THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 226 - Chương 230

Chương 226: Hồi hai mươi hai (8)

Lại kể chuyện về Lê Hổ ở Lam Sơn…

Nguyễn Súy thấy tướng cầm thương hai đầu nhảy ra, đang định động thủ, thì bỗng nhiên phát hiện bản thân đã bị vây trong sát khí bừng bừng của đối thủ. Ánh mắt Lê Sát như mắt sói, khóa chặt lấy nhất cử nhất động của y. Thân bất động, nhưng ý cảnh và khí thế đã động. Chỉ cần Nguyễn Súy hơi lơ lỏng, đầu thương kia sẽ cắm phập vào yết hầu của gã ngay lập tức.

Hai bên giằng co nhau một lúc, thì Nguyễn Súy lên tiếng:

“ Hôm nay bản tướng đến đây là để mời Kim Ngô tướng quân sang doanh trướng của bọn ta một chuyến. Trùng Quang đế và Đặng đại nhân có chuyện cần bàn. ”

Lê Hổ bèn lên tiếng:

“ Đặng đại nhân? Có phải là Đặng Dung, con trai độc nhất của quốc công Đặng Tất đó không? ”

Hồi đánh thành Cổ Lộng, Đặng Dung tuy bị quân Minh làm hỏng đôi chân, nhưng tàn mà không chịu phế, đã nghĩ ra kì kế phá địch. Nếu không phải quân Ai Lao đánh lén thì có lẽ đã đánh hạ được thành Cổ Lộng rồi.

Đối với người có tài có chí như thế, Lê Hổ tự nhiên là có ấn tượng tốt.

Mà Trùng Quang đế Trần Quý Khoáng lại là người thế nào mà được nhân tài như Đặng Dung phò trợ, quả thực Lê Hổ cũng muốn nhận thức một phen xem là rồng hay lân.

Nhưng bản thân cậu chàng đã nhận lời Trần Ngỗi, cũng đã nói rõ là sẽ tin tưởng ông, thành thử không tiện sang gặp.

Cậu chàng đang định từ chối khéo, thì bỗng phía sau có tiếng huyên náo.

“ Thánh thượng giá lâm. ”

Sau khi thông báo xong, vị hoạn quan nọ lập tức lủi ra sau Nguyễn Quỹ. Nơi này toàn là tướng lĩnh xông pha trận mạc, khí thế bức người, hoạn quan bình thường như gã quả thực không sao thở nổi, phải lánh phong mang. Mà trong ba tướng, chỉ có Nguyễn Quỹ là hắn thấy thân cận nhất mà thôi.

Trần Ngỗi đã quyết định ra khỏi chùa.

Điều này Lê Hổ quả thực không hề ngờ tới.

Cậu chàng quay đầu lại, đoạn toan quỳ xuống hành lễ, thì đã có bàn tay to bè chai sạn đưa ra ngăn lại. Ngẩng đầu lên, chỉ thấy Trần Ngỗi đã mặc long bào mão cổn chỉnh tề, râu ria đầu tóc được cắt tỉa gọn gàng sạch sẽ, thần sắc sáng lạn. Tuy là còn gầy guộc hốc hác, nhưng đã không còn cái vẻ chán chường tuyệt vọng của mấy ngày trước nữa.

Nguyễn Súy thấy hành vi của Lê Hổ, đoán biết cậu đã chọn phe, bèn quay người toan bỏ đi, thì Trần Ngỗi đã lên tiếng ngăn lại:

“ Nguyễn tướng quân xin dừng bước. ”

Nguyễn Súy tuy đã đứng lại, nhưng không thèm ngoảnh mặt về phía Trần Ngỗi, mà quay lưng về con đường lên núi. Nguyễn Quỹ thấy vậy bèn quát:

“ Phạm thượng! Đại nghịch bất đạo! ”

Nguyễn Súy tuyệt nhiên không chịu kém, lạnh lùng lên tiếng:

“ Ta đứng lại đây. Nhưng ta không phải thần tử của hắn, hắn cũng không phải là hoàng đế của ta! Đứng lại, là vì ta là người nước Nam, còn hắn đánh bại giặc bắc ở bến Bô Cô giúp ta rửa hờn tẩy nhục mà thôi! Có chuyện gì thì mau nói đi, bản tướng còn phải trở về doanh thưa chuyện với thánh thượng và Đặng đại nhân, đừng làm lỡ chuyện của ta! ”

Nguyễn Quỹ vẫn chưa chịu thôi, mà quát ngay:

“ Thánh thượng còn đang ở đây, thằng ranh con Quý Khoáng là cái thá gì mà xưng vương xưng đế? ”

Trần Ngỗi bèn phất tay, để y ngừng nói…

Đoạn, ông lên tiếng.

Một lời nói ra, tuyệt nhiên không một ai có thể ngờ được:

“ Nguyễn Súy tướng quân quá lời. Hôm nay Trần Ngỗi ra tận đây, là muốn tướng quân chuyển lời ta đến Đặng Dung và Trùng Quang. Rạng sáng ngày mai, mời hai người đó lên điện thờ Đại Thắng Minh hoàng đế để nói rõ ngọn ngành. Binh mã muốn mang bao nhiêu lên núi cũng được. Bọn ta tuyệt đối sẽ không dùng một binh một tốt để ngăn cản! ”

“ Thánh thượng, chuyện này không đùa được đâu!! ”

Nguyễn Quỹ vội la toáng lên.

Lời Trần Ngỗi vừa nói có hai chỗ không ổn…

Thứ nhất: ấy là gọi Trần Quý Khoáng là Trùng Quang. Như thế chẳng khác nào công nhận tính chính danh của y, nhận định y là một ông vua ngang hàng với mình cả.

Thứ nhì: cho đối phương đem quân lên thành đông.

Phải biết bây giờ Trần Ngỗi mang cái tiếng tệ bạc, sát hại trung thần, hết chim bẻ ná trên đầu. Đại thế về cơ bản đã vào tay Trần Quý Khoáng và Đặng Dung, cũng may là có vài tướng và mẹ y dấy binh ở sông Hát kéo quân đến trợ chiến mới tạm thời ổn định được đại cục.

Nhưng lúc này cho đối phương dẫn đại binh lên thành đông…

Ngộ nhỡ binh biến, thì chẳng phải thành Tràng An mất trắng vào tay quân của Trùng Quang, mà Trần Ngỗi còn có nguy cơ sẽ bị bắt hay sao?

Nguyễn Quỹ quả thực không sao hiểu được…Tại sao vua của mình lại làm cái chuyện ngốc nghếch đến thế…

Bản thân Nguyễn Súy cũng kinh ngạc không thôi.

Có câu “ của rẻ là của ôi, của cho là của nợ ”, thế nhưng thế này thì có khác gì đem cả giang sơn dâng cho người ta?

Lẽ nào lời thế nhân nói là sự thật? Kì thực Trần Ngỗi quả thực khó mà gọi là tài cao bắc đẩu, ngồi được trên ngai rồng, tái lập được nhà Trần kì thực đều là do Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân đứng sau hậu thuẫn?

Dù thế nào đi nữa…

Thì điều kiện mà Trần Ngỗi đưa ra có thể nói là trăm lợi, vô hại đối với phía Trùng Quang đế.

Thế nên, y bèn nói:

“ Nếu đã vậy, ta xin chuyển lời giúp ông. ”

“ Làm phiền tướng quân rồi. ”

Trần Ngỗi nói, đoạn xoay người bỏ đi, không quên ra hiệu để Lê Hổ đi theo mình.

Cả đoàn vua tôi rồng rắn kéo nhau, đi đến đền Đinh Tiên Hoàng.

Đền Đinh…

Trước tượng Đại Thắng Minh Hoàng Đế, hiện tại đã có sáu nén hương trầm, mùi thơm nhàn nhạt thổi vào trong cơn gió.

Trong đền lại lần nữa chỉ có hai người là Trần Ngỗi và Lê Hổ.

Trên đường đi tới đây, Lê Hổ cũng đã suy nghĩ nhiều.

Tại sao Trần Ngỗi lại đưa ra điều kiện tốt như thế cho Trùng Quang Đế Trần Quý Khoáng?

Lẽ nào y không cần đến giang sơn gấm vóc này nữa hay sao?

Ý nghĩ này thực quá sức điên rồ. Trên đời này lại có người chê làm vua, chê vinh hoa phú quý hưởng mười đời không hết, chê quyền thế chí cao vô thượng hay sao?

Thế nhưng, lúc này Trần Ngỗi lại hỏi Lê Hổ một câu…

Một câu hỏi bản thân cậu chàng cũng không ngờ là y sẽ hỏi mình.

“ Cậu có biết vì sao ta lại ra điều kiện như thế hay không? ”Lê Hổ biết hay sao? Cậu chàng cũng chẳng thể nào hiểu được trong đầu ông ta nghĩ gì lúc ấy? Chính Lê Hổ cũng đã vật lộn với câu hỏi này trong suốt chặng đường tới đền đấy thôi.

Nhưng nhìn ánh mắt Trần Ngỗi, cậu chàng lại im lặng…

Nhìn ông như thể đang trông chờ vào một thứ gì đó ở Lê Hổ…

Như thể ông đã đoán trước được cậu chàng sẽ trả lời đúng ý mình vậy.

“ Tại sao… ”

Thấy cậu chàng lâm vào trầm tư, Trần Ngỗi lại tiếp. Nhưng có cảm giác ông không nói chuyện với cậu, mà nói cho chính bản thân mình nghe nhiều hơn.

“ Hổ. Cậu từng cứu mạng ta, giúp ta đến được Yên Mô Mô Độ an toàn, dấy nghĩa với Trần Triệu Cơ. Sau đó ở sông Vân lại liều chết hộ giá, đến giờ chuyện ấy ta vẫn canh cánh trong lòng. Ta trước giờ vẫn thắc mắc, rằng Trần Ngỗi này có tài gì, đức gì, mà bao nhiêu người nguyện quyên sinh… ”

Im lặng.

Yên tĩnh đến độ tưởng như có thể nghe được cả tiếng khói hương bốc lên, mồ hôi rơi xuống…

Nhưng cái yên lặng này, kì thực chỉ là vẻ ngoài mà thôi.

Giống như lửa đỏ gói trong tờ giấy, nhanh thôi, sẽ cháy lan ra ngoài, nuốt chửng cả tờ giấy…

Lê Hổ phát hiện Trần Ngỗi đã không xưng là trẫm nữa.

Điều này càng khiến cậu chàng thấy ngờ vực.

Kì thực, cậu chàng đã sớm nghĩ tới một khả năng, chẳng qua vì nó quá phi lí nên mới gạt sang một bên.

Trần Ngỗi lại lên tiếng:

“ Vào chùa Nhất Trụ tĩnh tâm ít lâu, tạm thời không cần lo chuyện quốc gia đại sự, ta mới có thời gian nghĩ thật kỹ mọi chuyện. ”

Nói đoạn, cười dài một tiếng…

Tiếu thanh pha một chút bi thương, một chút bất đắc dĩ, nhưng đại đa phần lại là thanh thản đến lạ…

“ Có lẽ thực chất là ta nhận vơ… Người ta chẳng phải hi sinh vì ta, mà là tuẫn quốc! Sở dĩ họ muốn ta sống, ấy là vì họ gửi gắm nơi ta nguyện vọng chưa thể hoàn thành. Nực cười thay… Ta đáng lẽ phải là hi vọng cuối cùng của người ta, thì bây giờ lại bất lực đến vậy. Giản Định đế một thời gầm ra lửa hét ra sấm, nay kêu trời trời chẳng thấu kêu đất đất không nghe… Ta còn mặt mũi nào gặp Triệu Cơ, gặp những người đã bỏ mạng cho ta được sống? ”

Lê Hổ thở dài…

Xem ra, người đứng trước mặt cậu đã chết tâm.

Xuất hiện hôm nay, chẳng qua là một dạng hồi quang phản chiếu đặng làm nốt chuyện cần phải làm mà thôi…

“ Thánh thượng đừng cả nghĩ quá. Đấy âu cũng là suy nghĩ một phía của người mà thôi. Có câu sông sâu biển thẳm dễ dò, nào ai lấy thước mà đo lòng người. Bản thân những người đã ngã xuống chưa chắc gì đã nghĩ như thế đâu. Huống hồ, đâu phải người kêu trời không thấu kêu đất không nghe? Các tướng dấy binh ở sông Hát, thần cũng đã nói là tin lời ngài, không phải sao? ”

Dẫu biết Trần Ngỗi đã không còn đấu ý, nhưng Lê Hổ vẫn khuyên can an ủi một phen. Biết đâu lại có kì tích xuất hiện, Trần Ngỗi phấn chấn trở lại thì sao?

Nhưng Trần Ngỗi đã đáp:

“ Ta tất nhiên là biết chuyện đó. Nhưng đáp án này khiến ta thấy bình tâm, vậy có lẽ là đủ rồi. ”

Hai người lại im lặng thêm một chốc…

Đoạn, Trần Ngỗi lên tiếng:

“ Tướng quân còn chưa trả lời câu hỏi của ta… ”

Lê Hổ bỗng nhiên nghĩ tới lời u mình từng dạy khi nói về chuyện cho Lê Sát đến Hoa Lư chuyến này.

Lam Sơn cũng chống Minh, Hậu Trần cũng chống Minh. Miễn là đều kháng Minh cả, thì theo ai mà chẳng được?

Lê Hổ chậm rãi lên tiếng, dè dặt nhấn rõ từng tiếng:

“ Lẽ nào thánh thượng quả thực định nhường ngôi báu cho Trần Quý Khoáng hay sao??? ”

Chương 227: Hồi hai mươi hai (9)

Tung Sơn, Thiếu Lâm tự…

Nắng rọi lên khoảnh sân vắng, sương sớm đậu lên đôi vai thiếu niên đang tĩnh tọa.

Tóc…

Sương vừa rơi…

Tay người thiếu niên cũng động.

Mắt không mở…

Giọt sương sớm không chạm đất…

Luyện công thêm nửa canh giờ, thiếu niên mới vươn vai vặn eo, đứng dậy.

Đôi mắt mở ra nhìn quanh, sáng như ai hái sao lên trời mà gắn vào.

Y phục thiếu niên nọ đều bằng vải xô, eo thắt đai lưng bằng cỏ, trông chẳng khác nào con cháu nhà nông bần hàn, nghèo xơ nghèo xác cả. Nhưng mày kiếm mắt rồng, tuấn dật như thư sinh, lại mang thêm vài phần kiên nghị phong trần.

“ Cẩu! ”

Thiếu nữ từ đầu tường lướt xuống, chạy tới bên cậu chàng.

Quần áo thôn quê giản dị chẳng thể nào giấu được ngũ quan yêu kiều thanh tú, lại càng không thể che đậy được khí chất linh động hoạt bát. Nếu năm năm trước, Hồ Phiêu Hương giống như ngọc nữ. Thì hiện tại, cô nàng đã có thêm mấy phần thoát tục, nhưng vẫn giữ lại cái tinh nghịch hoạt bát lúc còn là trẻ con.

Không sai…

Hai đứa lên Thiếu Lâm tự đã được năm năm.

Niết Bàn kinh chúng cũng đã tìm được.

Nhưng tạm thời chưa thể xuống núi. Nhất là khi manh mối mà thánh tổ Khổng Lồ lưu lại vẫn còn là ẩn số…

Năm năm đã qua.

Tạng Cẩu bé xíu ngày xưa đã lớn thành thiếu niên anh tuấn. Cái vẻ ốm đói, còi cọc thuở nào đã chẳng còn xót lại. Chỉ có tính cách là vẫn như xưa, thay đổi duy nhất là đã trưởng thành, thiếu đi mất phần ham chơi…

Luyện võ không chỉ rèn luyện thân thể. Quan trọng là tâm tính.

Có thể nói ấy là bài học vỡ lòng mà Quận Gió dạy cho cậu.

Nếu không, ông đã chẳng cần phải tốn công tốn sức bày đủ trò để thử lòng Tạng Cẩu.

“ Võ công… sinh ra là để giúp nước, cứu đời. Nếu như không uốn nắn tử tế, để kẻ gian học được, đem đi hà hiếp kẻ yếu, luồn cúi kẻ mạnh, há chẳng phải đi ngược lại tôn chỉ của người học võ hay sao? ”

Ngay từ tấm bé, Tạng Cẩu đã được thầy truyền dạy cho cái gì mới là thượng võ.

Bảy năm luyện võ, tu tâm dưỡng tính quả thực khiến cậu chàng giờ đã có một chút phong phạm của hiệp giả…

“ Ăn sáng không? ”

Hồ Phiêu Hương nhẹ nhàng cầm cái làn tre, đưa qua đưa lại.

“ Được! Hôm nay đánh Tàng Kinh các lần nữa, ôm bụng đói đến đánh chỉ có đường thua đứt đuôi! ”

“ Có thực mới vực được đạo. Xem ra mấy năm ở Thiếu Lâm tự, Tạng Cẩu ngố rừng ngày nào học hỏi được không ít nha. ”

Quả thực…

Trở thành thiếu niên, Tạng Cẩu cũng có phần nhanh mồm nhanh miệng hơn trước. Thằng nhóc thật thà hiền lành ngày trước, bây giờ cũng đã bắt đầu biết cách trêu ngược lại Hồ Phiêu Hương.

Hai đứa ngồi dưới tán cây, lấy điểm tâm ra ăn sáng.

Cơm nước xong xuôi rồi, cả hai mới chậm rãi sải bước về phía tòa tháp đá cổ kính nằm khuất ở nơi sâu nhất trong khu rừng sau Thiếu Lâm tự. Đường trải đá lâu ngày ít người lại qua, đã mọc rêu xanh kín đặc từng bậc từng bậc. Nhưng hai người thản nhiên bước qua, xem ra năm năm nay, Tạng Cẩu và Hồ Phiêu Hương đã đến nơi trọng địa này của Thiếu Lâm tự không biết bao nhiêu lần.

Tàng Kinh các…

Niết Bàn kinh nằm ở đó.

Hồi ấy sang Tàu, quả thực thánh tổ Không Lộ đã dừng chân chốn này, đăng sơn bái Phật.

Đồng thời, cũng nhờ cậy trụ trì Thiếu Lâm lúc đó mấy điều.

Niết Bàn kinh gửi ở Tàng Kinh các của chùa Thiếu Lâm, người muốn lấy, thì phải phá được trận Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới của mười tám người đồng.

Song… nói thì dễ hơn làm.

Mười tám người đồng, ai nấy đều có võ công ở trên Nguyên Mãn đại sư. Hơn nữa làm người rất nguyên tắc, quy quy củ củ, hoàn toàn không vì hai đứa nó là trẻ con mà nương tay. Suốt năm năm này Tạng Cẩu và Hồ Phiêu Hương mỗi ngày rằm, mùng một là lại lên tháp xin đấu, nhưng chưa lần nào thắng cả.

Tạng Cẩu và Phiêu Hương đẩy cửa, tiến vào tòa tháp sâm nghiêm…
Không có vẻ gì là hồi hộp hay khẩn trương cả. Cả hai đã quá quen với việc này rồi.

Mười tám người đồng đã ngồi chờ sẵn.

Thấy hai người tiến vào, họ liền mở bừng hai mắt, không nói không rằng người nào về đúng vị trí đã định sẵn của người ấy. Bày trận xong xuôi, cả mười tám người mới khom người chào kiểu con nhà võ với hai người Tạng Cẩu, động tác đều tăm tắp còn hơn cả quân tinh nhuệ đang duyệt binh.

Hai người Tạng Cẩu, Hồ Phiêu Hương biết là ấy là dấu hiệu để động thủ, thành ra cũng ôm quyền trả lễ.

Tạng Cẩu động thân!

Cậu chàng tiếng tới hai bước, băng qua khoảng cách hơn hai trượng, nắm đấm đánh thẳng vào một người đồng gần nhất.

Ấy là chiêu Hàm Chó Vó Ngựa.

Người đồng bèn vung tay, co chân. Chân dùng một thế trong Ca Diệp Thoái, lấy đầu gối để đỡ nắm đấm của Tạng Cẩu. Còn tay thì phóng ra một chiêu trong Long Trảo Thủ đánh ập vào mặt cậu chàng.

Cũng cùng lúc ấy, hai người đồng khác một người tiến tới từ mé hữu, một người vòng lại từ phía tả. Một sử một chiêu trong Niêm Hoa Chỉ, một dùng một chiêu trong La Hán Phục Ma chưởng.

Tạng Cẩu đột nhiên biến chiêu, quyền vừa đấm ra đổi thành hoành ngang, chém ra một chiêu như thủ đao. Ấy là chiêu cuối cùng trong Phóng Hạ đao pháp, Lập Địa Thành Phật! Thủ đao phá vỡ Long Trảo Thủ, dư kình chưa dứt, đánh chéo sang trái, lúc này thủ đao lật lên thành chưởng, chính là một chiêu trong pho Thiên Phật Thủ đỡ lấy Niêm Hoa Chỉ.

Tay còn lại cậu chàng đánh nhứ ra một cái, đoạn xòe thành chưởng, vỗ một cái vào hổ khẩu của người đồng phía bên phải. La Hán Phục Ma chưởng gặp phải Thái Cực quyền Tạng Cẩu học lóm được, rốt cuộc hai chiêu tự phá giải lẫn nhau, không bên nào chiếm được thượng phong!

Bình!

Tạng Cẩu đã thất bại trong thế công, lập tức lui lại phía sau, lưng dán chặt vào lưng Hồ Phiêu Hương.

Hai người đã bàn với nhau từ trước, đối thủ người đông, thế nên tuyệt đối không thể để đối phương cô lập bao vây một trong hai được. Chiến lược này cả hai đã dùng hơn năm năm nay, kết hợp hết sức nhuần nhuyễn.

Hai người đồng định giáp công cũng đã đọc được chiêu này của Tạng Cẩu, lập tức cũng biến chiêu đánh với theo.

Một người trầm hông đánh ra một đấm, một người tung người phát một đòn đá. Hai chiêu đều là công phu tối thượng của võ học Thiếu Lâm, vốn vẫn được xưng là thái sơn bắc đẩu của võ lâm trung nguyên, uy lực không thể khinh thường!

Tạng Cẩu thấy kình phong thổi tới sát rạt, bèn hụp người, phát chiêu Chó Chui Gầm Chạn. Hai cẳng chân cùng quét ra, đánh trúng ngay cánh tay, ống chân của hai người đồng. Hồ Phiêu Hương tai nghe tiếng gió, đột nhiên xoay chuyển phương vị, dùng xảo kình chuyển công kích của hai người đồng đang đánh mình sang hai người vừa bị Tạng Cẩu phá chiêu.

Đoạn… cô bé tung mình, sử ra kì chiêu Trích Tinh chỉ. Hai ngón tay thon dài vươn ra, điểm nhanh vào bốn đại huyệt của người đồng.

Những người đồng này luyện công phu Kim Chung Trạo đến tầng thứ rất cao, chẳng những thân thể như sắt ròng, mà còn khiến huyệt đạo toàn thân tập trung lại vào một huyệt. Tuy thường thường miễn nhiễm với công phu điểm huyệt tiệt mạch, nhưng trong trời đất không có thứ gì hoàn mĩ, điểm mạnh nhất của Kim Chung Trạo cũng trở thành nhược điểm trí mạng.

Huyệt đạo tập trung vào một nơi, thế nên một khi bị điểm chúng, cũng giống như đại huyệt toàn thân đồng thời bị phong tỏa vậy.

Thế nhưng Kim Chung Trạo vốn là võ học nhà Phật, tuân theo yếu chỉ tối thượng là thuận theo tự nhiên. Thành ra mỗi người luyện môn công phu này, đều có một vị trí hội huyệt rất khác nhau. Người luyện Kim Chung Trạo đều xem vị trí này là bí mật sinh tử, tất nhiên giữ kín như bưng, không nói với một ai. Huống hồ đây lại là mười tám người, cũng tương đương mười tám nơi khác nhau. Thế nên muốn phá trận thì khó lại càng thêm khó.

Hồ Phiêu Hương điểm trúng được bốn nơi hội huyệt của bốn người đồng, tất nhiên là họ mất đi năng lực hoạt động. Tất nhiên tỉ đấu này không can hệ gì đến sinh tử, điểm đến là dừng, nên cô nàng cũng không tranh thủ ngạnh công bị phá mà đi phương hại người đồng.

Bằng không hai người cũng chẳng sống nổi đến tận bây giờ.

Lúc này các người đồng khác trong tháp cũng rục rịch động thủ.
Đầu tiên, một người đồng nhảy vọt về phía Tạng Cẩu, song chỉ cùng phát, là A Nan chỉ của Thiếu Lâm tự. Hai người hai mé tả hữu cũng lần lượt sử những tuyệt học thành danh của chùa, thanh thế nội liễm mà trầm ổn…

Phía Hồ Phiêu Hương cũng đã lọt vào thế gọng kìm của hai người đồng. Hai người này một thì lấy hai chân mà sử ra chiêu số của môn La Hán Kim Cang côn, một lại lấy hai quả đấm mà đánh ra chiêu số của Kim Cương chử. Cước nhanh và hiểm, quyền mạnh và nặng. Hai người đồng, hai lối đánh đồng thời đánh úp lại, khiến nhất thời cô nàng cũng phải rơi vào thế khó.

Tạng Cẩu đột nhiên quát một cái, chân đạp Lăng Không Đạp Vân, rồi tung mình chạy một vòng. Đôi chân cậu chàng quét ra, đao khí lăng liệt vô cùng, nửa thì giống như Diệt Tuyệt Tam Bộ của Gia Luật Sở Tài, nửa lại na ná thủ đao của Đường Trảm. Cả ba đồng nhân đều bị bất ngờ, vội biến chiêu muốn hóa giải đòn cước. Lúc này Tạng Cẩu lại cong ngón tay, bắn ra ba đạo chỉ kình. Té ra cước pháp lợi hại chỉ là hư chiêu, thế công thực sự nằm ở chỉ kình bắn ra từ ngón tay.

Ba đồng nhân nọ đã có đề phòng, dầu sao năm năm qua cậu chàng và Hồ Phiêu Hương đã vào tháp thử sức chẳng biết bao nhiêu lần rồi, dựa vào võ nghệ của các đồng nhân

nếu nói họ không nắm được thói quen của Tạng Cẩu thì quả thực là chuyện không tưởng.

Phía bên kia, Hồ Phiêu Hương dựa vào chỉ pháp và chưởng pháp quái dị, chống đỡ được sự hợp công của hai người đồng.

Những người đồng này rất ngại qua chiêu với Hồ Phiêu Hương, đôi lúc họ thà đến đánh Tạng Cẩu còn hơn là phải đối phó với cô nàng.

Bởi nếu võ công của Tạng Cẩu dùng một chữ “ bác ” để miêu tả, thì của Hồ Phiêu Hương cần dùng một chữ “ dị ”. Mỗi lần qua chiêu, các người đồng này lại phát hiện một thành công lực biến mất vô tung vô tích, hệt như trâu đất xuống biển. Mà nội lực của cô nàng năm này qua tháng khác, lại có tiến bộ rõ rệt. Hiện tại đã không còn kém Tạng Cẩu quá xa nữa.

Lúc này, các người đồng của Thiếu Lâm tự mới lờ mờ đoán được, một thành công lực của mình bị cô nàng hấp thụ mất.

Tạng Cẩu có tài ghi nhớ, suốt năm năm qua cậu chàng dụng tâm quan sát, nhớ lấy từng biến hóa của trận đồ do mười tám người đồng này chủ trì, cũng ghi nhớ thật kỹ vị trí hội huyệt của họ. Còn võ công thượng thừa của Thiếu Lâm mới nãy tiện tay đánh ra, thực chất chỉ là một tác dụng phụ của quá trình ghi nhớ này mà thôi.

Còn Hồ Phiêu Hương, chẳng những chiêu số hỏa hầu càng ngày càng cao, sử dụng càng lúc càng nhuần nhuyễn tự nhiên, mà nhược điểm lớn nhất của cô nàng là nội lực nông cạn thì cũng đã dần biến mất.

Mười tám người đồng thủ Tàng Kinh các đã hơn chục năm nay, nhưng chưa gặp phải đối thủ nào quái lạ như hai người. Càng chiến càng mạnh nhờ kinh nghiệm tích lũy đã là một chuyện, nhưng tốc độ trưởng thành lại nhanh đến chóng mặt. Cứ cái đà này, có lẽ đại trận Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới bất khả chiến bại mấy trăm năm nay rốt cuộc cũng đã gần đến ngày bị phá giải.

Trao đổi thêm năm chục chiêu, hai người Tạng Cẩu đã điểm được nơi hội huyệt của năm đồng nhân vừa xuất thủ. Tạng Cẩu tung mình ra trước, tay trái thu thành quyền, tay phải xòe thành chưởng, một bên thì đánh ra chiêu số của Thái Cực Quyền, một bên thì đánh ra chiêu số của Thiên Hạ Bá Quyền.

Hồ Phiêu Hương thì thi triển khinh công, xách áo các đồng nhân bị đánh gục về một chỗ, không để các đồng nhân khác tiếp ứng.

Nhập trận đã được một canh giờ, hai người trước sau đã đánh hạ được chín người đồng. Thế nhưng thần sắc cả hai không lơi lỏng một tí nào, ngược lại càng thêm phần cẩn trọng.

Bởi lẽ cả Tạng Cẩu lẫn Phiêu Hương đều biết, thử thách thực sự giờ mới bắt đầu…

Thực ra, trong nội bộ mười tám người đồng này không phải không phân chia cao thấp.

Vòng bên ngoài rộng nhất, gồm chín người, hợp xưng là Cửu Phẩm Liên Hoa. Tạng Cẩu và Phiêu Hương gọi tắt là Ngoại Cửu Tăng. Chín người này mỗi người luyện một môn thần công trấn tự của Thiếu Lâm đến mức xuất thần nhập hóa, nội lực lại cao, quả thực không dễ đối phó.

Song, phải đến sáu người ở giữa mới tính là lợi hại!

Vòng ở giữa hẹp hơn, gồm chín người, hợp xưng là Lục Đại, gồm địa thủy hỏa phong không thức ( hay đất - nước - lửa – gió - không gian và sự phân biệt). Trong đó, Thức Thần Tăng là chủ trận.

Sáu thần tăng này sử chiêu số rất tầm thường, nhưng lại có thể hóa mục nát thành thần kỳ, hóa bình phàm thành tinh diệu. Muốn sử dụng cái trò sao chép, phân tích của Tạng Cẩu để mà đấu lại bọn họ là điều không thể.

Hai người gọi họ là Trung Lục Tăng.

Hai đồng nhân động thủ, xuất chiêu cản quyền chưởng của Tạng Cẩu.

Thiên Hạ Bá Quyền cương mãnh bá đạo, Thái Cực Quyền dĩ nhu khắc cương…

Song, mỗi người đồng xuất ra ra một chiêu, quyền đối quyền, chưởng đấu chưởng. Chiêu số bình bình phàm phàm, nội lực cũng không gọi là cương mãnh, nhưng Tạng Cẩu vẫn bại như núi đổ, bị đánh văng ngược ra sau mấy bước. Vừa đứng vững, thì từ hai bên, một trảo một chỉ đã đánh úp lại.

Trảo chỉ là loại trảo pháp nhập môn của đệ tử bình thường.

Chỉ thì cũng là loại chỉ pháp tầm thường, dù là đệ tử tục gia bình thường nhất cũng biết.

Song vào tay của hai người đồng, khí thế nội liễm như hoa sen giấu nhụy, thanh thế ẩn tàng tựa xá lợi trong tro. Thoạt nhìn tưởng như tầm thường, nhưng thực chất cái phi phàm há phải kẻ phàm phu hiểu được? Hai chiêu chỉ, trảo đến cách đầu vai Tạng Cẩu một tấc mới đột nhiên phát ra diệu dụng, khóa chặt hai đại huyệt của cậu chàng.

Tạng Cẩu hú dài một tiếng, đoạn thụp người, chân đạp Lăng Không Đạp Vân tới mức tận cùng. Lúc này tóc dài bay múa, tay áo phất phơ, người đã bắn tung lên, khí độ đã có cái tiêu diêu, phong phạm đã có phần thư thái… phảng phất như Quận Gió năm nào tung hoành trên đàn Nam Giao.

Người lăng không, hai tay đã móc ra hai viên phi châu trong cái túi giắt bên hông, dụng thủ pháp độc môn bắn về phía hai người đồng.

Vụt!

Lúc này, lại có người đồng thứ ba trong Trung Lục Tăng xuất thủ. Chỉ thấy hai tay áo y vũ động, đánh ra chiêu Tụ Lý Càn Khôn vốn là thủ pháp thu ám khí nhập môn của Thiếu Lâm Tự. Chỉ nghe xoạt một cái, hai viên phi châu của Tạng Cẩu đã biến mất vô thanh vô tức.

Phía bên kia, Hồ Phiêu Hương cũng bị ba trong Trung Lục Tăng vây khốn. Ba người đồng này đều sử Ngũ Hình quyền như đệ tử Thiếu Lâm thông thường, nhưng tay phải tay trái, chân phải chân trái mỗi thứ đánh ra chiêu số của một trong ngũ hình, lại thay đổi luân phiên. Nói nghe thì rườm rà kì quặc, nhưng vào tay ba tăng lại ẩn hàm thu liễm, tưởng như Ngũ Hình quyền vốn là phải đánh như vậy.

Đao pháp, chưởng pháp của Hồ Phiêu Hương dựa vào biến hóa của thuật ngũ hành, độn giáp, bát quái, kinh dịch, thâm ảo khôn lường. Thế nhưng chiêu số của tam tăng cũng ảo diệu không hề kém cạnh. Hai bên giằng co hồi lâu, Hồ Phiêu Hương dần bị ép vào hạ phong, mấy lần liền suýt thì bị một tăng lọt qua khỏi cửa ải, chạy đến chỗ chín người đồng kia để giải huyệt.

Lúc này, Hồ Phiêu Hương đột nhiên rút thanh đao gỗ bên hông ra, tay phải dùng đao gỗ, tay trái dùng thủ đao. Chiêu thức của cô nàng cũng bắt đầu trở nên hỗn loạn, trước là không tuân theo quy luật của chiêu số thông thường, sau còn đảo nghịch lại toàn bộ thường thức võ học, đạo lí của võ công các gia các phái. Ba người đồng đồng thời bị quái đao của cô nàng làm cho bất ngờ, trận thế bắt đầu tán loạn.

Đao pháp này đến Khiếu Hóa tăng còn phải cả nể mấy phần. Trung Lục Tăng tuy võ công lợi hại, nhưng làm sao bằng được tông sư đất Nam như lão sư ăn xin nọ?

Hồ Phiêu Hương lợi dụng đao pháp quái lạ, đánh mở ra được một kẽ hở trong trận thế của ba người. Đoạn, chưởng đao đổi thành chỉ kiếm, đao gỗ cũng xoay phần đốc ra, cứ đưa tay vung chân đánh vào nơi hội huyệt của ba người đồng.

Vừa lúc ấy, thì bên kia cũng có tiếng thở hào hển. Cô nàng vừa nhìn sang, đã thấy ba người còn lại trong Trung Lục Tăng cũng đã bị Tạng Cẩu thu phục. Té ra ba người đồng nọ vẫn chưa nghĩ ra cách hóa giải cơn mưa phi châu dày đặc, đã vậy còn biết đổi hướng, tăng tốc của Tạng Cẩu. Ngay cả Tụ Lí Càn Khôn của Thức Thần Tăng cũng bị phi châu quỷ dị bắn rách! Cuối cùng mỗi người trúng một viên vào nơi hội huyệt, ngã vật ra.

Chương 228: Hồi hai mươi hai (10)

Lúc này, Nội Tam Tăng mới xuất thủ.

Ba người đồng này đại diện cho tam ấn trong Phật Môn, tức là chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, niết bàn tịch tịnh.

Chư hành vô thường tức là tất cả mọi sự vật đều biến đổi không ngừng.

Chư pháp vô ngã nghĩa là tất cả mọi sự vật đều không có bản ngã chân thật.

Niết bàn tịch tịnh tức là bản thể của vạn hữu là vô phân biệt, lìa khỏi mọi hình tướng, mọi tri kiến, mọi khái niệm.

Trong năm năm phá trận vượt tháp, hai người Tạng Cẩu mới chỉ ép được ba vị xuất thủ đúng hai lần mà thôi.

Lần thứ nhất, tùy tiện một chiêu, cả hai đã ngã lăn kềnh.

Chiêu của lão phát ra, là chiêu mà không phải chiêu, là thức mà không phải thức. Nhanh cũng không nhanh, chậm cũng không chậm, yếu cũng không yếu, mạnh cũng không mạnh. Nhìn như chưa xuất thủ, nhưng kì thực đã đánh tới người. Tóm gọn bằng một chữ “ vô ”.

Lần này là lần thứ hai!

Liệu hai người có đỡ nổi?

Đáng tiếc là không.

Chỉ thấy người đồng nọ quát lên một tiếng:

“ Tịnh! ”

Thanh âm không to, cũng không nhỏ.

Không phải Sư Tử Hống, cũng không phải Vạn Lí Truyền Âm…

Chỉ biết là tiếng đến tai nhỏ bé, tiếng trong lòng lại như sấm động ngang tai!

Cả hai chỉ kịp kêu một tiếng, đã ngã ngồi trên mặt đất, thở không ra hơi…

Ba người đồng nọ lúc này mới nói:

“ Hai vị tiểu thí chủ, mời về. Đầu tháng sau chúng ta tái kiến. ”

Nói rồi chỉ tay về phía cửa tháp…

Hai người dắt nhau rời tháp, không hề biết rằng chốc lát nữa, mười tám người đồng còn nghênh đón một kẻ khác muốn phá trận vượt tháp!

Dưới chạc cây bồ đề…

Tạng Cẩu tựa lên thân cây, ánh mắt bâng quơ nhìn ra quãng sân đầy nắng, tay khoanh trước ngực…

Không biết đang nghĩ gì.

“ Cẩu! ”

Hồ Phiêu Hương đột nhiên ló từ sau gốc bồ đề, tiếng cười như chuông bạc:

“ Vẫn còn khúc mắc chuyện phá trận hả? ”

“ Ừm. Đã năm năm rồi, manh mối đã ở trước mắt, mà xa tận chân trời. ”

Tạng Cẩu thở dài.

Hai người lên núi Tung Sơn đã được năm năm có lẻ.

Đời người lại có mấy lần cái năm năm như thế?

Năm năm lại là ngắn hay dài?

Với người có thù nhà, nợ nước như Tạng Cẩu, năm năm vẫn là quá ngắn…

“ Lại như ông cụ non rồi đấy. ”

Hồ Phiêu Hương đến bên Tạng Cẩu, rồi cũng tựa vào thân cây. Đầu vai hai người ở rất gần nhau, cậu chàng tưởng như có thể ngửi thấy mùi hương trên tóc cô bạn. Hồ Phiêu Hương đưa tay, vén tóc qua vành tai…

“ Chúng ta cũng đâu còn nhỏ nữa. ”

Tạng Cẩu nói, giọng bình tĩnh.

Hồ Phiêu Hương le lưỡi:

“ Dục tốc bất đạt. Nếu đã là di nguyện của thánh tổ, thì có muốn cũng chẳng thay đổi được gì. Tớ thấy nên tập trung nghĩ cách vượt qua được ba ông sư kia thì hơn. ”

“ Có lẽ Hương nói đúng. ”

Trưởng thành, là bớt một chút ham chơi.

Cũng không còn dễ mất tập trung như hồi còn bé nữa.

Mà như thế, thì mối thù nhà chưa trả, nợ nước chưa đền lại dấy lên trong lòng Tạng Cẩu.

Năm năm đã qua…

Kẻ thù của cậu chàng, Mạc Thúy, vẫn còn đang sống nhăn ngoài kia.

Mỗi lần nghĩ đến đấy là cảnh thôn làng cháy rụi, máu chảy thành sông, kẻ kêu cứu người mắng chửi từ từ biến thành xác không hồn hết người này đến người khác lại hiện về trong đầu.

Tạng Cẩu có trí nhớ hơn người, lại hay cả nghĩ.

Bây giờ không còn cái ham vui trẻ con nữa, những suy nghĩ này hiện lên ngày một nhiều, càng lúc càng thường xuyên hơn.

“ Hương này… ”

“ Chuyện gì? ”

Hồ Phiêu Hương biết ngay cậu chàng đang cả nghĩ.

Năm năm sớm tối kề cận, thành ra cô nàng đã quá quen với những lúc thế này.

Tạng Cẩu lên tiếng:

“ Cậu từng nghĩ đến chuyện nếu người sống không phải chúng ta thì sao chưa? Liệu những người khác có thể phá giải được bí mật Cổ Loa hay không? ”

Không ít lần cậu chàng từng nghĩ…

Tại sao mình lại là người duy nhất sống được khỏi trận càn quét của Mạc Thúy?

Nếu lúc đó người sống không phải một đứa nhóc vắt mũi chưa sạch, mà là một người tài ba cơ trí thì sao?

Hồ Phiêu Hương thở dài, đoạn lấy vỏ đao gõ một cái lên đầu cậu chàng, nói:

“ Tớ nói lần này là lần thứ quỷ mới đi đếm là bao nhiêu. Đi được xa chừng này, kì ngộ là không thể thiếu, song điều tiên quyết vẫn là do chúng ta là chính chúng ta, hiểu không. Thầy chọn Cẩu làm đệ tử vì Cẩu là bản thân Cẩu, một đứa nhóc tì ngố ngố, lương thiện đến độ vượt ngàn dặm đường đưa thư cứu dân, không ngại làm kẻ địch của cả thiên hạ. Hiểu không? Cẩu không tin vào mắt thầy à? ”

“ Vẫn biết thế, nhưng mà… ”

Tạng Cẩu muốn nói cậu chàng vẫn thấy áy náy, khúc mắc trong lòng, nhưng không sao cắt nghĩa nổi nguyên do. Những lời Hồ Phiêu Hương nói nghe cũng có lí thật, nhưng đó là lí tính. Còn về cảm tính, cậu chàng vẫn thấy như mình mắc nợ, mình đáng lẽ không đáng được sống vậy.

“ Không có nhưng với nhị gì cả! ”

Hồ Phiêu Hương nói, rồi chỉ ra phía cổng:

“ Hôm nay là rằm tháng tám! Là Trung Thu! Biết điều thì xuống thị tứ với tớ một chuyến! Bằng không tớ cho ăn cơm với không khí cả tháng! ”

Tạng Cẩu thấy cô nàng lại bắt đầu giở tính trẻ con thì làu bàu:

“ Mình có còn là trẻ con nữa đâu. ”

“ Nhưng cũng chưa phải người lớn! Sao? Không thích à? ”
Thấy Hồ Phiêu Hương đứng chống nạnh, má phồng lên vẻ sắp nổi nóng, Tạng Cẩu bèn giơ hai tay lên đầu hàng.

“ Thật là. Đến tuổi cập kê rồi mà hành xử vẫn như đứa bé… ”

“ Cập kê thì cập kê chứ! Tớ thích thế này… ”

Hồ Phiêu Hương lè lưỡi, đoạn quay ngoắt đi, hỏi:

“ Mà Cẩu thấy tớ cài trâm có được không? ”

Con gái đến tuổi cập kê, tức là tuổi cài trâm, theo quan niệm xưa tức là đến tuổi được lấy chồng. Đông qua xuân đến, mải mê phá trận ở Thiếu Lâm, vậy mà Hồ Phiêu Hương đã lớn lúc nào không hay.

Tạng Cẩu thầm nghĩ…

Trước giờ hai người vẫn thân nhau, nhưng gần đây lại có gì đó khang khác…

Nhưng rốt cuộc khác ở chỗ nào, thì Tạng Cẩu không biết. Cậu chàng cũng tạm thời không đi tìm hiểu thêm. Việc công trên người còn chưa đâu vào đâu, thành ra cũng chưa muốn nghĩ đến chuyện khác. Nhưng sâu xa hơn, trong vô thức, Tạng Cẩu cũng sợ một khi biết rồi, thì quan hệ giữa hai người sẽ không còn được như trước đây nữa.

Lá khô lất phất rơi xuống, nhẹ nhàng phủ lên bước chân xa dần xa dần, bóng lưng thiếu nữ khuất sau những bậc thang…

“ Thí chủ. Thí chủ. ”

Tiếng chú tiểu quét lá khiến Tạng Cẩu giật mình bừng tỉnh khỏi suy nghĩ miên man.

“ Sư phụ gọi tôi à? ”

“ Đúng vậy. Nữ bằng hữu của ngài đã đi rồi, ngài không định đuổi theo hay sao? ”

Tạng Cẩu ngẩn người.

Người nói vô tâm, người nghe hữu ý chăng?

Chiều…

Hai người Tạng Cẩu xuống núi, vào một thành gần đó dạo chơi. Bấy giờ khắp nơi giăng đèn kết hoa mừng Trung Thu, không khí hết sức nhộn nhịp. Từ trên tầng cao của tửu lâu nhìn xuống, đèn lồng đủ màu nối đuôi nhau thành một dòng sông vàng. Sông nước quanh quanh dát ánh trăng thu, lão nhà thuyền nằm ngủ quắc cần câu bên mép nước.

Hồ Phiêu Hương chuẩn bị sẵn một bàn tiệc rượu, bày biện trên thuyền con neo bên mép nước, đoạn cùng đối ẩm với Tạng Cẩu. Cô nàng tửu lượng kém, uống vài chung là ngà ngà say, hai má ửng hồng lên vì hơi rượu. Men say khiến đôi mắt càng thêm long lanh, trong vắt như ánh hồ Tây…

Tạng Cẩu cũng tự nhấp mấy chung, vừa uống vừa lim dim mắt nhìn ra xa.

Bỗng có một chiếc thuyền hoa đậu lại sát thuyền con của hai người. Sau đó trên thuyền bước xuống mấy gã thanh niên ăn vận kiểu văn nhân, chính đang vừa nhìn hai người vừa phe phẩy quạt xếp.

Đoạn, một người trong bọn lên tiếng:

“ Đêm trung thu mà huynh đài lại ngồi uống một mình với mĩ nhân, thực là chẳng biết cái ý tao nhã, khác nào kẻ nông phu lỗ mãng? Bọn ta đây thấy thực uổng cho ánh nguyệt, sông thu, càng tiếc kiều dung như họa, nên mới mạo muội lên thuyền. Trước là xin hai vị chớ trách. Sau là một lòng ham thích ngâm thơ xướng họa không kiềm chế được nên muốn cùng nhau vịnh xướng cho thỏa cái ý thơ, làm tiết trung thu thêm phần vui vẻ, mong chớ chê tài hèn… ”

Lời nói rườm rà, cái ý xúc phạm lại không uyển chuyển hàm xúc, không thể che giấu nổi. Đây quả thực là kẻ dốt đặc cán mai đang khoe chữ, nghe hắn khua môi múa mép khiến cho tâm trạng của hai người Tạng Cẩu Phiêu Hương xuống còn nhanh hơn sóng Bạch Đằng…

Tạng Cẩu biết đối phương thấy cậu chàng ăn vận trông như nông phu bình thường, nên có ý nói kháy mình quê mùa ít chữ, không xứng với Hồ Phiêu Hương, bèn lên tiếng:

“ Không biết các vị muốn ngâm xướng thế nào? ”

Cậu chàng xuất thân nông dân thật, bình thường cũng không quá chú tâm vào chuyện thi từ ca phú, nên có thể không so được với con nhà danh gia như Hồ Phiêu Hương. Nhưng lần này đối phương đến tận nơi gây sự, không dọa một phen e là không đuổi nổi mấy con ruồi phá quấy.

Hồ Phiêu Hương đảo mắt một cái, rồi nói:

“ Hay là tiểu nữ vịnh một nửa bài trước, rồi mọi người làm tiếp thành bài, ai làm nhanh hơn thì là tài ba, thế nào? ”

Mắt phượng long lanh, mày ngài khẽ chớp, khiến cả lũ thần hồn điên đảo, vội vàng đồng ý thật mau. Tạng Cẩu ngồi bên cạnh thì giật mình một cái, biết mỗi lần Hồ Phiêu Hương đảo mắt là lại có ý trêu người ta một chặp ra trò.

Thấy đối phương đã lò mò vào bẫy, Hồ Phiêu Hương mới thản nhiên đọc:

“ Kim ba tự hải mạn không lưu,

Hà Hán vi vân đạm đạm thu.

Vũ hậu trì đài đa trữ nguyệt,

Khách trung tình tự bất thăng thu. ”

( Dịch nghĩa:

Sóng vàng như biển, tràn ngập tầng không,

Dòng Ngân Hán lưa thưa mây đọng lại.

Sau trận mưa, ao đài chứa đầy ánh trăng,

Nỗi lòng nơi đất khách khôn xiết vẻ thu!)Tên nào tên nấy đều mong được một lời tán thưởng, nét cười của mĩ nhân, bèn nhao nhao làm thơ phụ họa. Đáng tiếc là học hành chưa tới, thi ý vụng về, lời thờ tầm thường, có cố chắp thành bài cũng vá chằng vá đụp như miếng giẻ rách không dùng vào việc gì được.

Lúc này Tạng Cẩu mới ho khan một cái, đọc nốt nửa bài thơ:

“ Nguyện bằng thiên thượng thanh quang dạ,

Biến chiếu nhân gian tật khổ sầu.

Trường sử quốc gia đa hạ nhật,

Ngũ hồ quy mộng đáo biển chu. ”

( Dịch nghĩa:

Xin nhờ cái đêm trong sáng ở trên trời kia.

Soi thấu nỗi đau khổ của thế gian này.

Mãi mãi làm cho nước nhà được những ngày nhàn hạ,

Thì giấc mơ quay về Năm hồ sẽ tới được chiếc thuyền con.)

Ý thơ thì không phải nói, vì nguyên bản hai nửa vốn là cùng một bài. Bút lực thì là của cùng một người, nên càng không cần phải bàn thêm. Cả đám nọ vừa nghe xong liền hổ thẹn, tự thấy ý thơ của đối phương siêu phàm, cho dù có kém Thi Thánh Thi Tiên thì cũng không quá xa. Nhất là nửa sau của Tạng Cẩu càng có cái khí khái anh hùng, đau nước thương nòi, quả thực là cao siêu hơn chúng nhiều.

Hồ Phiêu Hương nghe xong, gật gù, đoạn rót rượu mời Tạng Cẩu một chén. Cậu chàng thì vẫn còn áy náy chuyện hai người vay thơ mượn chữ, nên cứ ho khan mãi.

Đám người kia tự cho là học cao, đâu thể vì một bài thơ mà bỏ đi được? Cả bọn bắt đầu ngâm vịnh những bài mình tâm đắc nhất, hi vọng có thể đả động được phương tâm của người ngọc. Nhìn cả đám đứng lố nha lố nhố, tranh nhau lên giọng ngâm thơ, khiến Tạng Cẩu và Hồ Phiêu Hương vừa thấy bực mà vừa thấy buồn cười.

Đoạn, Tạng Cẩu bèn hắng giọng:

“ Các vị đại ca quả là học rộng tài cao, tiểu đệ bái phục. Sẵn có bài thơ này làm lúc rảnh rỗi, mong được các vị bình giảng. ”

Mấy tên thư sinh đều nói lời khiêm tốn, nhưng trong dạ thì âm thầm chuẩn bị tinh thần, hít sâu hóp bụng, quắc mắt căng tai như thể sắp lâm trận vậy. Hồ Phiêu Hương thấy vậy thiếu chút thì phì cười, song chỉ che miệng, liếc mắt về phía chúng một cái. Tức thì cả bọn như ngựa mất cương, tên nào tên nấy đều hừng hực đấu khí. Tạng Cẩu thấy vậy cũng chỉ biết khen là lợi hại, cho dù võ công của cậu chàng có cao hơn nữa, ở phương diện này cũng phải thua dưới một nét cười của Hồ Phiêu Hương.

Tạng Cẩu tằng hắng một cái, cốt yếu là để đỡ xấu hổ, rồi đọc:

“ Trầm thuỷ yên tiêu khách mộng thanh,

Hàn đăng vô ngữ bạng nhân minh.

Ngân hà cảnh cảnh lưu đương hộ,

Hoàng diệp tiêu tiêu lạc mãn thành.

Yểm hoạ trì đài thu trứ sắc,

Thuỷ ngân thế giới nguyệt đa tình.

Khởi nhân nhất bệnh thương hào khí,

Thuỵ khởi cuồng ca tứ bích kinh. ”

( Dịch nghĩa: Khói trầm tan, giấc mộng đất khách cũng tỉnh,

Ngọn đèn xanh làm thinh, sáng cạnh người.

Sông Ngân vằng vặc đã xế ngang cửa,

Lá vàng xào xạc rơi xuống đầy thành.

Mùa thu điểm xuyết bức tranh ao đài,

Vầng trăng đa tình trong lòng nước bạc.

Há vì một cơn ốm mà tổn thương hào khí,

Ngủ dậy hát vang kinh động cả bốn bức vách!)

Kì thực hai bài hai người vừa ngâm… đều là thơ của Nguyễn Phi Khanh.

Té ra Hồ Phiêu Hương biết cậu chàng không ưa thơ ca họa phú, nhưng không dằn mặt thì mấy tên này chẳng để hai người được yên, bèn nghĩ ra kế này. Tạng Cẩu không thích thi ca, nhưng trí nhớ thì quả thực là kinh khủng. Thơ từ mà Nguyễn Phi Khanh ngâm vịnh trong lúc truyền dạy thủ pháp bắn phi châu, cậu chàng nghe qua một lần là nhớ ngay.

Bài trước là Trung Thu Cảm Sự.

Bài sau là Bệnh trung hoài Hồng Châu kiểm chính Nguyễn Hán Anh “Thu dạ” vận.

Cả hai Nguyễn Phi Khanh đều từng ngâm trước mặt Tạng Cẩu rồi, thành ra mới có chuyện hôm nay…

Mấy tên thư sinh rởm tự thấy ý cảnh bài thơ cao siêu, sợ mình nói linh tinh thì chỉ càng thêm xấu mặt, bèn lui cui cáo từ trở về thuyền. Hai người Tạng Cẩu nhìn theo bóng thuyền xa dần, rồi mới quay sang nhìn nhau. Bốn mắt đối diện, in nơi đáy mắt là hình bóng của một thiếu nữ và một thiếu niên…

Đoạn, cả hai cùng bật cười.

Tạng Cẩu nói:

“ Cũng may Hương nghĩ ra kế mượn tạm thơ của bác Khanh, bằng không bảo tớ tự rặn ra thơ lúc ấy, không bằng để tớ ra tay đánh cho cả lũ bỏ chạy. ”

Hồ Phiêu Hương bĩu môi:

“ Còn không phải vì trước giờ cậu lười đọc ấy hả? May mà mấy tên này chỉ là phường giá áo túi cơm, chứ gặp người hay chữ thật thì có mà bể mánh! ”

Tạng Cẩu lại đột nhiên làm mặt nghiêm trang, nói:

“ Nếu tao nhân mặc khách là mấy tên này, tớ thà làm kẻ thất học. ”

“ Cung môn bán yểm kính sinh đài,

Bạch trú trầm trầm thiểu vãng lai.

Vạn tử thiên hồng không lạn mạn,

Xuân hoa như hử vị thuỳ khai? ”

( Dịch nghĩa:

Cửa cung khép hờ, lối đi rêu mọc,

Giữa ban ngày mà sâu lặng, ít người qua lại,

Muôn tía nghìn hồng rực rỡ suông mà thôi,

Hoa xuân đẹp như kia vì ai mà nở?)

Hồ Phiêu Hương đột nhiên lim dim mắt, rồi ngâm.

Tạng Cẩu ngẫm thơ thấy là lạ, bèn hỏi:

“ Này, tớ không nhớ bác Khanh từng ngâm bài này bao giờ. ”

“ Tất nhiên là không! Bài này là Cung Viên Xuân Nhật Ức Cựu của Trần Thánh Tông mà. Bác Khanh có vô liêm sỉ như cậu đâu mà đi chép thơ. ”

Hồ Phiêu Hương lè lưỡi trêu, đoạn cố tình rót mấy chung liền cho Tạng Cẩu, nói là phạt. Hai người lại cười một tràng, ánh trăng mờ mờ khảm lên mặt nước, long lanh tan vỡ, khiến bóng hai người hòa làm một.

Chương 229: Hồi hai mươi hai (11)

Đối ẩm đùa vui chán, hai người dùng khinh công leo lên mái của một tòa tửu lâu, ngồi thưởng trăng.

Năm năm có lẻ, thật hiếm khi Tạng Cẩu lại được cười thoải mái như hồi nãy. Lúc này tâm tình đã thư thả, mới hiểu được khổ tâm của cô bạn. Lúc này nhìn sang, chỉ thấy Hồ Phiêu Hương đang ôm chân, cằm tựa lên gối, mông lung nhìn vầng trăng. Tóc mai phủ xuống bên đầu, từng sợi từng sợi bay phấp phới trong gió.

Trên đầu Phiêu Hương chẳng biết tự bao giờ đã cài một cây châm ngọc.

Ánh trăng mờ mờ tỏ tỏ, rọi xuống gương mặt trái xoan của thiếu nữ, chẳng còn phân biệt rõ được cô nàng có điểm trang hay không nữa.

Tạng Cẩu đột nhiên giật mình, quay mặt sang hướng khác.

Thấy cậu chàng đột nhiên lóng nga lóng ngóng, Hồ Phiêu Hương cũng bật cười khúc khích. Bóng dáng đứa nhóc tì ốm đói trước đây, và thiếu niên tuấn dật của hiện giờ bỗng lồng vào nhau.

Cẩn thận ngẫm lại, thì từ bấy đến giờ có lẽ chỉ có lúc phải chiến đấu với người ta, Tạng Cẩu mới lộ ra bộ mặt kia của bản thân. Bình tĩnh, thong dong, trầm ổn. Song, Hồ Phiêu Hương lại không thích bộ mặt ấy bằng Tạng Cẩu của hiện tại. Lóng ngóng, ngố ngố, hiền lành…

“ Thiên vi khâm chẩm, địa vi chiên,

Nhật nguyệt đồng song đối ngã miên.

Dạ thâm bất cảm trường thân túc,

Chỉ khủng sơn hà xã tắc điên. ”

( Dịch thơ:

Trời làm màn gối, đất làm chiên

Nhật nguyệt cùng ta một giấc yên

Đêm khuya chẳng dám dang chân duỗi

Chỉ sợ sơn hà xã tắc nghiêng.

Không rõ bản dịch của ai, nguồn tham khảo thivien.net)

“ Hôm nay Hương cao hứng đọc thơ quá nhỉ? ”

Tạng Cẩu ngó cô nàng, lên tiếng hỏi.

Hồ Phiêu Hương chớp chớp mắt, nói:

“ Có lẽ do tức cảnh đấy mà. ”

“ Tên bài thơ phải không? Ai làm thế? ”

“ Lý Thái Tổ đấy. ”

Đêm trăng lặng lẽ trôi về buổi sớm.

Hai người lặng yên ngồi bên nhau, mặc kệ cho sương mai đậu lên vai, lên tóc.

Một đêm không ngủ, nhưng hai người đều có công phu nội gia, thành thử vẫn thần thanh khí sảng.

Vừa đúng lúc đứng dậy, thì thấy một bóng người lảo đảo từ trên núi xuống.

Áo bào đỏ như lửa rách tươm, tóc dài như suối đổ trên vai, vừa chống thanh binh khí quái dị nửa đao nửa kiếm lê tấm thân đầy máu đi trên đường lớn. Lại gần, còn có thể thấy trên mặt y mang một tấm mặt nạ quỷ, thắt lưng dắt một cái hồ lô sơn đỏ đang lúc la lúc lỉu đập vào bên eo.

Gã chính là Tửu Thôn Đồng Tử!

Giờ lại kể chuyện Hổ Vương đánh lên đỉnh núi Điểm Sơn, bị vây trong quái trận không sao lên núi được…

Nguyễn Trãi đi khuất, một lúc sau đã chạy xuống tiểu đình gặp hai người Hổ Vương, Bạch Thanh Lâu.

Trên tay chàng ta còn cầm theo hai tấm gương đồng đã vỡ.

Hổ Vương nhìn tấm gương trên y cầm, đột nhiên tỉnh ngộ:

“ Là ảo giác? ”

Nguyễn Trãi gật đầu, đáp:

“ Đúng thế. Trận thế này dùng gương để lợi dụng ánh sáng từ mặt trời và những ngọn đuốc, đánh lừa mắt nhìn của chúng ta. ”

Bạch Thanh Lâu nói:

“ Trận thế này phức tạp đến đâu? Tại sao chúng ta nhập trận mà không hề biết? ”

Nguyễn Trãi mỉm cười, chỉ lên đường núi gập ghềnh:

“ Còn nhớ tảng đá chúng ta thấy trên đường không? ”

“ Đó là cửa vào trận? ”

Bạch Thanh Lâu nghĩ kỹ lại, thì tảng đá đó quả thực đáng nghi. Nhưng ba người chỉ chạy quanh tảng đá đúng ba cái hô hấp, sau đó đã lạc lối. Lẽ nào là tà pháp?

Hổ Vương trầm giọng:

“ Tảng đá đó là lối vào, cũng là lối ra! ”

“ Không sai! Mê trận này tưởng như phức tạp, nhưng thực ra lại rất đơn giản. Người bày trận lợi dụng ánh sáng, khiến đường lên núi trông như đang hướng xuống, còn lối xuống núi lại nhìn như rẽ sang hướng khác để đi lên. Kì thực chúng ta đã chạy một vòng quanh tảng đá đó, rồi cứ thế lao xuống đây. ”
Nguyễn Trãi mỉm cười, đoạn nhìn sang chỗ Phượng Hoàng tinh đang ngồi chải tóc. Đoạn, chàng ta tiếp tục bước mấy bước, chỉ thanh giáo Mê Linh lên núi:

“ Chúng ta bị mê trận dắt mũi, ngoài việc đại trận đơn giản đến khó tin chỉ là một nguyên do! Nguyên nhân thứ hai là trận này chuyên dùng để đối phó hạng cao thủ lên núi như đi đất bằng như chúng ta. Nếu là người thường không có nội lực, lên núi sẽ khó hơn lúc xuống! Nhưng thử hỏi, chúng ta lên núi xuống núi đều dễ dàng như nhau, thì làm sao phân biệt lúc nào đang lên dốc, khi nào đang xuống dốc? Có thể nói so với người thường, cao thủ võ lâm càng dễ bị mê trận này làm cho mất phương hướng hơn! ”

Hổ Vương cũng gật gù:

“ Khách giang hồ bình thường sợ uy sơn trang, tuyệt đối không dám bén mảng đến. Còn loại cao thủ tầng thứ như ta thì sẽ dễ dàng bị mê trận này nhắm vào. Xem ra bản vương vẫn hơi coi nhẹ sơn trang Bách Điểu! ”

Ba người đã phá giải được huyền cơ của mê trận, tinh thần phấn chấn hẳn. Hổ Vương phát hiện tình huống giờ đã không như trước. Bây giờ Phượng Hoàng tinh đã có thời gian hồi sức, không khống chế e là có hại đến đại cục. Thành thử lại gần điểm luôn huyệt đạo của bốn TInh, tiện tay ném luôn Phượng Hoàng tinh vào trong kiệu hoa. Đoạn dẫn đầu vác kiệu trên vai, băng băng chạy lên núi.

Vượt qua hòn đá thần Trấn Sơn, ba người đến một ngôi đình nhỏ khác. Phía sau đình là vực thẳm, nối với đỉnh cao nhất của núi Điểm Sơn bằng một cái cầu treo bằng xích sắt, độ rộng đủ cho năm sáu người đi qua thoải mái.

Không nói cũng biết, muốn lên chính điện, thì phải qua cây cầu này.

Trong đình đang có hai người đang ngồi.

Ba người Hổ Vương cẩn thận quan sát đối phương, chỉ thấy cả hai đều mày thanh mục tú, lưng thắt ve vàng, tóc xanh như suối. Tuy là mang mạng che mặt, song vừa nhìn là biết ngay cả hai đều là mĩ nhân có thể khiến làng trên xóm dưới điên đảo. Bấy giờ người bên trái đưa tiêu lên môi, người bên phải cầm địch đặng thổi. Những ngón tay đặt trên lỗ sáo tựa như măng ngọc.

Vừa thấy bóng Hổ Vương, hai người nọ đã nhẹ nhàng nhún mình chào, đoạn nói:

“ Hổ Vương liệu có thể nể mặt gia sư mà xuống núi? ”

“ Ta và con ả Cầm Ma chỉ gặp đúng một lần vào hai mươi năm trước, trước giờ vốn không có giao tình gì… Cho dù ả có đứng ở đây, bản vương cũng chưa chắc đã chịu nể mặt, huống hồ chỉ có hai người các ngươi? ”

Hổ Vương đặt kiệu xuống, đoạn hỏi:

“ Hai người hẳn là Tiêu Ma, Địch Ma trong Thất Tuyệt Ma Nữ? ”

Tuyệt Tình điện nằm lẩn khuất chốn Đèo Ngang, trước giờ không hỏi thế sự, đệ tử có xông pha võ lâm cũng hành xử cực kì bí ẩn. Khách giang hồ bình thường chỉ biết điện chủ là Cầm Ma, cũng là một trong bảy tông sư… ngoài ra thế lực này có bao nhiêu phân điện, bao nhiêu cự đầu chủ chốt thì mù tịt. Ngay cả Bạch Thanh Lâu, Nguyễn Trãi xuất thân từ Quốc Tử Giám – chốn vốn được xưng là Vạn Sự Thông của võ lâm Đại Việt cũng không ngoại lệ.

Nhưng Hổ Vương trước là người miền ngược, sau lại có chỗ giao tình với Cứu Khổ Thần Tăng của Nam Trúc Lâm cũng ở đèo Ngang, thành ra nội tình sâu cạn của Tuyệt Tình Điện ông cũng có được biết đôi chút qua lời kể của Cứu Khổ Thần Tăng.

Trước giờ Cầm Ma vốn không phục thần tăng có được lệnh ẩn thế, ngoài mặt thì tường hòa nhưng trong tối thì hai thế lực Nam Trúc Lâm và Tuyệt Tình Điện có giao thủ với nhau mấy lần, lần nào cũng bất phân thắng bại.

Theo lời thần tăng, cao tầng của Tuyệt Tình điện ngoại trừ Cầm Ma, còn có Thánh Nữ Song Sứ Thất Tuyệt Ma.

Trong đó, thánh nữ là truyền nhân các đời Cầm Ma lựa chọn từ khi còn nằm nôi, thường là bắt cóc về rồi nuôi dạy. Trước năm mười tám tuổi tuyệt không đi lại trên giang hồ.

Đại hội võ lâm chia thánh lệnh lần trước sở dĩ xuất hiện một Cầm Ma mới mười lăm, theo như Hổ Vương được biết thì là do Cầm Ma đời trước bị đánh lén trọng thương, tự thấy khó giữ mạng, thành ra trước khi chết kịp thời quán đỉnh truyền công cho thánh nữ của Tuyệt Tình điện. Còn trong chuyện này có bao nhiêu phần thật, bao nhiêu phần giả, thì Hổ Vương cũng chịu. Dù sao cũng chỉ là tin đồn…

Song Sứ, là hai sứ giả truyền tin của Cầm Ma, chia làm một sinh một tử… Còn võ công của hai thánh sứ này cao thấp ra sao, Hổ Vương không biết một chút nào. Nhưng nghe Cứu Khổ Thần Tăng kể lại thì tuyệt đối không thua gì bang chủ trưởng môn của các bang phái lớn.

Thất Tuyệt Ma Nữ thì Hổ Vương lại biết một chút.

Thất Tuyệt Ma Nữ cũng như tên gọi, là gồm bảy cô gái mang mạng che mặt, mỗi người lại luyện một đoạn ma âm trong Thất Tuyệt Ma Âm. Cứu Khổ Thần Tăng từng nói bảy người này thường ỷ vào ma âm mê hoặc chúng sinh, chứ võ nghệ chỉ có thể tính vào hàng bình thường. Nhưng khi đến chỗ này thì Hổ Vương lại thấy đau đầu…

Môn Thất Tuyệt Ma Âm này Hổ Vương cũng đã nếm thử vào hai mươi năm trước, ngay trong đêm hội Chí Tôn. Lúc ấy ma âm do chính Cầm Ma gảy đàn bầu tấu lên, mỗi khúc lại đánh vào một trong thất tình trong bản tính của con người, ngay cả ông nếu lúc đó vẫn có tâm phòng hờ, không kịp ngưng thần giới bị chắc chắn sẽ trúng mê hoặc, trông thấy đủ loại ảo ảnh kì quặc. Đến cả một tông sư không sợ trời đất, không nhìn quỷ thần như Hổ Vương mà còn thiếu chút nữa không đánh tự thua, đủ thấy Thất Tuyệt Ma Âm này quả thực là rất khó đối phó. Tuy mỗi người trong Thất Tuyệt Ma Nữ chỉ học được một phần bảy khúc phổ, nội lực lại không thể bằng được Cầm Ma, nhưng cả đời khổ luyện, giống như Nghiêu Tư bắn cung, chỉ sợ là hỏa hầu đã đạt tới hóa cảnh, sở học không bác mà tinh thâm…

Sở dĩ Cứu Khổ Thần Tăng không đề cao Thất Tuyệt Ma Nữ là do ông ta có Phật Âm khắc chế bảy người này gắt gao, võ công lại đứng hàng tông sư. Chứ Hổ Vương một câu kinh không biết niệm, một trang kinh chưa từng giở, cả đời còn chưa biết cái mõ gỗ tràng hạt ra làm sao, thì chỉ có nước ỷ vào nội lực cao cường để phá giải ma âm mà thôi.

Hai người này nhìn qua giống nhau như hai giọt nước, thì ra là một cặp chị em song sinh. Một người mang địch một người cầm tiêu, tự nhiên chính là hai trong Thất Tuyệt Ma Nữ, Tiêu Ma và Địch Ma.

“ Một chút hư danh lại được Hổ Vương đây biết tới, chị em Nhị Khanh thật là nở mày nở mặt. ”Tiêu Ma lên tiếng, giọng nói ngọt như mật, thấm như rượu, êm như suối, trong như nước… quả thực chỉ nghe thôi mà có thể khiến người ta say chuếnh choáng quắc cần câu.

Nguyễn Trãi chợt lên tiếng:

“ Không biết Nhị Khanh là chỉ người nghĩa phụ ( ở đây là người đàn bà có nghĩa) Khoái Châu, hay hồn quỷ ở Nam Xang? ”

Trong dân gian vẫn truyền lưu hai câu chuyện kể về hai Nhị Khanh khác nhau. Một người là chinh phụ ở Khoái Châu thời Hồ, một là hồn ma phóng đãng đời Trần. Tuy thời gian cách nhau đến hơn một giáp, kết cục của hai Khanh cũng khác biệt, song đều nhuốm màu truyền kỳ hư ảo, thành thử người ta chuộng nghe.

Sau lần gặp cha ở biên cương, Nguyễn Trãi tính tình thay đổi, lang thang đó đây, dùng nghề xem tướng kể chuyện mưu sinh… Thành ra ngoài sách thánh hiền, thanh sử, chàng ta còn biết cả loại văn thời bấy giờ vẫn bị coi là “ vớ vẩn ” ấy nữa. Bạch Thanh Lâu thì trước giờ đứng đắn, tao nhã, loại tiểu thuyết này y chẳng thèm ngó tới.

“ Hai chúng tôi được sư phụ nhặt về, ban cho tên họ, cả hai đều là Nhị Khanh. ”

Tiêu Ma, Địch Ma đồng thanh.

Nguyễn Trãi thấy vậy, chắp tay sau lưng, nói:

“ Một người là chinh phụ, sau được thiện quả, thành thần nữ ở đền Trưng Vương. Một kẻ là dâm hồn, sau bị ác báo, đầu trâu mặt ngựa giải xuống âm tào chịu khổ hình. Sư phụ hai người cũng thực là… Đệ tử vốn là một đôi chị em song sinh, tại sao lại chọn tên theo kiểu nhất bên trọng nhất bên khinh như vậy? ”

Địch Ma thản nhiên:

“ Sư phụ có ơn trời bể, tên người đã ban là tự có dụng ý riêng, chị em tôi nào dám có lòng khác? Thầy khóa có lòng muốn chia rẽ, e là uổng công. ”

Nguyễn Trãi thò ngón tay ngoáy lỗ tai, mặt nhăn như khỉ ăn ớt.

Chàng ta và Bạch Thanh Lâu vốn là kẻ vô danh trong mắt Hổ Vương, nhưng ông ta lại nhận ra thân phận của hai cô. Chứng tỏ hai người trong Thất Tuyệt Ma Nữ này phải lợi hại ghê lắm.

Nguyễn Trãi vốn muốn dùng ba tấc lưỡi, nếu được thì chia rẽ hai người, ít nhất cũng phải làm họ nghi kị lẫn nhau thì mới dễ bề lên núi. Tiếc là vô công.

Tiêu Ma đưa sáo lên môi, nói:

“ Hổ Vương, xin chỉ giáo! ”

Hổ Vương thấy vậy, gầm lên:

“ Hai người mau nhắm mắt vận công, thủ vững tâm thần, cứ nhẩm đọc sách thánh hiền là được, không cần nghĩ tới chuyện gì khác! ”

Đoạn, ông nhảy phóc tới trước mặt hai nữ, song quyền cùng tung ra!

Nắm đấm của Hổ Vương có oai thế như đàn ngựa hoang phi xuống núi, đàn voi lớn băng qua rừng, quả thực không thể nào ngạnh kháng nổi. Hai người từng được sư phụ dặn dò phải cẩn thận võ công của Hổ Vương, chớ có coi thường ông ta là người miền ngược. Hai ma nữ vốn đã rất đề cao đối thủ, không ngờ Hổ Vương trước tiên là nhìn ra thân phận họ, sau lại không nói không rằng giở luôn sát chiêu ra! Quyền phong của Hổ Vương đánh tới, thổi tóc mai cả hai bay phấp phới, cơ hồ không thể hô hấp được.

Mắt thấy hai nữ sắp ngọc nát hương bay dưới nắm đấm của ông, thì bỗng nhiên từ bốn góc mái ngôi đình nhỏ, bốn bóng người vốn phục sẵn lao vút ra. Quyền cước đao kiếm cứ thế nhất tề công vào các huyệt trọng yếu của Hổ Vương. Té ra những người này lấy chân móc vào rầm mái, giấu mình sau cột đình. Bây giờ trời không còn sớm nữa, họ lại đều mặc đồ dạ hành, thành ra cho dù Hổ Vương mắt sáng như mắt cú cũng không phát hiện được.

Nhưng người một khi xuất thủ, sẽ chẳng khác nào mặt nước yên tĩnh bỗng nổi ba đào. Khí tức đang thu liễm ắt phải bạo lộ ra, chuyển từ cực tĩnh sang cực động. Nhất thời bốn người… bốn cái bóng có khí thế chẳng khác nào đá tảng, lá cây thoạt biến đổi thành bốn tên cao thủ thượng thặng.

Bốn kẻ ra tay đánh lén quả có võ công rất cao…

Khí thế chuyển từ cái ì sang cái đột, trì trệ sang linh hoạt trong tích tắc.

Nếu đổi lại là cao thủ bình thường, chắc chắn sẽ phải táng mạng.

Nhưng bốn người võ công võ công cao mấy, vẫn dưới Hổ Vương Đề Lãm không chỉ một phần.

Lúc khí thế của cả bốn thay đổi, thì song quyền của Hổ Vương cũng đã cướp trước một bước mà di động, tuyệt nhiên không hề có độ trễ. Tốc độ phản ứng như thế đã không thể gọi là nhanh, mà phải nói là thần kỳ, phi nhân loại. Cứ như thể ông là ảnh phản chiếu của bốn kẻ kia ở trong gương vậy…

Nắm đấm vốn là đấm thẳng, đột nhiên tạt ngang sang hai bên. Quyền của Hổ Vương rất nặng, rất nhanh, cho dù thanh sắt ròng đúc đặc ông cũng đấm cho gãy toạc ra được. Bốn người nọ tuy công phu không tệ, vũ khí cũng không phải vật bình thường, nhưng dưới một quyền của Hổ Vương thì tuyệt nhiên không chống lại nổi.

Quyền của Hổ Vương gạt trúng mặt đao, kiếm, chấn chúng gãy lìa. Đầu mũi kiếm, lưỡi đao bị gãy bị kình lực của ông chấn văng, bắn vào mặt của hai kẻ ám toán còn lại. Cả hai buộc phải thu chiêu né tránh, thành thử thế gọng kìm bủa vây Hổ Vương bị phá tan.

Phá được thế công, nhưng Hổ Vương tuyệt chưa chịu thôi. Lão dậm chân bắn vọt đi như một quả pháo, quyền đổi thành trảo, chộp về phía gương mặt bốn kẻ đánh lén. Chỉ kình ác liệt như xẻ trời rạch đất chộp xuống mặt, khí thế hung hãn cương mãnh khóa chặt toàn thân như gông như xiềng, khiến hai người nọ thở không ra tiếng, nói không nên lời.

Bình!

Lúc này, hai người còn lại cũng chuyển mình, giở ra công phu gia truyền chỉ cốt giữ lấy cái mạng của đồng bọn, cũng là tự bảo vệ mình. Bởi cả hai sau khi đỡ một chiêu của Hổ Vương thì đã biết quá rõ cả bốn phải liên thủ lại thì may ra mới cầm cự được với Hổ Vương mấy hiệp. Nếu như hai người kia toi đời quá sớm, chỉ có hai đánh một, thì áp lực đè lên người hai người sẽ cực kì kinh khủng, e là rất nhanh thôi sẽ nối gót xuống âm tào nốt!

Tuy là tiếp được hai trảo của Hổ Vương, nhưng hai người cũng bị kình lực chấn cho bật cả máu mồm, không thể không bại lui như núi đổ.

Kì thực hai người cũng nghẹn khuất. Trong sơn trang Bách Điểu này bọn họ cũng là cao thủ tầng thứ cao nhất, trước giờ đi lại trên giang hồ nếu không đơn đả độc đấu, thì cũng là họ đi vây công người ta. Nào có chuyện đã lấy đông đánh ít, giở trò đánh lén lại còn nơm nớp lo sợ như vậy?

Nhưng đối thủ lần này là Hổ Vương, tính ra cả bốn đều là bại tướng dưới tay ông, thành ra ngay từ đầu, khí thế của họ đã bị áp chế.

Sau chiêu đầu tiên, cả bốn càng hiểu sâu sắc rằng thân thủ của mình dẫu quả thực tiến bộ, nhưng nếu đem so so với sự mãnh tiến của Hổ Vương thì lại chẳng khác nào dậm chân tại chỗ.

Thành ra khí thế lại tụt xuống một đoạn.

Cao thủ ở cùng một tầng thứ, mỗi một lợi thế nhỏ nhất đều có thể quyết định thắng thua.

Huống hồ Hổ Vương và bốn người từ xưa đã không còn ở cùng một tầng thứ.

Không sai!

Bốn người này chính là Tứ Đại Minh Vương của Bách Điểu sơn trang.

Chương 230: Hồi hai mươi hai (12)

Xét về võ công thì bốn người này không phân thắng bại với bốn Tinh hiện tại, song do đã sớm phòng bị võ công kinh thế của Hổ Vương, thành thử mới không bại chóng vánh như bốn người kia.

Hổ Vương đang định truy kích, thì Địch Ma và Tiêu Ma đã định thần. Một người thổi thổi địch, một người tấu tiêu, tiếng nhạc cất lên quyện vào nhau đánh ập lại, sóng âm tầng tầng lớp lớp như thủy triều. Hai người Bạch Thanh Lâu, Nguyễn Trãi đã sớm được căn dặn, nhưng trong lòng vẫn không tránh khỏi nổi trận ba đào. Tuy là nhẩm đọc sách thánh hiền có thể tạm thời chống đỡ, nhưng người thường thực khó tránh khỏi vẫn bị thất tình trói buộc, thần trí như chỉ mành treo chuông.

Nhị Khanh một người tấu khúc Tuyệt Ái, một người tấu điệu Tuyệt Ai. Hai khúc phổ một vui một buồn, một hoan một bi đánh liên tục vào tai, tựa như băng hỏa lưỡng trọng thiên. Khúc hợp tấu khiến người ta như tảng đá vừa bị nung nóng, đã ném vào bể băng, không cẩn thận là vỡ vụn ngay tại chỗ!

Ngay cả Hổ Vương dựa vào nội lực phi thường ngạnh kháng được, song cũng phải phân tâm đối phó ma âm, thành thử chiêu số cũng chậm lại nhiều. Bây giờ Tứ Đại Minh Vương lại hợp lực vây công, mới tạm thời có thể bình thủ.

Song Hổ Vương biết càng kéo lâu, mình càng ở thế bất lợi.

Định lực và nội công của ông đủ để chống lại ma âm, nhưng hai người Nguyễn Trãi và Bạch Thanh Lâu lại khó mà cự nổi. Một lát nữa rủi bị ma âm mê hoặc thần trí, nhẹ thì kinh mạch đứt đoạn trọng thương, nếu nặng có khi còn bị song ma sai sử. Hổ Vương biết phải tốc chiến tốc thắng, nhưng đối thủ phối hợp quả thực kín kẽ như áo trời liền chỉ, cùng tiến cùng lùi, yểm hộ lẫn nhau không lộ chút sơ hở. Hổ Vương mấy lần muốn cường công, nhưng khi ấy song ma đều chấp nhận chịu nội thương làm tiếng nhạc thêm ai oán gay gắt, buộc ông phải phân tâm bảo hộ tâm mạch của mình.

Đánh với nhau qua một canh giờ, sắc trời dần tối.

Địch Ma, Tiêu Ma biết cặp mắt Hổ Vương nhìn trong bóng tối không khác gì ban ngày, bèn đột nhiên vung dao đánh lửa, thắp mấy chục cây nến quanh đình. Khói mờ tỏa ra, tan vào bóng tối…

Bấy giờ Bạch Thanh Lâu đột nhiên quỵ gối gào khóc, lệ nóng doanh tròng. Y cứ luôn miệng gọi hai cái tên xa lạ Nguyễn Trãi chưa nghe bao giờ. Nếu là lúc khác, có lẽ chàng ta đã suy đoán xem hai cái tên này là của ai. Nhưng hiện giờ Nguyễn Trãi cũng đâu có hơi sức đâu mà nghĩ đến những chuyện ấy nữa?

Mỗi lần khúc Tuyệt Ai tấu lên là chàng ta lại thấy trước mặt hiện lên cảnh tiễn cha ở quan ải, bên tai văng vẳng tiếng của Tế Tửu kể rõ nguyên do vì sao Nguyễn Phi Khanh lại hàng quân Minh. Chàng ta chỉ thấy trong lòng bi ai tột độ, hận không thể lập tức quỳ xuống khóc rống lên.

Lúc Nguyễn Trãi cũng sắp chịu thua khúc Thất Tuyệt thì bỗng trong kiệu có tiếng nói rất khẽ:

“ Giải huyệt cho tôi, tôi giúp ba người phá địch! ”

Trong kiệu chỉ có hai người…

Trần Liên Hoa trúng Thất Tuyệt Cầm Âm của Cầm Ma, mê man không tỉnh, thế nên lời ấy tuyệt không thể do nàng ta nói được.

Thế thì người vừa lên tiếng hẳn là…

Phượng Hoàng tinh của Bách Điểu sơn trang.

Giờ lại kể chuyện của Lê Hổ…

Đứng trong điện thờ, trước tượng Đinh Tiên Hoàng…

Không khí trang nghiêm an tĩnh vì một câu nói của Lê Hổ mà tan tành như gương vỡ.

Trần Ngỗi quả thực định chắp tay dâng ngôi báu cho Trần Quý Khoáng?

Chuyện này có thể xảy ra hay sao?

Bản thân Lê Hổ cũng không dám tin là sự thật.

Trần Ngỗi lặng lẽ gật đầu, khẳng định nghi vấn ngổn ngang trong lòng Lê Hổ là sự thật.

Giản Định đế lẳng lặng chắp tay thắp hương cho vua Đinh, lại vái ba vái dài…

Đoạn, ông thản nhiên:

“ Những người đã mất nghĩ gì, ta thực không rõ. Nhưng ta biết nguyên nhân khiến họ ra đi mà đầu không ngoảnh lại… ấy là kháng Minh! Bây giờ Trần Ngỗi này đã mất lòng dân, có cố chèo kéo đại thế thì cũng chỉ đi vào vết xe đổ của nhà Hồ. Nếu Quý Khoáng có thể khiến lòng dân quy thuận, thu về một mối, đồng lòng kháng Minh, thì thiên hạ này trao cho hắn đã sao?

Triệu Cơ, cùng vô vàn nghĩa sĩ tuẫn quốc vong mạng. Nếu không phá được giặc Minh, thì ta có mặt mũi nào mà gặp họ? ”

Đoạn, Trần Ngỗi vỗ vào vai Lê Hổ, cười:

“ Không chỉ ta, cả cậu nữa, cũng phải phò vua giúp nước, nghe chưa? ”

Lê Hổ nghe lời ông ta, không khỏi nghĩ đến chuyện năm xưa hoàng hậu Dương Vân Nga đeo áo bào cho Lê Hoàn, đem đại quyền của vua Đinh trao cho họ Lê, thề phải phá tan quân Tống!

Trần Ngỗi lại cười xòa, nói:

“ Được rồi, tranh thủ ta còn làm vua một ngày, cậu có điều gì muốn nhờ cứ nói ra, ta sẽ làm chủ cho… ”

Lê Hổ nghe vậy càng thêm hổ thẹn. Giản Định đế đã đại nhân đại nghĩa đến thế, cậu sao có thể lên tiếng nói nguyện vọng con con của mình? Thành ra cứ ấp úng mãi…

Sau cùng, Trần Ngỗi phải truyền thánh chỉ bắt, cậu chàng mới lí nhí kể rõ…

Nghe xong câu chuyện, Trần Ngỗi không khỏi bật cười, nói lớn:

“ Trai lớn dựng vợ, gái lớn gả chồng là chuyện thiên kinh địa nghĩa. Huống hồ anh hùng xưa nay khó qua được ải mĩ nhân, cậu cũng không cần phải thấy áy náy. Có tề gia mới trị được quốc! Lại nói trai anh hùng xứng gái thuyền quyên, trẫm tin Kim Ngô tướng quân đã nhìn trúng hai vị mãnh tướng là Đinh Lễ, Lê Sát thì cũng sẽ chọn được một hồng nhan xứng đôi vừa lứa. ”

Thấy Lê Hổ yên lặng, ông lại cười to:

“ Ủ rũ cái gì? Chuyện này là chuyện tốt, phải cười lên! Đúng rồi, còn cả tân đế đăng cơ, có thể nói là song hỷ lâm môn! Đại cát như thế, sợ gì không phá được giặc? ”

Chuyện về sau cũng như chính sử đã viết…

Cánh quân do các tướng và mẹ của Trần Ngỗi ở sông Hát bị giải giáp, quy vào quân kháng Minh. Trần Quý Khoáng phong Trần Ngỗi làm thái thượng hoàng, đăng cơ xưng đế, ngồi chưa ấm chỗ trên ngai rồng đã cho vời các tướng vào điện. Trước là dự yến mừng lễ đăng cơ, sau để tính kế lâu dài đuổi đánh quân Minh, khôi phục giang sơn Đại Việt.

Lê Hổ lần đầu tiên thấy Trùng Quang đế, chỉ thấy người này anh minh thần võ, là người có tài hơn Trần Ngỗi một bậc.

Trần Quý Khoáng những tưởng Giản Định đế sẽ ra điều kiện gì hà khắc lắm, thậm chí còn tính đến chuyện nếu Trần Ngỗi cự tuyệt không công nhận chính danh của y thì phải đối phó thế nào. Nào ngờ Giản Định bình bình thản thản đem cái ngai rồng giao ra, chẳng cần điều kiện gì.

Có thể lên làm vua không tốn một binh một tốt, một mũi tên một hòn đạn, tự nhiên là Trùng Quang đế vui đến độ mở cờ trong bụng.

Buổi tiệc hôm đăng quang thiết đãi bá quan văn võ rất linh đình, ai nấy đều hết lời chúc tụng. Trong đó có Nguyễn Biểu là người học rộng tài cao, đem dâng một bài thơ họa Trùng Quang Đế, lời lẽ hàm súc khí khái, ai nghe cũng tấm tắc khen hay. Thơ như sau:

“ Tiếng ngọc từ vâng trước bệ hoa,

Ngóng tai đồng vọng thuở thi ca.

Đường mây vó ký lần lần trải,

Ải tuyết cờ mao thức thức pha.

Há một cung tên lồng chí trẻ,

Bội mười vàng sắt đúc gan già.

Hổ mình vả thiếu tài chuyên đối,

Dịch lộ ba ngàn dám ngại xa. ”
Rượu được vài tuần, Lê Hổ mới nói:

“ Mạt tướng xa nhà đã lâu, lại sắp thành gia thất, nếu không lên đường cho sớm e là lỡ mất ngày lành. Mong thánh thượng cho thần được cáo lui về Lam Sơn trước. ”

Trùng Quang đế đang muốn ban lệnh xuất quân phạt Minh, thấy tự nhiên Lê Hổ nhảy ra nói những lời như thể có ý thối lui, rất lấy làm bực mình, còn tưởng cậu chàng ngu trung với Trần Ngỗi nên mới ra mặt đối phó mình. Nhưng được các tướng khuyên can, lại có Nguyễn Súy đỡ lời rằng:

“ Bất hiếu có ba tội, không con là nặng nhất. Kim Ngô tướng quân là con độc đinh, chưa có người nối dõi, nếu không may trận vong thì cả nhà tuyệt hậu, về cưới gả gấp cũng không lạ. ”

Trần Quý Khoáng nghe thế cho là phải, nên không truy cứu, để yên hai người Lê Hổ Lê Thận ra về, nhưng một mực giữ Lê Sát lại.

Lê Hổ bèn nói:

“ Người tài ra sức giết giặc giúp nước là chuyện nên làm. Uy dũng của Lê Sát mà để mai một ở Lam Sơn làm ruộng bẫy thú thì thật đáng tiếc. Miễn là cậu Sát không phản đối, thì thần không có ý kiến. ”

Lê Sát bèn nâng ba chung uống cạn, giọng sang sảng:

“ Bà lớn Lam Sơn có ơn tri ngộ với tại hạ. Tuy nay vì vận nước mà giúp thánh thượng đánh giặc, nhưng tôi trung không thờ hai chủ, thế nên mong bệ hạ đừng ban cho Sát chức quan hay thưởng vàng thưởng lụa gì cả! Còn Lê Sát uống ba chén này, là xin thề trước hồn thiêng hai vị tiên đế Đinh – Lê là sẽ chém giúp bệ hạ ba tướng Minh trước đã! Sau đó đi hay ở xin thánh thượng hãy để tôi tự định đoạt! ”

Trần Quý Khoáng tiếc tướng giỏi, đang định lựa lời thuyết phục Lê Sát về dưới trướng mình luôn thì Đặng Dung đã ngăn lại. Y nói:

“ Thánh thượng đừng vội, cứng quá sẽ gãy, lạt mềm buộc mới chặt. Người tài thế này mình ắt phải giữ lại, nhưng không thể gấp! Trước cứ đáp ứng y để y thấy cái đức rộng rãi của bệ hạ, cũng như cho y thấy người coi trọng y tới mức nào… Đợi đến lúc vào sinh ra tử lâu ngày, nghĩa sâu ơn nặng rồi, lo gì y không quy thuận? ”

Trùng Quang đế cho lời ấy rất phải, bèn không kì kèo thêm, khảng khái đáp ứng yêu cầu của Lê Sát.

Thế là Giản Định đế được tôn làm thái thượng hoàng, Lê Hổ tự mình về Lam Sơn chuẩn bị chuyện cưới hỏi với Trịnh Ngọc Lữ. Còn Lê Sát thì theo Trùng Quang đánh quân Minh… Sau này lời đồn truyền ra, một hóa mười, mười thành trăm, không hiểu ra sao mà chính sử chép rằng Trần Quý Khoáng đem quân đánh úp quân của Giản Định ở thành Ngự Thiên. Bộ tướng của Ngỗi theo mẹ y dấy binh ở sông Hát hòng giảy vây cho y nhưng không thành. Sau đó Trần Quý Khoáng mặc áo vải đến đón Trần Ngỗi, nhận Giản Định làm thái thượng hoàng, cùng tận lực chống Minh. Tiếc thay sử gia không có ở trong cung, chẳng thể nào nhìn cảnh Giản Định lặng yên rơi lệ…

Tối đó…

Trăng như hổ thẹn, trốn vào đám mây…

Một vua, một tôi, đứng bên bờ Hoàng Long, mắt ngắm giang sơn tú lệ…

Người thường sợ đêm đen, sợ quỷ ma gào rú…

Nhưng chỉ có kẻ từ sa trường trở về, mới thấy cảnh đêm thật đẹp. Không còn tiếng đao kiếm, không còn tiếng gào thét.

Tĩnh lặng.

Như vốn dĩ nó phải vậy.

Đêm đen nuốt lấy ánh lửa rực, mùi khói nồng, giọng pháo gầm, tiếng vó ngựa, hoàn trả lại cho núi sông một chút diễm lệ, một nét nên thơ, một khắc yên bình…

Gió khẽ lay ngọn cây…

Thực ra là cây động, hay lòng người dao động?

Nguyễn Quỹ đến gặp Trần Ngỗi.

“ Thánh thượng cho gọi thần? ”

Trần Ngỗi đứng dưới ánh trăng bàng bạc, năm ngón tay nhẹ miết lấy vạt áo cổn. Y cứ đứng đực ra đấy mà không lên tiếng, tự nhiên Nguyễn Quỹ cũng sẽ không phá hỏng tâm trạng của y.

Phải một lúc sau, Trần Ngỗi mới lên tiếng:

“ Nguyễn Quỹ, cậu có thấy ta rất ngu hay không? ”

Nguyễn Quỹ nhỏ giọng:

“ Mạt tướng quả thực không hiểu tại sao người phải chắp cả hai tay dâng giang sơn cẩm tú mình phải chịu khổ chịu nhục giành được cho thằng nhãi con Quý Khoáng. ”

Y ngừng một lúc, đoạn vung thanh đao lạ một cái thật mạnh vào không khí…Như để phụ họa cho quyết tâm sắt đá của mình.

“ Nhưng thánh thượng làm như vậy, tự nhiên đã suy nghĩ cẩn thận, có dụng ý riêng. Nguyễn Quỹ này không giỏi trí mưu, chỉ có chút võ dũng không đáng nhắc tới, tự nhiên sẽ không hoài nghi bệ hạ. ”

“ Nhưng… không phải nhà ngươi cũng không tin chuyện ta không giết hai người Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân hay sao? ”

Trần Ngỗi hỏi lại.

Giọng y đã có phần gấp gáp.

Nguyễn Quỹ nghe xong, bèn đáp:

“ Thần không tin những gì mình nghe, chỉ tin những gì mình thấy. Nên thần không tin bệ hạ, cũng không tin thế nhân. ”

Ngưng một chút, Nguyễn Quỹ chợt quỳ một gối xuống, nói rất dõng dạc:

“ Nguyễn Quỹ thân nam nhi không trọn vẹn, song há lại có thể hổ thẹn với hai chữ Nam Nhi? Thần thờ bệ hạ là minh chúa, trước đây cũng vậy, sau này cũng vậy… Ngai vàng kia cứ để thằng ranh con đó ngồi đi! Nguyễn Quỹ này trước sau chưa từng thờ một cái ghế! ”

Khi đó, Trần Ngỗi ứa lệ…

Làm vua, có trung thần như thế, không nghe y thì nghe ai??

“ Ta không phải minh quân, hổ thẹn với các bậc tiên đế. ”

“ Thần tài hèn sức mọn, quả thực cố gắng cả đời cũng không thể làm được như ngài Lý Thường Kiệt… ”

Trần Ngỗi bất giác ngâm thơ:

“ Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư!

Tiệt Nhiên Định Phận Tại Thiên Thư!

Như Hà Nghịch Lỗ Lai Xâm Phạm?

Nhữ Đẳng Hành Khan Thủ Bại Hư! ”

Nguyễn Quỹ cũng họa theo…

“ Nam Nhi Vị Liễu Công Danh Trái

Tu Thính Nhân Gian Thuyết Vũ Hầu! ”

Hai người, một vua một tôi, một kẻ làm vua không giỏi, một người làm tôi chẳng hay, tại chốn này cùng ngửa mặt nhìn trời mà cười vang ba tiếng.

Ba tiếng cười.

Một tiếng không màng thế nhân đàm tiếu, thanh sử chê bai!

Một tiếng không màng sống chết, thề đuổi quân thù!

Một tiếng sau cùng, là cười vào mặt ngoại xâm vô tri!

Tiếu thanh chìm dần, vỡ thành nước mắt…

“ Chửi hay lắm! Không oan chút nào! Ta đúng là một hoàng đế tồi… ”

Trần Ngỗi say trong đêm trăng, cười vang ba tiếng.

Muốn giữ được mạng Trần Ngỗi, yên được lòng dân trong thiên hạ, thì phải có người gánh thay cái tội giết công thần, cũng là để cho Đặng Dung một câu trả lời đích đáng. Trần Quý Khoáng trước là cho Trần Ngỗi một chức thái thượng hoàng danh không xứng với thực, nhưng chuyện chưa thể yên ở đấy được…

Lòng trung của Nguyễn Quỹ thực không phải bàn.

Biết bản thân là hoạn quan thân tín của Trần Ngỗi, y bèn tự khai bản thân và Nguyễn Mộng Trang chính là hai tên gian thần đã đàm tiếu trước mặt Giản Định, khiến y giết hai người Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân.

Sau khi sửa soạn một phong thư tuyệt mệnh, Nguyễn Quỹ xin Trần Quý Khoáng ban cho một bình rượu độc, lặng lẽ uống cạn…

Rồi ra đi…

Thanh thản lạ.

Trần Ngỗi lại cười tự giễu…

Y quả thực không biết làm vua!

Cầm hai tờ thư tuyệt mệnh, một của Nguyễn Quỹ, một của Trần Triệu Cơ, mà Giản Định đế trào huyết lệ…

“ Thần có sống cũng không muốn phục Đặng Dung, không chịu thờ Quý Khoáng. Sống lay sống lắt trái với lương tâm, chẳng bằng làm một chuyện cuối cùng cho thánh thượng… Thần có chút võ vẽ, giết địch cả đời không bằng thánh thượng chỉ huy ba quân, một đòn trẻ tre quét tan quân thù. Xin người chớ bận lòng, cũng đừng theo thần, bằng không Nguyễn Quỹ có làm quỷ, cũng không muốn thấy mặt người…

Gian thần không tiện để thánh thượng thờ phụng cúng viếng, sau này lên sa trường ngài giết một tướng giặc thì tế thần một chén rượu, chém một vạn giặc thì cúng cho thần bữa cơm đạm bạc với ít vàng mã là được.

Lời lẽ bức thư này thật là đại nghịch bất đạo! Nhưng thần đây đã lìa đời, còn sợ cái gì nữa?

Nguyễn Quỹ tuyệt bút… ”

Trần Ngỗi cười vang ba tiếng.

Một tiếng không màng thế nhân đàm tiếu, thanh sử chê bai!

Một tiếng không màng sống chết, thề đuổi quân thù!

Một tiếng sau cùng, là cười vào mặt ngoại xâm vô tri!

Khác biệt duy nhất là lần này không còn Nguyễn Quỹ ở đây mà cuồng tiếu cùng y được nữa.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau