống, đậu lên đống lá vàng khô ran nằm im lìm bên cái cây quắt queo.

Quận Gió băng qua khoảng sân quạnh quẽ, tới chỗ cái lư hương ở chính giữa. Bên mép ai đấy đã để sẵn ba nén hương trầm. Ông lấy dao và đá lửa trong túi ra, đốt lá lên thắp hương. Mùi hương trầm quấn quanh cơn gió phảng vào gian chính điện đổ nát.

“ Ui chà, bác gió đến đấy hả? Ố ồ, nhận trò rồi đấy phỏng? ”

Có tiếng ai đó nói vọng ra từ trong điện thờ, kèm theo cả những tiếng đổ vỡ lịch kịch. Chốc sau, hai cánh cửa gỗ đang khép thi nhau ngã nghiêng sang bên, để lộ ra một ông hoà thượng béo ăn mặc rách rưới đang lui cui tìm cách chữa cho chúng.Khác với lần trước, Khiếu Hoá vừa xuất hiện là Quận xổ liền một tràng:

“ Lão sư cọ, tính lão là chúa tuềnh toàng, ăn xổi ở thì có tiếng. Tôi nói mấy lần mà không chịu chỉnh đốn. Đấy đấy! Lão xem! Cà sa thì hở bụng, nón tu lờ thì vá chằng vá đụp. Có con cá gỗ thì mòn nhẵn đi vì lão lấy làm gối đầu. Lão xem xem trông lão có tí xíu phong độ tông sư tiền bối nào không? ”

“ Hì hì, bác thì tính cô liêu thích độc lai độc vãng, còn tôi thì sao mà chả đuọc? Có biết gì mà phiền hà đâu? Vậy nên hai ta mới là “ Cô phong nơi rừng trúc ” với “ Khiếu Hoá chẳng biết phiền ”. Tôi là tôi kết cái bài thơ ấy lắm nghe. ”

Quận Gió nhún vai, chẳng thiết đôi co với Khiếu Hoá Tăng nữa. Hai đứa Cẩu với Hương thì ngờ ngợ nhìn nhau. Lần trước ở Muộn Hải trông hai người này có vẻ không có giao tình sâu đậm là bao, vậy mà giờ cứ thoải mái như là tri âm tri kỉ lâu năm vậy. Nghĩ một lúc, hai đứa bèn đoán ấy cũng là một phần của màn kịch do Quận Giao dàn dựng.

“ Nhờ lão trông hai đứa này cho tôi một chặp, gặp dịp tôi sẽ quay lại đón. ”

Khiếu Hoá Tăng chợt bĩu môi, đổi giọng:

“ Lão trộm kẹt xỉ! Thâm giao từ hội Chí Tôn mà xin có một viên Quỷ Diện Phi Châu lão cũng dùng dùng dằng dằng, phải giúp lão nhận đứa học trò ưng ý lão mới cho được có một viên để về nghiên cứu. Không được! Lần này tôi nhất quyết không giúp gì cho lão nữa! Thuyết phục vô í…… Í! Thanh đao này… ”

Lão Khiếu Hoá Tăng vừa tia trúng thanh đao Phiêu Hương đang dắt ở thắt lưng, thì đã kích động đến nỗi đôi vai run bắn cả lên. Hai mắt lão ấy đột nhiên sáng rực lên, trông chẳng khác nào hai ngọn nến đỏ rực vậy.

Lão nhún chân nhảy một cái, bậc thềm gỗ lún xuống rồi gãy vụn. Thân hình to béo của lão bắn lên cao như cách một con chim nhạn tung mình vào bầu không vậy. Khiếu Hoá Tăng nhảy qua cái đỉnh lớn cao hai mét bày trước gian điện thề, đáp xuống trước mặt ba người Quận Gió. Đôi chân lão nện lên mặt đất đánh ầm một cái, nặng nề chẳng khác nào một viên đạn pháo.

“ Đây… đây có… phải là… đao Lĩnh Nam không? ”Lão Khiếu Hoá lắp bắp nhìn thanh đao trân trân, không dời nổi một khắc. Trong mắt ông thì đao báu còn có sức hút gấp vạn lần bất kì pho thần công tuyệt thế nào. Nói đoạn, Khiếu Hoá lật úp bàn tay lại, toan chộp lấy chuôi đao để lấy ra ngắm nghía.

Chát!

Quận Gió cong hai ngón tay, vận kình gẩy trúng mạch môn ở cổ tay Khiếu Hoá, khiến long trảo của lão sư ăn mày dạt ra một đoạn. Vua trộm trừng mắt lên lườm Khiếu Hoá Tăng, nói:

“ Cẩu, Hương. Tiền bối Khiếu Hoá Tăng đã không chịu giữ mấy đứa lại, thì đi theo thầy. Giới lục lâm tuy yếu thế hơn phe quần hùng với các mật tông ẩn thế, nhưng tên trộm già này không tin không tìm được ai trông nom hai đứa. ”

Khiếu Hoá Tăng nhất thời do dự, bấm bấm ngón tay vào trán ra chiều đắn đo suy nghĩ dữ lắm. Phiêu Hương trông lão có vẻ bối rối, lại nhớ chuyện cũ ở Muộn Hải thì tính trẻ con lại trỗi dậy, bèn nảy ý trêu tức. Cô bé rút phắt thanh đao ra.

Tiếng đao rời vỏ bổng và thanh đến nỗi khiến từng cái xương trong người lão sư ăn mày như reo lên lách cách vì mừng rỡ. Nói đoạn, Phiêu Hương chậm rãi huơ nó lên. Từng vòng, từng vòng ánh đao màu đen hiện lên trước mặt Khiếu Hoá Tăng. Thứ kim khí đen bóng ấy lượn lờ trước mặt lão như mời như gọi, khiến lão có ảo giác như chỉ với tay ra là đón được đao quang như làn nước của nó. Ánh nắng mùa đông, lạnh và u ám bị vầng dương vãi xuống mặt đao. Thoắt một cái, cả một dải đao quang sắc lẹm như chọc vào mắt người vãi ra khắp nơi.

Thật kì lạ, theo vật lí học hiện đại thì vật có màu đen hấp thụ toàn bộ bảy dải sáng đa sắc nhìn thấy được của ánh sáng trắng. Cho nên, đáng lí thanh bảo đao này không thể phản chiếu nắng mai như vậy được. Thế mà, cái điều phi lí ấy đang hiển hiện rõ mồn một trước mặt bốn người.

[ Quả nhiên là đồng đen! Không sai được, đúng là đao Lĩnh Nam! ]

Khiếu Hoá Tăng chặc lưỡi, thầm than tại sao sự đời đôi lúc lại có thể li kì và trùng hợp một cách khó tin đến như thế.

Phiêu Hương chợt kéo tay Tạng Cẩu, nói:

“ Thầy à, thầy cứ đi lo chuyện đi, để con với Tạng Cẩu một mình được rồi. Cùng lắm gặp kẻ có ý đồ hiểm nham thì con dâng thanh đao báu này lên, ắt sẽ được toàn mạng thôi. ”

“ Ấy! Ấy! Chờ đã nào. ”

Lão sư ăn mày thấy cô nhóc toan xách đao bỏ đi, thế là vội vàng thi triển khinh công lướt ra phía sau lưng cô với Tạng Cẩu. Quận Gió thấy cả, song cũng không có vẻ gì là muốn động đậy ngón chân.

Tai Tạng Cẩu vừa nghe tiếng tay áo Khiếu Hoá Tăng phất lên phật một cái là chân nó đã bước theo lộ tuyến của Lăng Không Đạp Vân mà lướt nhẹ sang ngang. Phiêu Hương thì nhảy nhanh về phía trước một bước, rồi đột ngột chuyển mình bước qua trái, định vòng tới nấp đằng sau cái lư hương lớn giữa sân để trốn.

Thế rồi hai đứa sực nhớ là sư phụ mình hãy còn đứng sờ sờ ra đó, nên mới bình tĩnh mà bước chậm lại. Khiếu Hoá Tăng và Quận cùng là một trong bảy tông sư, nếu hai bên giao thủ thì chí ít cũng ngang cơ. Sư phụ chúng nó ắt sẽ không để hai đứa đệ tử của mình chịu thiệt thòi. Tạng Cẩu đang tính lên tiếng hỏi sư phụ vì cớ gì tự nhiên ông sư ăn mày ra tay với chúng nó, thì mới ngỡ ngàng nhận ra là Quận đã mất hút từ lúc nào rồi. Chỗ ông vừa đứng vuốt râu nay chỉ còn trơ lại một cái bọc con con. Khoảnh sân này trong mắt chúng nó thoắt cái trở nên heo hút điêu linh, nổi bật lên hẳn so với khung cảnh quạnh quẽ của ngôi miếu hoang.

Chương 29: Hồi tám (2)

Hồ Xạ nghe thấy Tông Đỗ Công Khôi tự mình dẫn quân đột kích doanh trại, biết ngay hai tên này hẳn là hấp tấp cướp công. Y nhìn về đường sông lớn, sau đó cắn răng hạ lệnh:

“ Còn chờ gì nữa? Toàn quân thẳng tiến nhắm thẳng địch doanh! ”

Vừa quét tan được thuyền giặc, Nguyễn Tông Đỗ và Nguyễn Công Khôi đã tập hợp hết thuyền Cổ Lâu, dẫn quân vòng lên phía tây, theo các kênh lạch nhỏ tập kích doanh trại quân Minh.

Thuyền Cổ Lâu là một loại thuyền chiến lớn đóng đinh sắt, có hai tầng boong với hàng chục tay chéo và hai người điều khiển một mái chèo. Đáy thuyền được làm thêm một “đáy” nữa, chia bụng thuyền làm hai phần: phần dưới để lính chèo thuyền, phần trên giấu lính chiến đấu. Cổ lâu thuyền vừa được dùng để tải lương, vừa sẵn sàng chiến đấu khi được trang bị Thần Cơ sang pháo.

Cứ như những gì Hồ Xạ, Hồ Đỗ bàn với Khai Đại đế thì đáng lẽ người dẫn quân tây tiến là hai người Đỗ Xạ. Còn kẻ cầm binh đánh vỗ mặt với Trương – Mộc phải là Tông Đỗ Công Khôi. Hồ Xạ không cho rằng hành động của hai tướng chỉ là một sự trùng hợp. Cho dù lá gan của Nguyễn Tông Đỗ, Nguyễn Công Khôi có lớn gấp đôi thì cũng không dám đặt tai mắt bên người Hồ Hán Thương.

Rất rõ ràng, con cờ mà Khai Đại đế muốn thí là hai người bọn hắn. Song biết thì cũng biết vậy, Hồ Xạ hắn lại sợ gì mà không xua quân tiến đánh?

[ Tướng quốc đã đoán trước được chăng? Không! Không lí nào người lại lên kế hoạch tự chia rẽ nội bộ như vậy. Thôi! Ta vẫn cứ y theo lời người mà làm là được. ]

Hồ Xạ nghĩ thông suốt, thì hướng xa soái kì của Hồ Đỗ cũng đã giương cao đón nắng. Y đoán rằng tên Hồ Đồ này hẳn cũng y theo căn dặn của tả tướng quốc mà xuất binh.

Thuyền nhỏ nhà Hồ hợp hai đội làm một, số lượng ước chừng mấy trăm chiếc, kéo nhau trực chỉ quân doanh của quân Minh. Sóng nước khẽ dập dềnh theo nhịp tay người, gió nhảy múa theo tấm chiến bào.

Binh sĩ đến bên mạn thuyền, dõi mắt ngóng nương dâu ruộng lúa đằng xa. Trông mảnh đất màu mỡ ngày nào nay khô cằn vì thiếu vắng bàn tay săn sóc của người nông phu, mà các binh sĩ thoáng chạnh lòng. Kì thực, họ cũng từ tầng lớp bán mặt cho đất bán lưng cho trời mà ra chứ đâu? Chưa lúc nào, các binh sĩ nhà Hồ muốn chấm dứt cuộc chiến hơn hiện giờ.

Trống trận nổi đùng đùng, binh lính vỗ tay gõ mạn thuyền đánh nhịp cho ì oạp tiếng sóng. Đoàn thuyền chiến theo dòng chảy lớn nhất mà tiến về phía quân doanh nhà Minh.

Cách đó không xa…

Nguyễn Tông Đỗ chia nhỏ một vạn binh mã của mình làm năm cánh, mỗi cánh mười chiếc thuyền lớn khua chèo ngược sông vòng lên phía tây. Sau đó mượn lạch nhỏ kênh hẹp đông tiến, nhắm thẳng vào đại bản doanh nhà Minh.

Bóng cây hai bên bờ toả ra, trơ trọi chẳng mấy màu xanh. Trên bầu không, vài ba tiếng chim gọi bầy tê tái thê lương.

“ Bẩm, phó… ”

“ Phó cái gì mà phó! Ta đã bảo bao nhiêu lần rồi, phải gọi là ông lớn. ”

Nguyễn Tông Đỗ cầm bao kiếm gõ đánh bốp một cái xuống đầu người lính, vỏ kiếm bằng gỗ đụng vào mũ sắt đánh bốp một cái, tiếng vang không trong thanh mà hơi trầm đục.

“ Dạ, ông lớn. Doanh trại quân Minh chỉ còn cách chúng ta chừng một hai dặm đường thuỷ. Có cần tăng tốc không? ”

Nguyễn Tông Đỗ đưa tay vuốt râu, tỏ vẻ hài lòng. Đôi mắt y híp lại thành một đường kẻ hẹp, nếp nhăn trên trán sô vào nhau như sóng dưới sông. Khói cơm chiều bốc lên ở đằng xa, khiến y càng thêm yên tâm.

“ Vậy hả? Tốt lắm, cứ cho quân chạy chậm lại, thám thính cẩn thận. Chú ý trọng điểm phía Hồ Xạ tướng quân. ”

“ Rõ! ”

Người nọ chắp tay, hai hàm răng khẽ nghiến lại tức giận. Y vốn là bộ hạ của Hồ Đỗ, nhưng nay lại bất đắc dĩ bị phân vào dưới trướng Nguyễn Tông Đỗ. Y từng cùng Hồ Đỗ đánh mấy chục trận với quân Minh, trước đó lại từng xuất chinh tiến đánh Chiêm Thành nên không phải kẻ đần. Chỉ nghe thoáng qua là biết, Nguyễn Tông Đỗ đang muốn chờ, song không phải đợi cho quân Minh lơ lỏng canh phòng. Y đợi là đợi lúc Hồ Xạ, Hồ Đỗ đánh vỗ mặt vào doanh trại quân Minh.

Chỉ cần thế công đủ dữ dội,Trương Phụ - Mộc Thạnh ắt phải phân bớt lực lượng ở hai cánh ra phòng thủ.

Khi đó, Tông Đỗ và Công Khôi với hai vạn đại binh sẽ đánh úp ngay.

Doanh trại quân Minh cách đoạn sông Hàm Tử không quá xa, nên thám báo quân địch hẳn đã nắm được hướng khai triển quân của quân Hồ.

Song, Tông Đỗ không hề ngại. Năm vạn đại quân đang tiến thẳng về doanh trại, ngay cả khi chỉ chèo thuyền nhỏ cũng là một áp lực cực lớn. Nếu phân tán quân lực ra chặn cánh quân của hắn và Nguyễn Công Khôi thì có khác gì dâng đại bản doanh cho quân Hồ?

Người có cùng ý nghĩ ấy là Nguyễn Công Khôi. Sau khi nghe thám báo cáo tri hướng tiến công của hai người Đỗ, Xạ, y mới trộm thở phào. Không chỉ ham mê tửu sắc, so với Tông Đỗ y còn thiếu một chút quyết đoán.

[ Thánh thượng đúng là đoán việc như thần. Hồ Xạ Hồ Đỗ chỉ có thuyền nhỏ. Nếu một bên tử thủ đến cùng, bên kia liều mạng tấn công thì ắt tạo thành thế lưỡng bại câu thương. Khi đó ta chỉ cần ngư ông đắc lợi. Mượn tay quân Minh để nhổ đi gần hết phe phái ủng hộ tả tướng quốc trong quân ngũ, chiêu này của thánh thượng quả thực rất cao. ]Y càng nghĩ càng thấy nể sợ Hồ Hán Thương. Chẳng những biết nếm mật nằm gai chịu làm con bù nhìn, còn có tầm nhìn xa trông rộng. Trên hết là lòng dạ đủ độc, thủ đoạn đủ tàn nhẫn. Nguyễn Công Khôi thầm nhắc nhở bản thân phải hết lòng hết dạ đi theo ủng hộ vị tân hoàng này mới được.

Cứ theo lẽ thường mà nói, Trương Phụ sẽ cố thủ tử chiến. Thế thì mũi nhọn chiến tranh sẽ bị đẩy về phía Đỗ, Xạ.

Thế nhưng…

Sau trận thua ê chề ở Muộn Hải, lần này Trương Phụ nhất quyết không hành quân đánh trận theo lẽ thường nữa.

Cánh quân do Nguyễn Công Khôi cầm đầu chèo ra giữa dòng sông.

“ Thưa tướng quân, phía trước có dòng nước ngược. Có lẽ thuyền đi sẽ hơi xóc. Mong tướng quân đứng vững. ”

“ Không sao! Cứ nhắc anh em vững tay chèo lên. Qua con nước này, doanh trại quân Minh sẽ ở trước mặt. ”

Chừng mười chiếc thuyền tiến vào đoạn sông khó vượt, dòng nước xiết khiến chúng thoáng rẽ ngang sang bãi bồi bên cạnh.

Rầm!! Rầm! Uỳnh!

Đáy thuyền chấn động mạnh, mọi vật trên khoang bao gồm cả con người bổ nhào về phía trước. Giống như có chớp nổ dưới lòng sông, pháo nổ ngang đáy thuyền vậy. Nguyễn Công Khôi choáng váng, loạng choạng cố để giữ vững thân mình. Y thoáng thấy đáy thuyền trầm xuống một chút.

“ Trời ạ, cái dòng nước này mạnh quá đi mất. ”

Nguyễn Công Khôi lau mồ hôi trán, cảm khái.

“ Đó không phải dòng nước đâu, chúng ta đâm vào bãi chông rồi. ”

Có bốn thuyền trên mười chiếc bị chông cố định, nước bắt đầu chảy vào đáy thuyền. Ở cái lạch nhỏ này, chiến thuyền mắc cạn chẳng khác nào cá nằm trên thớt.

Nguyễn Công Khôi lập tức giật mình, hai từ “ địch tập ” bật lên trong óc hắn theo bản năng. Y xiết tay quanh mũi kiếm, ra lệnh:

“ Ngừng chèo, mau ngừng chèo! Vây quanh soái thuyền… ”Sáu thuyền còn lại đi lướt qua bốn chiếc mắc cạn. Mỗi chiếc chiến thuyền được lãnh đạo bởi một vị bách hộ. Trong một thoáng, sáu người vội vã lệnh cho tam quân ngừng chèo, tĩnh quan kì biến.

Song, thể hình to lớn khiến Cổ Lâu thuyền khó mà quay đầu nổi giữa đoạn sông chật hẹp thế này. Nay bốn chiếc đã bị vướng vào bãi cọc mắc cạn không tiến không lui được, ngoại trừ bỏ thuyền ra chẳng còn lựa chọn nào khác.

Nguyễn Công Khôi hốt hoảng ra lệnh dùng ván gỗ bắc cầu, để mình và quân lính trèo lên sáu chiếc còn lại. Mặc dù biết làm vậy là khiến toàn quân phải lâm vào hiểm cảnh, nhưng quân lệnh nặng như núi, các bách hộ còn lại dù không muốn nhưng cũng đành phải làm theo lệnh.

Cả mười chiếc Cổ Lâu thuyền dừng lại nơi lạch nhỏ, từng tấm ván gỗ thò ra qua mạn thuyền. Nguyễn Công Khôi dẫn đầu bò qua thuyền khác, tứ chi quặp chặt lấy những tấm ván chẳng khác nào con lười bám cành cây.

Các cụ lại có câu: “ ghét của nào trời cho của đó ”. Ngay cái thời điểm nhạy cảm này, lúc mà không ai trong quân Công Khôi muốn gặp phải mai phục, thì hai bên sông chợt dương lên những ngọn cờ của quân Minh. Liền đó, tiếng tù và giục ra quân nối đuôi nhau nổi lên khắp cả một vùng sông nước.

Nguyễn Công Khôi đang lôm côm bò qua thuyền khác, nghe tiếng hét đồng thanh vang trời dậy đất thì giật nảy mình. Hai tay đang tóm chặt tấm ván thoáng buông ra, người run bắn như cầy sấy. Thành thử, y trượt một cái, rơi đánh tòm xuống sông.

Hai bên sông túa ra cơ man nào là lính Minh, trong rừng cây còn thấp thoáng vô số bóng mũ, hình người. Hoả mai bắt đầu bắn, tên cháy lao vun vút về phía quân Hồ. Giống như một con chuột bị sa bẫy, đoàn thuyền Cổ Lâu chơ vơ giữa dòng nước dữ, mặc sức cho quân Minh đánh đánh giết giết.

Quân Hồ biết khó mà thoát thân, bèn cắn răng nổ pháo. đánh trả. Thần Cơ sang pháo đặt trên Cổ Lâu thuyền sống dậy, gầm vang một tràng khác nào sấm nổ trên không, núi non sạt lở.

Đùng đoàng tiếng pháo, thê lương giọng người cứ vang mãi trên sông như một vòng lặp vô tận. Có cảm giác những âm thanh ấy đã hoá thành bóng ma để ám lên khúc sông đầy thi thể nơi đây. Người này ngã xuống nối tiếp người kia, thây chất lên xác, súng ngả lên những mũi tên đứt đoạn, thương gãy vùi cùng kiếm mẻ xuống tận đáy sông. Mỗi lần tiếng thét vang lên, không phải người bắc chết thì dân nam về với đất. m thanh hoả pháo gầm vang như tiễn đưa các vong hồn về chốn cửu tuyền, xa lìa dương thế, bái biệt những nắng ấm sương mai.

Lần lượt, các bách hộ ngã xuống. Quân Minh đánh ập từ hai phía đã khó mà chống đỡ, họ lại cố tình đặt sẵn hoả pháo ở hai bên bờ sông. Cổ Lâu thuyền mắc cạn, là tấm bia ngắm bất động. Thật dễ làm sao.

Chiến thuyền bứt phá băng về phía trước, liều mạng mở con đường máu rút về phía quân doanh nhàMinh. Thương vong thật là thê thảm. Tổng cộng có bảy chiếc Cổ Lâu thuyền bị pháo oanh tạc thành một đống mảnh vụn, theo dòng nước trôi về biển đông.

Nguyễn Công Khôi toàn thân ướt sũng như chuột lột, lum cum bò lên bờ. Trông y nay còn thảm hơn cả con chó hoang mắc mưa, con mèo gần chết đuối. Chưa kịp thở hơi thứ hai, những ngọn thương tua tủa của quân Minh đã chĩa về phía y, không có đến một kẽ hở nhỏ. Cái sắc bén truyền tới từ mũi lao khiến lông tơ y dựng đứng. Biết là không còn cơ hội, Nguyễn Công Khôi lắc đầu, hai tay giơ lên xin hàng.

Các lộ binh mã tập kích của nhà Hồ liên tiếp trúng mai phục. Cánh của Tông Đỗ cũng chẳng phải là ngoại lệ. Quân Minh chọn đúng nơi nước lặng chảy chậm, tốc độ thuyền chiến không còn quá nhanh bèn ập ra từ hai bên sông, liên tiếp quăng những chum đất lên thuyền. Chum vỡ, ứa ra ngập ngụa sàn tàu không gì khác ngoài dầu và rượu.

Hoả công!

Trương Phụ cho quân xả tên cháy thẳng vào đoàn thuyền, đốt trụi sáu trên mười thuyền Cổ Lâu. Y trả mối thù đốt doanh lần trước bằng một trận mưa lửa, bằng một trận hoả hoạn trên sông.

Nguyễn Tông Đỗ cắn răng cho quân ngược sông tiến công, muốn mở đường máu như các nhánh quân khác. Nhưng than ôi, xui cho y là đụng ngay vào bãi cọc ngầm dựng giữa sông. Hai Cổ Lâu thuyền dẫn đầu va vào bãi cọc, hai chiếc còn đụng vào chiếc trước đánh ầm một cái. Mảnh gỗ vụn vương đầy trên sông.

Cổ Lâu thuyền hư hại nặng. Nguyễn Tông Đỗ vội vàng bỏ thuyền lên bộ. Y tuốt kiếm cắt tóc cạo râu cho mặt khác đi, đang muốn trốn, nào ngờ đón sẵn y lại là Mộc Thạnh.

Thạnh ngồi trên yên ngựa cao cao, siêu chỏ vào Tông Đỗ mà cười:

“ Ồ, chẳng phải tướng giữ thành Đa Bang đây sao? Hôm nay sao lại luân lạc tới mức này? ”

Nguyễn Tông Đỗ biết có trốn cũng chẳng thoát, bèn dập đầu như hái sao:

“ Con lạy ông, con lạy ông ạ… đều là mấy tên họ Hồ muốn kháng lại thiên triều, chứ con thấp cổ bé họng, gan chì bằng ngón chân cái thì làm gì dám chống lại thiên uy. Xin ông tha cho, con làm trâu làm ngựa gì cũng chịu. ”

Mộc Thạnh cười khẩy khinh thường, siêu vung cao muốn chém, nhưng lúc này lại có tiếng ai gọi với qua:

“ Mạng chó tên này hãy còn hữu dụng, mong hầu gia siêu hạ lưu nhân. ”

“ Hừ, tha nhà ngươi một mạng. Bay đâu, bắt! ”

Mộc Thạnh hừ lạnh, giục ngựa cho quân lui vào cánh rừng. Tông Đỗ bị trói nghiến hai tay, cổ thòng một sợi dây buộc vào yên ngựa. Y bị dắt đi như người ta dắt chó, song cũng đành cắn răng mà nhịn.

Chương 30: Hồi tám (3)

Trương Phụ dường như đã tính toán được chước này của Hán Thương từ trước trận đánh trên sông. Một mặt y rút bớt quân lính thủ thuyền, mặt khác lại cho sắp sẵn phục binh đón lõng. Trăm chiến thuyền tiến lên, lúc đánh đến mặt tây của Minh doanh chỉ còn không tới hai mươi chiếc.

Có thể thấy trận địa mai phục của quân Minh đã gần như vô hiệu hoá cánh quân tập kích của nhà Hồ.

Lại nói chuyện Hồ Xạ, Hồ Đỗ…

Bọn họ đứng trên mũi thuyền, ánh mắt trực chỉ Minh doanh mà trong lòng nhớ lại những gì Hồ Nguyên Trừng đã căn dặn, lòng thầm nghĩ hẳn sắp có sự bất tường gì đây. Quả nhiên, chẳng phải chờ bao lâu, tiếng tù và thúc quân đã dồn dập vang lên từ khắp bốn phương tám hướng.

“ Không phải tù quân ta. ”

Trần Đĩnh thấp giọng nói, ánh mắt y nghiêm nghị và sắc lạnh. Thanh gươm nằm im trong vỏ gỗ bên eo, ai mẫn cảm còn mơ hồ cảm nhận được cái lạnh của nước thép.

“ Toàn quân tiến về phía trước! ”

Hồ Xạ biết tả tướng quốc đã đoán đúng hướng đi của quân Minh, trong lòng nể phục bội phần. Y lập tức hạ lệnh cho toàn quân dấn tới trước, tranh thủ toàn lực công doanh lúc quân địch phải phân tán lực lượng đi rải mai phục.

Vượt qua sóng nước, mấy trăm chiếc thuyền nhỏ hướng thẳng vào doanh trại quân Minh. Quân thủ trại nhác thấy bóng binh nhà Hồ, vội vàng đốt lửa báo hiệu. Hồ Xạ trông ánh lửa bốc lên xa xa, trong lòng thoáng có một dự cảm chẳng lành. Song y biết không thể chần chừ thêm, bèn cho quân dùng số Thần Cơ sang pháo ít ỏi mang theo được nã đạn vào Minh doanh.

Mặt đất như bị lật ngược, lều trại như cây nấm bị chấn lực bứng gốc, quăng quật khắp nơi. Trong doanh trướng, chẳng còn cái gì nguyên vẹn. Đoàn thuyền dội pháo trong khoảng thời gian nửa chung trà mới dừng lại.

Hồ Xạ dẫn đầu nhảy xuống khỏi thuyền, Trần Đĩnh và quân sĩ theo sát phía sau, chực chỉ quân doanh nhà Minh. Xa xa, Hồ Đỗ và cánh quân của mình cũng đang làm điều tương tự.

Quân Hồ vừa nhảy khỏi thuyền đã hộc tốc lao về phía trại Minh. Dẫn đầu là toán quân khiêng mộc che chắn, rồi mới tới các chủng binh sĩ khác. Hồ Xạ cố tình để chừng năm ngàn quân lại thuyền. Lệnh họ hễ thấy động dùng sang pháo bắn yểm hộ cho đại quân tiếp cận thành giặc.

Lớp rào gỗ bị chặt tung lấy đường, quân tướng nhà Hồ túa thẳng vào địch doanh, ai nấy đều dớn dác nhìn quanh đề phòng. Họ mường tượng ra trong đầu mình hình ảnh của một trận khổ chiến. Họ chờ đợi một rừng mác xồ tới, một cơn mưa tên ập lại hay một trận bão đạn xả thẳng vào mặt đại quân.

Nhưng…

Im lặng tuyệt đối.

Đáp lại quân tướng nhà Hồ chỉ có cái lặng câm đến không tưởng. Suốt một góc phía nam rặt những lều vải nằm lăn lóc khắp nơi. Căng mắt ra tìm cũng chỉ thấy được lác đác vài ba thương binh người Minh nằm trong đống đất mới bị xới tung, rên rỉ.

Trái tim trong ngực Hồ Xạ bắt đầu gia tốc. Y đánh hơi thấy có gì bất thường trong doanh trướng quân Minh:

[ Khắp một vùng doanh trướng rộng lớn mà bóng địch chỉ đếm trên đầu ngón tay. Thật đáng ngờ làm sao. ]

Hồ Đỗ hai tay nắm hai thanh việt lớn, đề khí mà chạy. Cứ một bước của y dài bằng bốn năm bước chạy của thường nhân nên chẳng mấy chốc đã xộc thẳng đến soái doanh ở trung tâm. Trên đường, y dẫn quân vượt qua không biết cơ man nào là lều trại, song không hề có một bóng người.

Chỉ còn một đoạn ngắn nữa là đến soái trướng của quân Minh. Hồ Đỗ nheo mắt mà nhìn, phát hiện một bóng người cao lớn đang đứng trước cửa doanh trại. Bộ kim giáp ánh lên nắng vàng, càng thêm uy vũ. Cây siêu dài nắm chắc trong tay, lưỡi thép như hãy còn vương mùi máu.

“ Mộc Thanh!! Nộp mạng đây! ”

Hồ Đỗ thấy kẻ địch, máu lại nóng lên. Y tung mình tới, song việt vung xuống đầu địch, uy thế khác nào núi sạt đất long?Xoạc!!!

Một tiếng giòn khô khốc vang lên, lưỡi việt của Hồ Đỗ lẹm toác cả kim khôi. Đà đi vẫn chưa dứt, trọng lực kéo hai lưỡi việt xuống đến non nửa bộ giáp, khiến nửa trên kim giáp toẽ làm ba mới chịu dừng lại.

Song, không hề có máu tươi toé ra…

Trái lại, lả tả bay trước mặt Hồ Đỗ là cả một trời rơm rạ. Một cục rơm tròn tròn bị tiện làm ba mảnh rơi xuống dưới chân y. Mộc Thạnh đứng trước soái trướng chỉ là một con bù nhìn.

Hồ Đỗ tức mình vận sức, giật mạnh hai thanh việt ra hai bên. Con bù nhìn và bộ giáp bị y xé bung từ chính giữa, hoàn toàn biến dạng.

“ Thằng khốn họ Mộc, con thỏ đế! Ra đây cho tao!! ”

Hồ Đỗ gào lên, vác việt cày thẳng vào doanh trướng. Đôi mắt beo của y trợn tròn xoe, nhớn nhác nhìn quanh tìm kiếm kẻ thù. Song chẳng có một ai hết. Trong soái trướng, ngoại trừ bàn ghế đổ nghiêng ngã ngả ra thì không có lấy dù chỉ một con chuột.

Y tức giận vung việt bửa một phát thật mạnh, chém vụn luôn cái bàn tre gần nhất. Nói đoạn, Hồ Đỗ phất áo choàng định bỏ đi.

Nhưng rồi… y chợt khựng lại, mồm tự lẩm bẩm mấy câu. Có lẽ do trong doanh trại quân địch quá yên ắng, nên y đã tự độc thoại luôn cho đỡ căng thẳng.

“ Tả tướng quốc dặn là doanh trống thì đừng vào. Mình và Hồ Xạ chia làm hai hướng đột kích, nhưng xới tung cả nửa cái doanh trại lên chẳng thấy bóng ma nào hết. Không được! Có gì đó không đúng ở đây. ”

Hồ Đỗ vò vò tóc, mũ giáp lệch nghiêng ra trước.

Thế rồi, một cơn gió chợt luồn qua sau gáy. Hồ Đỗ giật mình, quay ngắt ra sau. Té ra chỉ là vải lều bị rách làm gió lọt vào, chứ không có tên nào mai phục trong chỗ tối như y tưởng. Hồ Đỗ chặc lưỡi, tự chửi mình thần hồn nát thần tính.
Chính vào cái lúc ấy, có một vật mỏng dính, hơi vàng thu hút sự chú ý của y. Là một mảnh giấy! Cơn gió thổi vào đúng lúc khiến nó thoáng lay động, bay về phía y. Chất giấy ngày xưa thô nhám và vàng, khá giống màu đất. Lúc xộc vào soái trướng, Hồ Đỗ đang cáu nên không chú ý tới nó.

Y thổi một hơi, khiến đám đất bám lên mảnh giấy bay hết đi để lộ ra hình vẽ một vùng sông nước. Hoá ra là một tấm địa đồ. Cứ nhìn vị trí và hướng các nhánh sông chảy thì nơi được vẽ lại trên mảnh giấy này chính là Hàm Tử quan chứ không đâu khác.

Hình vuông lớn nằm ở bờ bắc sông, Hồ Đỗ đoán ấy là doanh trại của quân Minh. Còn hình tam giác đỏ phía nam kia thì chắc chắn là quân doanh nhà Hồ rồi. Cánh rừng phía tây được khoanh tròn.

Có một đường kẻ mảnh đi ra từ quân doanh của giặc Minh, xuyên qua khu rừng phía tây rồi dừng lại ở bờ nam. Phía trên còn viết rõ hai chữ “ cướp doanh ”.

“ Hỏng bét!! Chúng bỏ quân doanh tập kích trại ta. Đám giặc này gian xảo thật. ”

Đỗ chạy vội khỏi lều, đề khí hét vang ba lần. Tiếng y oang oang như chuông đồng, sĩ tốt Đại Ngu trong bán kính năm dặm ai cũng nghe được. Tuy làm thế e rằng đánh rắn động cỏ khiến địch có chuẩn bị, song lúc này Hồ Đỗ cũng chẳng lo được nhiều như thế.

Binh sĩ biết rằng tướng quân gọi khẩn, bèn vội vã kết đội chạy theo hướng có âm thanh. Chỉ mất có một khắc, hơn ba ngàn binh tướng đã chạy tới, sẵn sàng đợi lệnh. Số khác vì toả đi khá xa chưa kịp tập hợp, song cũng đang nhanh chóng hướng về nơi Hồ Đỗ đang đứng.

Hồ Đỗ nói, giọng gấp gáp.

“ Anh em nào nhanh chân nhất, mang tờ giấy này đến cho Hồ Xạ tướng quân, y tự biết sẽ phải làm gì. Số còn lại mau theo ta giết địch. ”

Binh sĩ dạ ran một tiếng, sau đó gần ba ngàn người rục rịch tiến về phía tây. Hồ Xạ băng băng vác song việt chạy trước dẫn đầu nhánh quân, lòng như có lửa đốt.

[ Té ra ngay từ đầu giặc đã không có ý định thủ trại, mà muốn sống còn với ta trận này. Mình và Hồ Xạ chủ quan quá. Tại sao không ngờ tới chiêu này của Trương Phụ ngay từ lúc y đặt phục binh ám hại quân ta kia chứ? ]

Y dẫn quân theo cửa tây Minh doanh xông ra, cứ men theo dòng nước mà đi. Chẳng mấy chốc đã gặp được chiến thuyền Cổ Lâu của quân đồng minh neo ở hai bờ sông.

Hồ Đỗ cao giọng gọi, nhưng không có tiếng đáp lời.

Quân Hồ liên tiếp trúng mai phục, sĩ khí uể oải. Các bách hộ Đại Ngu không còn cách nào khác phải cho thuyền xuôi dòng tiếp để tránh sự truy kích của địch. Song, họ cũng không dám khinh suất tiếp cận quá gần địch doanh, thế nên đành bỏ thuyền lẩn vào rừng trốn trước, rồi từ từ tìm cách hội họp với nhau.

Hồ Đỗ dẫn quân đi thêm nửa dặm thì bắt gặp một cánh tàn binh nhà Hồ.

Binh sĩ thua trận phải trốn chui trốn lủi khác nào con chuột chạy qua đường. Nay gặp được người mình, chẳng ít người mừng đến nỗi kìm không được hai dòng lệ.

Hồ Đỗ hỏi han vài câu trấn an quân tâm. Y cúi xuống cùng quân y băng bó vết thương cho thương binh, lại dặn:

“ Ta đây đang chui đầu vào chỗ chết, đáng lẽ không nên liên luỵ mọi người. Song doanh ta đang trong hiểm cảnh trên đe dưới búa, không dám trễ nải. Lát nữa mọi người cứ men theo dấu chân đại quân mà đi, ắt gặp được Hồ Xạ. Y nhanh trí hơn ta, sẽ an bài mọi người an toàn. ”

Sơ cứu cho người cuối cùng, Đỗ đứng vụt dậy, song việt vắt chéo sau lưng. Bóng lưng y hắt lên đất, dưới cái nắng đang tàn bất giác trở nên sao mà cao và thế rộng. Đoàn thương binh thấy y quả quyết, tròng mắt ai nấy đều đỏ lên:

“ Nếu tướng quân không chê đám người chúng ta vướng tay cản chân, xin được góp một phần sức lực. Chỉ mong sau khi chúng ta chết rồi, vợ dại con thơ được các vị trên cao đoái hoài đôi chút, để hàng năm bên mồ phảng chút khói hương. ”

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau