THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 21 - Chương 25

Chương 21: Hồi bảy (3)

Đám bộ tốt kêu lên thất thanh:

" Tướng quân!! Thuyền chìm rồi!!! Tướng quân!!!!! ”

Thì ra Liễu Bân vẫn duy trì tư thế cũ, mặc cho màn hào quang rởm đã biến mất vì đám thuộc hạ mải ôm đầu, không có lật gương đồng đúng góc. Thấy tướng cầm đầu anh dũng quả cảm đến vậy, đám bộ tốt trong thuyền không khỏi cảm thấy xấu hổ, tráng chí nhất thời cháy lên rừng rực.

" Không hổ là Lý tướng quân!!! ”

" Đại tài tiểu dụng a, đáng lẽ ngài ấy nên được Thành Tổ trọng dụng mới phải. ”

" Lâm nguy bất loạn, đạn pháo lướt qua mặt vẫn trấn định như thái sơn, ấy mới là phong phạm của bậc đại tướng quân. ”

" Sau này ngài chính là đối tượng mà ta sùng bái… ”

Đám lính nhao nhao reo hò, có đứa mắt còn rơm rớm nước. Nhưng đạn pháo thần cơ bắn thủng đáy thuyền, nước tràn vào rất nhanh. Lính lác nhà Minh lục tục rủ nhau bỏ thuyền, song vị đại tướng Lý Bân thì vẫn hiên ngang đứng tại chỗ, đầu hất lên, mặt hướng ra xa, biểu cảm cực kì nghiêm túc.

" Tướng quân, thuyền sắp chìm rồi!! ”

Một tên lính lò dò đến gần, thu hút can đảm nhắc khẽ một tiếng. Y còn tưởng Lý tướng quân sẽ trách mắng y hèn nhát, là lâm trận còn thoái lui, nào ngờ chẳng hề có một câu đáp lại nào. Tín hiệu duy nhất báo cho y rằng vị tướng quân trước mặt hãy còn sống là nhịp thở lí nhí như người hen suyễn và mùi khó ngửi đang bốc dần lên từ đũng quần đẫm nước sông và một thứ dung dịch mới chỉ vừa được sản xuất cách đây không lâu. Thì ra khi viên đạn pháo sượt qua, tay Lý Bân này đã bất tỉnh nhân sự mất rồi.

" Mau!!!! Đưa Lý tướng quân cùng xuống!! ”

" Cứu giá! Mau cứu giá!! ”

Sĩ tốt người Minh quả là có tình có nghĩa, trong lúc khẩn yếu quan đầu, mặc dù tướng quân của họ bất thành khí thì họ vẫn cố gắng cứu lấy y. Hỡi ông trời, thử hỏi tìm đâu ra những con người, những thủ hạ thân tín đáng tin như vậy nữa? Ngay cả khi nhảy xuống nước để bơi về bờ, họ vẫn chấp nhận mỗi người góp một cánh tay để nâng chủ tướng của mình lên quá đầu, quyết không để mặt y chạm nước vì sợ họ Lý sẽ chết sặc. Đúng là chỉ có vận may, khí chất của người xuyên không mới khiến những con người như thế quy tụ lại quanh y.

Hồ Xạ:

" Hồ Đỗ, từng thấy cảnh Phượng Vĩ Trôi Sông chưa? ”

Đỗ gãi gãi đầu, nói:

" Hồ Xạ này, làm anh em chiến hữu với nhau bao lâu nay, ta nói thẳng: thằng Đỗ này ít học, cứ bóng gió như thế mười năm sau ta cũng không hiểu được.”

" Vậy ta cho mi mở mang tầm mắt!! ”

Hồ Xạ cười khẽ, sau đó hai tay thoăn thoắt rút ra mấy chục mũi tên dài. Y nhắm chuẩn cái quần yếm đỏ chót nổi bật giữa dòng nước của Lý Bân, rồi cứ lần lượt phóng từng mũi tên một. Phập!!

" Úi…… ”

Phập!

" Oé. "

Phập. " Éc. ”







Hết mũi tên này đến mũi tên khắp cắm vào mông của Lý Bân, máu tươi thấm ra đầy hai đùi và bẹn. Cũng may y chọn cái quần đỏ, nên không ai biết mông y giờ thê thảm ra sao. Chỉ có những người lính đáng tin cậy là còn ở bên Lý Bân trong cơn hung hiển ấy. Đúng là hoạn nạn thấy chân tình.

" Phát thứ mấy rồi??? Ngót nghét hai mươi chưa? ”

" Mười tám thôi. ”

“ Mang theo tướng quân thực sự là ý hay nhỉ, nếu không có ngài ấy xả mông che chở, chúng ta đã chết sạch rồi. ”

Binh sĩ trẻ nhất cảm thán. Y là người bơi sau cùng, phụ trách nâng cặp đùi. Được trực tiếp cảm nhận lực đâm từ đầu mũi tên truyền qua từng thớ thịt mông hết lần này đến lần khác. Mỗi lần như vậy, y lại thấy cái mông râm ran, vội vàng khép chân lại theo bản năng. Thành ra, tốc độ bơi của y chậm lại, cái mông của Lý Bân bị găm nhiều tên hơn. Nó tạo nên một vòng luẩn quẩn, bơi chậm, trúng tên. Xin tạm gọi kì cảnh ấy là “ trọc phong khai hoa, huyết hồng sơn cốc ”.

Y mới buột miệng một câu, cả đám đã quay lại thấp giọng chửi:

“ Im!!! Có những cái mình biết với nhau là đủ rồi, còn cứ phải hô hào cho thượng cấp nghe thấy, hiểu chưa? Biểu hiện chỉ cần dừng ở mức biển hiệu là được rồi… ”

“ Chí lí… ”

Binh sĩ nhỏ tuổi gật nhẹ đầu, rồi ngoác mồm ra mà kêu cùng các “ huynh đệ ”:“ Tướng quân!!! Ngài ráng chịu đựng, sắp về tới bờ rồi. Lũ khốn Nam Quốc, có giỏi thì đừng ném vào mông Lý tướng quân nữa! Nếu không phải còn nhiệm vụ tại thân, ta nguyện thay tướng quân chịu đựng nỗi đau xác thịt ấy!!! ”

“ Tốt, nói hay lắm. ”

“ Có tương lai trong nghiệp binh đao. ”

Lý Bân khóc, nhưng không dám ngóc đầu dậy vì sợ đối phương biết mình còn tỉnh, sẽ không chơi đùa nữa mà phóng một mũi tên lấy mạng ngay lập tức. Y thầm chửi:

[ Không nhắm vào mông, chẳng lẽ nhắm vào đầu hay sao??? Rốt cuộc bọn chúng mới là người tiền sử, hay Đồ Ngu này đây? ]

Thực ra, chỉ cần một người cõng Lý Bân - Đồ Ngu, lại lẫn vào trong đám quân là hắn có thể bình an qua sông.

Than ôi, anh bạn Đồ Ngu này đã có cái cơ hội mà bao nhiêu người khác có mơ cũng không được, ấy là trở về thời cổ đại. Nhưng… lịch sử thường chỉ là sự kiện, là kết quả. Thực chất người thời phong kiến nghĩ ra sao, thế giới quan của họ thế nào thì ai mà biết được?? Nếu chỉ dựa vào vài dòng chữ chết đã nghĩ họ không thông minh bằng một tên thanh niên chưa ra đời bao lâu thì thật sai lầm lắm.

Hồ Đỗ, Hồ Xạ nhìn đám tàn quân đang dùng thượng cấp làm khiên, lóp ngóp bơi về bờ mà không nén nổi cười ra tiếng. Lúc trước ai đó còn giả vờ giả vịt mình rất trâu bò, thì nay cái mông đã hoá thành một đoá phượng vĩ diễm lệ trôi trên mặt nước.

Buồn trông ngọn nước mới xa, hoa trôi man mác biết là về đâu?

Cánh hoa đỏ thắm hôm ấy rốt cuộc cũng được quân lính dưới quyền đưa lên bờ. Cả đám thoát hiểm rồi, vội lấy nước sông táp vào mặt Lý Bân để y hồi tỉnh.

“ Thật là thất trách, trong lúc khẩn yếu trúng phải yêu pháp định thân của đám mọi không cử động được. ”

“ Ra thế, ra thế. ”

“ Đám An Nam ấy đúng là quá giảo hoạt. ”

Nghe đám lính hùa theo đầy miễn cưỡng mà mặt mũi Lý Bân không đổi sắc chút nào, da vẫn trắng bóc không hề hồng lên dù là một tẹo. Không biết tên này luyện thế nào, mà thần công Kim Chung Tráo của phái Thiếu Lâm lại độn hết lên mặt như vậy.

Lý Bân cố gắng bước đi một cách thật hào hùng, nhưng cứ thẳng lưng dậy là cái mông lại bỏng lên như có lửa thiêu. Thành thử, y chỉ đành cong lưng một góc chín mươi độ, khuỳnh chân vòng kiềng lạch bạch đi về phía doanh trướng của mình. Ấy vậy mà đầu y vẫn cố giương cao hết cỡ, môi bĩu lên giả như oai hùng lắm. Tiếc là hai tay lại kẹp sát eo để ôm mông, thành ra trông y không khác gì vịt Donald bản lỗi hết.

Về đến doanh trướng của mình, Lý Bân đã bù lu bù loa:

“ Lão thiên a, nguy hiểm quá. Bọn Đại Ngu này đúng là ti tiện mà. Ai uuuuu, mông của ta. ”

Tính ra thì Lý Bân này cũng xui, chui đâu không chui lại xuyên đúng qua thời nhà Minh. Học cho đẫy một bụng thơ Đường, từ Tống rồi đành xếp xó. Còn như chế xà phòng, chế nước hoa thì chẳng ai thèm đoái hoài vì khi ấy đã thịnh hành túi thơm rồi. Sau khi qua đánh Đại Ngu, y lại vỗ ngực xin Trương Phụ một tháng để phảng chế pháo Thần Cơ.

Kết quả của việc này ra sao thì Lý Bân nhỏ biết rõ nhất.

(*) Đăng thêm một chương ngắn, đáng lẽ tác định để cheo leo đến tuần sau nhưng thôi. Ai là fan thể loại xuyên không đừng nghĩ quá nhiều nhé. Lý Bân chỉ là một cá nhân, nhân vật này không có tính khái quát hoá đâu.

Chương 22: Hồi bảy (4)

Thêm vài ngày trôi qua, quân Minh và quân Hồ giao tranh thêm vài trận nhỏ. Đáng ngờ ở chỗ sĩ tốt nhà Minh lúc thì hung hãn, khi thì bạc nhược, khiến người ta khó mà nhìn thấu quân tình của họ.

Hồ Xạ Hồ Đỗ thấy sự lạ, mới bẩm cáo lại với Hồ Nguyên Trừng và Hồ Hán Thương. Trong soái trướng quân Hồ, người ngồi ở chủ vị đã không phải là Hồ Nguyên Trừng nữa mà là một thanh niên khác.

Người này mặc long bào màu vàng, đầu đội mão ngọc. Mặc dù tuổi đời trẻ hơn, song y trông lại già hơn Nguyên Trừng khá nhiều. Má hóp, mắt thâm đen có bọng và da dẻ có vẻ hơi tái. Trông Hồ Hán Thương như là bệnh nhân suy thận, đoán chừng là do hưởng lạc quá độ.

Khai Đại đế nghe tin thì vui mừng ra mặt, nói:

" Trời giúp Đại Ngu ta, địch quân rõ ràng đang tìm cách che mắt, muốn dùng ảo giác để kéo dài thời gian. Ta phải nhân cơ hội này phái đại quân quét tan đám người Minh ngu dốt này, khiến Hàm Tử quan một lần nữa nhuốm máu dân bắc quốc. ”

Hồ Nguyên Trừng suy ngẫm một lúc, lại can:

" Hoàng huynh chớ nóng vội, Trương Phụ là một tên cáo già dùng binh lão luyện. Nguyên Trừng sợ đây là gian kế của hắn. Thiết nghĩ… ”

Nào ngờ chưa nói dứt câu, thì Hồ Hán Thương đã sầm mặt lại:

“ Nguyên Trừng, có phải là vẫn ganh ghét với trẫm hay không? Là vì nhà ngươi sinh trước ta, nhưng lại không được vua cha truyền ngôi cho nên sinh lòng ấm ức? ”

Hồ Nguyên Trừng đáng lí là anh của Hán Thương, lại là con của chính thất Hồ Quý Li. Song vì Li cướp ngôi nhà Trần, danh bất chính ngôn bất thuận nên mới truyền ngôi cho người con thứ của mình với công chúa nhà Trần là Hồ Hán Thương. Vì là vua, nên dù sinh sau đẻ muộn Hồ Nguyên Trừng vẫn phải tôn Hồ Hán Thương làm anh, không thì dùng lễ quân - thần mà xưng hô.

“ Bệ hạ, thần luôn trung thành với Đại Ngu ta thì sao có thể có việc ấy được. Thế nhưng… ”

“ Ý ngươi là quả nhân nói láo, ngậm máu phun người đổ oan cho ngươi?! ”

Hồ Hán Thương lại híp khẽ hai mắt, trầm giọng xuống. Trong đôi mắt y thoáng hiện lên vẻ hung ác và ghen tị.

Hồ Nguyên Trừng vội quỳ một gối xuống, nói:

“ Muôn tâu thánh thượng, lòng trung của Nguyên Trừng với Đại Ngu ta có trời đất làm chứng. Nếu như thần dám hai lời, cam tâm để thiên lôi đánh chết không được toàn thây, muôn đời làm quỷ đói không được siêu sinh. ”

Hồ Hán Thương vỗ bàn, quát:

“ Ca ngợi giặc, gián tiếp hạ sĩ khí quân ta. Khá khen cho một Hồ Nguyên Trừng! Mi cũng nham hiểm lắm… Một trận thì thua tan tác, bỏ lại ba quân một mình chạy xuống Muộn Hải. Đã vậy còn để mất Thái Bình. Muộn Hải thắng lớn, song lại không truy kích quân giặc mà để chúng chạy đến Hàm Tử chỉnh đốn hàng ngũ. Nay lại ngăn cản quân ta ra trận, rõ ràng là muốn cho quân giặc có thời gian nghỉ ngơi củng cố lực lượng. Miệng thì nói trung, song bụng dạ mi thế nào? ”

Hồ Nguyên Trừng cắn răng, đang định nhận tội thì Hồ Xạ đã lên tiếng:

“ Muôn tâu thánh thượng, hai lần bại trận ấy là lỗi của toàn quân, chứ không thể trách tướng quốc được. Người đã tận lực chống giặc, lại còn trúng độc, mong thánh thượng đèn trời xét soi. ”

Hồ Đỗ cũng tiếp lời:

“ Hai trận thua, tội thằng Đỗ này không nhỏ. Nếu thánh thượng muốn phạt tả tướng quốc, chi bằng phạt Hồ Đỗ này trước đi! ”

“ Thánh thượng anh minh tự biết suy xét phải trái đúng sai, nào có đến lượt đám nô tài chúng ta chõ mồm vào? Phận làm nô tài như chúng ta, nên cẩn tuân thánh chỉ của thánh thượng mới phải. Còn như không tuân ý chỉ, tức là khi quân phạm thượng. ”

Mé phải lều có tiếng người nói oang oang. Hồ Đỗ, Hồ Xạ cùng nhìn qua, té ra là Nguyễn Tông Đỗ chứ không phải ai khác. Tướng lĩnh trong trướng cũng dần phân hoá ra làm hai bộ phận. Một số đứng về phe Tông Đỗ, phía còn lại ủng hộ hai người Đỗ Xạ bênh vực Hồ Nguyên Trừng.

Hồ Đỗ nóng tính, ăn nói chẳng mấy khi kiêng dè ai bèn quát luôn:

“ Thằng ăn mít bỏ sơ ăn cá bỏ lờ này! Nếu tướng quốc không cất nhắc, nhà ngươi có vị trí hôm nay hay không? Thế mà dám ngậm máu phun người, đổ oan cho tướng quốc! Chuyện thành Đa Bang thất thủ ta còn chưa tính sổ với nhà ngươi đâu! ”

“ Muôn tâu thánh thượng, đám người Hồ Đỗ Hồ Xạ dám kéo bè kết phái ủng hộ Hồ Nguyên Trừng, e rằng có dạ bất lương, không chừng là muốn mưu phản đấy ạ. Thần nghĩ phải nhốt cả hội lại, không khéo ảnh hưởng tới đại nghiệp kháng Minh thì chết dở.”

“ Nguyễn Tông Đỗ! Cái đồ mèo đàng chó điếm, gắp lửa bỏ tay người! Mày chết với tao! ” - Hồ Đỗ thấy đối phương ăn nói linh tinh, lại còn có ý chia rẽ đầu não tướng lĩnh nhà Hồ thì ức lắm. Y vơ vội hai thanh rìu chiến, nhảy qua bàn muốn lao về phía Nguyễn Tông Đỗ. Hồ Xạ thấy thế, vội cản:

“ Đỗ! Thánh thượng còn ở đây, đừng có làm càn. ”

Song đã muộn rồi. Nguyễn Tông Đỗ sao có thể để thời cơ này chạy thoát? Y vội vàng lên tiếng:

“ Đấy, thánh thượng người xem đi. Người hãy còn ngồi ở đây mà Hồ Đỗ đã dám khinh nhờn long uy, thế thì lúc vắng mặt người hắn còn kiêng dè gì nữa mà không nói những lời đại nghịch bất đạo?? ”

“ Ngươi… Bệ hạ, xin đừng nghe tên tiểu nhân này xàm tấu! ”

Hồ Đỗ nghiến răng kèn kẹt, nắm đấm xiết lại kêu canh cách. Song Hồ Hán Thương đang nhìn chằm chằm, y chẳng còn cách nào ngoài nén cơn giận lại.

“ Hứ! Không có lửa làm sao có khói? Thánh thượng, hay là… ”

“ Thôi đủ rồi… ”

Hồ Hán Thương khẽ nói, rồi giộng giộng ngón trỏ lên mặt bàn gỗ cứng. Y nhìn Hồ Nguyên Trừng, ánh mắt lộ rõ vẻ mong chờ. Người tướng quốc tài năng, linh hồn và trái tim của quân đội nhà Ngu sẽ lựa chọn ra sao?

Nén một tiếng thở dài, Hồ Nguyên Trừng khẽ nói:

“ Thánh thượng đã ra chiếu, người làm tôi không dám không nghe. Nhưng xin bệ hạ hãy nể tình Nguyên Trừng dốc lòng vì nước nhà mà ban cho thần ân huệ cuối cùng, ấy là trước khi thành Tây Đô thất thủ thì đừng xử tử thần, cũng đừng làm liên luỵ tới các tướng lĩnh thuộc hạ. Thất bại hai lần là do Nguyên Trừng vô năng, xin một mình lĩnh tội. ”Trong trướng bồng, liên tiếp vang lên những tiếng “ Ôi chao ” của tướng lĩnh. Không ít người lên tiếng khuyên can, nhưng vô dụng. Hồ Xạ, Hồ Đỗ kiên quyết đứng ra muốn chịu phạt, song Hồ Nguyên Trừng khuyên can:

“ Bây giờ đang lúc cần người, hai người hãy nghe ta phò tá thánh thượng thật tốt. Chớ có gây sự bất hoà, chỉ khiến giặc Minh bên kia sông được lợi mà thôi, ” - Chàng nói xong, lại nhìn qua Nguyễn Tông Đỗ. Tên bại tướng ở thành Đa Bang khẽ chột dạ trước cái nhìn đầy thất vọng của Nguyên Trừng, song y vẫn nói kháy:

“ Ha? Chuyến này ra quân ắt là đại thắng, quân Minh mười mươi sẽ bị đánh tan. Khi ấy ngài tướng quốc đây chẳng phải được an nhàn hết kiếp hay sao? ”

“ Nguyễn Tông Đỗ! Nhà ngươi đúng là hạng tiểu nhân, chỉ biết tát nước theo mưa! ”

“ Giậu đổ bìm leo, đúng là quân đốn mạt mà… ”

Hồ Đỗ chửi không nói, lần này Hồ Xạ và các tướng khác cũng không nhịn nổi sự hèn mạt của Nguyễn Tông Đỗ nữa. Cả doanh trướng ầm ĩ cả lên, song đứng về phía Tông Đỗ chỉ lác đác vài người, đa phần đều là đám quan văn trong triều được theo xa giá để hầu Hồ Hán Thương.

“ Đỗ, Xạ. Những gì ta mới nói, hai người quên rồi chăng? ”

Hồ Nguyên Trừng sẵng tiếng.

“ Mạt tướng không dám… Nhưng tướng quốc cũng không nên nhận hết tội danh vào người như vậy! ”

“ Nguyên Trừng giờ là tội nhân, không còn là tả tướng quốc gì nữa. Trước thánh thượng điều tra chân tướng sự việc, mong mọi người đừng giữ xưng hô cũ, kẻo Nguyên Trừng phải tội khi quân. ”

Nói đoạn, chàng từ từ cởi mũ, tháo chiến bào rồi dâng hổ phù soái kì đại diện cho binh quyền cho Hồ Hán Thương. Hán Thương thu về được binh quyền vào tay, thầm cười trong dạ.

Hồ Nguyên Trừng bị hai binh lính của Khai Đại giải đi trong ánh mắt bất mãn của các tướng, nhốt trong lều chứa củi. Hai chân hai tay dù không bị trói hay gông, nhưng cũng chẳng được tự do mà luôn có lính lác túc trực canh giữ.

Tối ấy, Hồ Hán Thương cho gọi hai người Hồ Đỗ, Hồ Xạ vào gặp riêng.

Bên ngọn đèn dầu leo lét, trông Hồ Hán Thương càng thêm vẻ cô độc. Buồn đượm trong đôi mắt. Ấy là cái vẻ mặt của con người đã ngồi lên đỉnh cao nhất của xã hội phong kiến, chỉ để nhận ra trên cái ngai rồng ấy là cả một bầu trời trống vắng.

Hồ Đỗ còn căm chuyện của Nguyên Trừng, nên tỏ vẻ khó chịu ra mặt. Đến tận lúc vào lều y mới miễn cưỡng quỳ một gối, song đầu thì không cúi. Hồ Xạ ở bên cạnh thì vẫn giữ lễ quân thần, song hai đốm lửa vẫn cháy rừng rực.

Hồ Hán Thương phẩy tay, hàm ý miễn lễ, hai người vẫn không đứng lên. Y như cũng đoán được, bèn chậm rãi nói:

“ Ta biết, hai ngươi định xin tội cho Nguyên Trừng. Thực chất bản thân ta cũng biết anh ấy chịu oan… ”

Hồ Đỗ, Hồ Xạ thật không tin vào tai mình. Nếu Khai Đại trách tội họ, hay cấm họ nhắc tới chuyện hồi nãy thì hai người còn có thể hiểu và lí giải. Song, lần này vua Hồ chơi bài quá lạ và hiểm. Hai người tạm thời không biết nên phản ứng ra sao.

Sau cùng, Hồ Xạ mới lên tiếng:

“ Nếu là như thế, mạt tướng cầu xin thánh thượng xoá tội danh cho tướng quốc. ”

Hồ Đỗ cũng hậm hực:
“ Đúng vậy. Không thể có cái chuyện chó đen ăn vụng, chó trắng chịu đòn như thế. ”

Hai người dùng ánh mắt chờ mong nhìn qua, song chỉ đổi lại được cái lắc đầu nhè nhẹ của Hồ Hán Thương. Y ngồi lại xuống cái ghế con Nguyên Trừng vẫn hay ngồi, lướt nhẹ ngón tay lên mặt bàn không dính một hạt bụi. Kế, y mới nói, ngữ khí càng lộ vẻ cô đơn:

“ Trẫm cũng biết vậy, song các quan trong triều gây áp lực quá. Đám quan văn này đều là hạng tham sống, sợ chết. Nếu như không nghiêm phạt tướng đã bại trận, thì e trên triều sẽ tan đàn xẻ nghé. Cho nên, quả nhân mới buộc phải ra cái hạ sách này. Riêng cái tên Nguyễn Tông Đỗ thì còn có diệu dụng nên tạm tha. Thực ra, lòng trung của anh Trừng ra, lí nào Hán Thương này không rõ? Nhưng than ôi, làm vua, cũng có những khi mình không thể tự quyết định. ”

Hồ Đỗ nói luôn:

“ Hoá ra thánh thượng còn có nỗi khổ tâm. Hồ Đỗ ngu dốt không hiểu, từ đó tới giờ còn chửi thầm bệ hạ trong bụng. Đúng là đáng đánh. ”

Thế rồi Hồ Đồ tự vả miệng mình hai cái nghe chan chát. Hồ Hán Thương vội chạy ra giữ tay, nói:

“ Đỗ tướng quân anh dũng thiện chiến, làm người bộc trực thẳng tính. Trên triều nay hãy còn nhiều xiểm thần từ thời nhà Trần, những người như tướng quân đây thật cần lắm thay. Quả nhân đâu thể trách tội được? Nếu trẫm là khanh, ắt cũng tự chửi bản thân mình ngu ngốc. ”

Hồ Xạ nghe mà ngờ ngợ, song không tiện nói nhiều. Đến khi hai người diễn xong cái màn Lưu Bị ném A Đẩu, y mới hỏi:

“ Không biết bệ hạ cho gọi hai chúng tôi vào đây là có thánh chỉ gì muốn mật truyền? ”

“ Thực chất, ta muốn hai khanh dẫn theo một chi kì binh tấn công tập kích doanh trại nhà Minh ở hướng tây, Bản thân ta thì sẽ phái Tông Đỗ dẫn một nhánh khác công kích chính diện, dùng kế dương đông kích tây. Tên Nguyễn Tông Đỗ để Đa Bang thất thủ, bản thân lại chạy trước, lần này đáng làm tốt thí lắm. ”

Hồ Đỗ vỗ tay đánh chát một tiếng, khen:

“ Đúng! Loại tiểu nhân này nên có kết cục như vậy. ”

Hồ Xạ thì nói:

“ Chuyện này không phải việc nhỏ, mà can hệ tới sinh mạng toàn quân, thắng bại của cả cuộc chiến. Hạ thần có ngu ý muốn đến thăm tả tướng quốc, nhờ người dạy xem trận này nên đánh ra sao, công thế nào mới có thể toàn thắng. Thánh thượng cũng biết tả tướng quốc hàm oan, chắc hẳn sẽ hỏi ý kiến của ngài ấy, đúng không ạ? ”

“ Quả thực vậy, quả thực là vậy. Trận này mà thắng, thì công lao hai vị lớn lắm. Nguyên Trừng có công đầu, quả nhân sẽ mượn cớ “ lấy công chuộc tội ” để tha bổng anh, lại ngầm thưởng sau cũng chưa muộn. Quan trọng là ổn định triều cương, đoàn kết hậu phương để các vị tướng quân an tâm mà ra trận. ”

“ Quân vô hí ngôn, mong bệ hạ ghi nhớ những gì đã nói hôm nay, còn chuyện chinh chiến thì chúng thần xin hết lòng. ”

Hồ Hán Thương vừa cười, vừa nâng hai tướng dậy.

Ba người hàn huyên thêm mấy câu, Khai Đại mới lấy cớ việc quân gấp gáp không thể chậm trễ dù chỉ một khắc, bèn cho hai tướng lui. Còn lại một mình, Hồ Hán Thương mới quăng mình lên đệm, tay mân mê chiếc binh phù bằng đồng xanh.

“ Binh quyền, nắm được mi trong tay quả thực là thích tay. ”

Khai Đại đưa binh phù ra trước ngọn đèn. Ánh lửa cháy phản chiếu lên mặt đồng, hắt từng tia sáng nhè nhẹ vào mắt hắn. Hồ Hán Thương nhẹ nhàng hít vào một hơi, thầm nghĩ:

[ Phụ hoàng ơi là phụ hoàng, con nay đã có binh quyền trong tay, há có thể an phận làm con rối của người nữa?? Hay cho một con rồng không đuôi! Chẳng cần biết mi là thật hay giả, có thể khiến phụ hoàng ta phân tâm thì ắt là thứ tốt. Chờ đến khi đánh đuổi quân Bắc rồi, Khai Đại này sẽ đường đường hoàng hoàng tiếp quản triều chính. Ôi… sướng thật… ]

Nén không nổi một tiếng cười, Hồ Hán Thương gập mình lại, khẽ khúc khích.

Hồ Đỗ Hồ Xạ kéo nhau đi về phía căn lều nơi Nguyên Trừng bị giam. Lúc này đã là canh ba, mảnh trăng treo cao trên đỉnh đầu. Không khí đã lạnh dần, cái lạnh cuối năm quất vào da thịt.

Năm hết, Tết Nguyên Đán đã gần đến rồi. Song binh sĩ thì vẫn phải quật cường dựng giáo nơi sa trường. Đỏ au áo mới, cây nêu đầu làng, miếng bánh chưng xanh ngát, khoanh thịt mỡ thơm lừng, dưa hành chua chua, lại giòn tan tiếng pháo… đối với họ những vậy tạo nên không khí Tết ấy nghe sao mà xa vời quá. Loáng thoáng có tiếng lính thủ trại đi tuần nói với nhau: “ Phen này á, tớ mà lĩnh quân lương về thì kiểu gì cũng phải qua Quốc Tử Giám, xin các cụ một cặp câu đối về chưng trong nhà. ”

Hồ Đỗ Hồ Xạ đều nghe được, cũng thoáng hồi tưởng lại cái ngày còn ở Thăng Long. Tết đến xuân về, ba anh em thêm cả Lục Bình nữa thường mang pháo ra đốt, chạy khắp ba mươi sáu phố phường. Vào đêm ba mươi, tối trời, cũng ngót nghét canh ba như này, thay vì đón giao thừa thì ba đứa lại nghịch ngợm đi săn ma da ma trành. Từng đoạn từng đoạn hồi ức đều vui tươi, ấm áp, trong veo như tia nắng sớm đầu tiên của mùa xuân.

“ Xạ, mày sẽ không thực lòng tin ông ta chứ? ”

Đi được nửa đường, Hồ Đỗ chợt lên tiếng gọi.

“ Tin? Không tin? Giờ còn có tác dụng gì đâu. Chúng ta thắng, thì tướng quốc có cơ may được sống. Mà thua thì ngài ấy chắc chắn sẽ phải chết! Mày xem còn có lựa chọn nào ngoài đánh đây? ”

Hồ Xạ chậm rãi lắc đầu, than thở. Y cũng không ngờ Hồ Hán Thương vốn dĩ chỉ là một ông vua bù nhìn cho thái thượng hoàng Hồ Quý Li lại có tâm cơ sâu như vậy. Y và Hồ Đỗ bị đẩy vào thế cưỡi hổ chỉ trong một buổi chiều, vài câu nói. Nay dẫu biết phía trước là đầm rồng hang cọp, nhưng không xông vào không được.

Y có cảm giác mình như một món đồ chơi bị người ta quay trong lòng bàn tay, không thể tự chủ.

Hồ Đỗ gãi gãi đầu:

“ Tao cũng nghi nghi, mà không ngờ lại nham hiểm như thế. Ahhhhh! Đau đầu quá. ”

“ Mày bớt suy nghĩ lại đi, đầu óc mày không được như người ta đâu. ”

Hai tướng trêu đùa nhau một hồi, áp lực trên vai mới thoáng nhẹ đi phần nào. Lát nữa gặp Hồ Nguyên Trừng, cũng tiện che giấu hơn. Hai người không muốn tả tướng quốc thêm phiền lòng nữa.

Chương 23: Phụ chương: Bàn về người con gái trong đời sống văn hoá Việt Nam (2)

Ngày 8/3, tác giả muốn chúc một nửa của thế giới mãi vui tươi, trẻ trung, xinh xắn. Và quan trọng là sống hết mình, theo cách mình muốn và làm điều mình thích, mãi tin vào điều bản thân vẫn hằng tin tưởng, theo đuổi ước mơ của bản thân đến cùng,

Nhân ngày hôm nay, mình muốn viết một phụ chương bàn về nữ quyền trong văn hoá Việt Nam

Nữ quyền. Đối với xã hội phong kiến trọng nữ khinh nam, nhất nam viết hữu thập nữ viết vô thì nghe sao nó xa vời quá nhỉ? Nước ta chịu ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo Tàu, nhưng lại khác hẳn Trung Quốc về sự ảnh hưởng của phái nữ trong đời sống.

Trong văn hoá dân gian, nước ta theo đạo mẫu. Trái với trung quốc, nơi các nữ thần không có thực quyền quá lớn, thì ở ta ngoại trừ ông trời, tứ phủ đều được đứng đầu bởi các mẫu - là nữ.

Trong đó Mẫu Thượng Thiên Liễu Hạnh - một trong tứ bất tử - còn được phụng thờ rộng rãi hơn cả cha mình. Mẫu Thượng Ngàn đứng thứ hai, thống lĩnh núi non, mọi sản vật và tài sản, sự giàu sang và hạnh phúc, mắn đẻ. Mẫu Thoải thì là chúa vùng sông nước, còn Mẫu Địa Phủ thì cai quản nhân gian và thế giới của người chết.

Nghề dệt, tương truyền cũng do một nàng Mị Nương ( lưu ý, Mị Nương là cách gọi công chúa dưới thời Văn Lang chứ không phải tên riêng) sáng tạo. Trong truyền thuyết, mẹ Âu Cơ là người đầu tiên dạy dân làm thuốc. Cổ tích nước ta từng có nhiều truyện kể về chồng dại vợ khôn, gái ngoan dạy chồng…v.v… trong tích cổ Ao Phật, trong khi đấng mày râu trốn chui trốn lủi trong chùa vì sợ thì bà Am, hiền lành nhất xóm, dám vác đao ra chém đứt cả chân Chằn Tinh.

Nước ta cũng có nhiều nữ thi sĩ như Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan tài hoa chẳng kém đấng mày râu ( dù thời phong kiến việc con gái đi học cực kì hiếm), trong đó hiện tượng nổi lên " ngông " nhất, nghịch ngợm nhất song cũng đặc biệt nhất chính là Hồ Xuân Hương. Những bài thơ của bà như bài quả mít chẳng hạn, nó tục mà không vô duyên, dung dị xuồng xã mà vẫn đầy ý nghĩa.

Trong xã hội phong kiến xưa và nay, nhìn khắp chiều dài lịch sử Trung Quốc, với tam tòng tứ đức của Nho giáo, chưa một nữ sĩ hiếm hoi nào dám vịnh người con gái mà phơi bày tất cả những gì sâu kín nhất như Hồ Xuân Hương.

Trong lịch sử, nước ta từng có nhiều bậc nữ anh hùng, uy linh thần võ nào chịu kém đấng đàn ông đàn ang. Hai bà Trưng, bà Triệu, Bùi Thị Xuân… Hai công chúa nhà Trần tuẫn quốc phá quân thuyền giặc Mông. Nhiều nguồn gốc cho rằng bà Chúa Bơi ( họ Phạm) ngày xưa là người dạy ngón lặn lành nghề cho Phạm Thế Hiển, tức Yết Kiêu sau này.

Hoàng hậu họ Dương nhà Đinh dám cởi áo hoàng bào con trao cho Lê Hoàn, sử Tàu chưa có một ai. Ỷ Lan được Lí Thường Kiệt ủng hộ, buông rèm nhiếp chính hai lần khiến nhà Lí thịnh vượng nhiều năm. Còn sử tàu? Than ôi, nữ nhi anh hào thì ít, mà bình hoa hại nước thì nhiều. Mộc Quế Anh, Hoa Mộc Lan thì chẳng mấy, chỉ toàn thấy nào là Muội Hỉ, Bao Tự, Đắc Kỷ…v.v…

Cũng chỉ có Việt Nam ta, một nước phong kiến nửa phụ hệ ( tính từ sau 1000 năm bắc thuộc), mà dân lại dám mỉa mai đấng mày râu có quyền lực tối cao trong xã hội phong kiến:" Làm trai cho đáng thân trai

Khom lưng uốn gối gánh hai hạt vừng "

Kết luận: có một sự khác biệt lớn giữa nước nam và bắc quốc. Người Trung Quốc cho rằng nữ nhi chỉ cần đẹp, chỉ cần giỏi nữ công gia chánh, chỉ cần đủ tam tòng tứ đức là được. Nên họ chỉ có mĩ nhân ( hay ít ra là họ tự sướng với nhau thế) chứ không có các nữ anh hùng tài sắc vẹn toàn, ra ngoài đánh giặc về nhà đảm đang như ở ta. Có thể thấy câu danh ngôn của các cụ: " giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh " không chỉ đơn thuần là một lời kêu gọi. Nó còn là một sự khẳng định, khẳng định tài năng, khẳng định trí tuệ của người con gái Lĩnh Nam.

Cuối cùng, xin gửi tới các bạn nữ giới bài thơ ngắn sưu tầm được. Không tả những cái liễu yếu đào thơ của nữ giới, mà tập trung vào sự cân quắc anh thư của phái nữ nói chung và hai bà Trưng nói riêng.

Bà Trưng quê ở châu Phong

Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền

Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân

Ngàn Tây nổi áng phong trần

Ầm ầm binh mã tiến gần Long Biên

Hồng quần nhẹ bước chinh yên

Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành

Đô kỳ đóng cõi Mê Linh

Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta

Ba thu gánh vác sơn hà

Một là báo phục, hai là Bá vương

Chương 24: Hồi bảy (5)

Chẳng mấy chốc hai người đã tới chỗ Hồ Nguyên Trừng bị giam lỏng. Vì Nguyên Trừng không học võ nghệ, nên chỉ cần cắt cử mấy binh lính canh chừng là đủ. Bản thân chàng lại không có ý muốn trốn, nên cũng không cần lo người khác sẽ cướp ngục.

Hồ Đỗ trông cái lều chứa củi tồi tàn nằm hớ hênh ở rìa doanh trại, canh phòng lỏng lẻo thì mắng:

“ Làm gì thế này? Ngộ nhỡ đêm hôm Mộc Thạnh cho quân xông tới ám sát tướng quốc thì phải làm sao bây giờ? ”

Hồ Xạ khẽ lắc đầu, không nói tiếng nào hết. Ngay khi đó từ xa bỗng bước lại một đám người. Dưới ánh đuốc rọi sáng, thì té ra là hai người Nguyễn Công Khôi, Nguyễn Tông Đổ và thuộc hạ. Hai người này một để bại trận Mộc Hoàn, một thì thua mất thành Đa Bang, đi cùng nhau đúng là ngưu tầm ngưu mã tầm mã, nồi nào úp vung đó. Hồ Đỗ vừa trông cái mặt câng câng vênh váo của Nguyễn Tông Đỗ là thấy ghét, toan rút rìu ra.

Nguyễn Tông Đỗ cười khinh khỉnh, nói:

“ Hồ Đồ thì muôn năm vẫn cứ là Hồ Đồ, sao hiểu được tầm nhìn sâu xa của thánh thượng? Đây người ta gọi là chốn nguy hiểm nhất chính là nơi an toàn nhất. Ài, củi mục khó đun mà chổi cùn thì khó quét, đúng là chẳng sai. Ngu ngốc như ai đó cũng làm đến được chức thống lĩnh tam quân… ”

Đám người đi theo ai nấy đều hùa theo, nghị luận lớn tiếng ngay trước mặt hai người Hồ Đỗ Hồ Xạ, giọng điệu rất là hống hách. Hồ Đỗ hừ một tiếng, dậm chân vung rìu chém mạnh một nhát. Tông Đỗ rụt vội cổ lại, nhưng quai cài mũ giáp đã bị Đỗ chém đứt.

Hồ Xạ cười khẩy, rồi vẫn với cái kiểu nói chữ thương hiệu của mình, cất tiếng:

“ Đục thành lùa voi, đúng là kế của bậc lương đống hiền năng. Giục ngựa chạy nhanh chẳng ngó ngàng bộ hạ, ấy thực là phong thái của kẻ làm tướng. Để Nguyễn tướng quân ra trận, cũng như năm xưa Triệu vương bỏ Pha lấy Quát (*) vậy. ”

Nguyễn Tông Đỗ nghe mà giận tím tái mặt mũi. Y cũng là người đọc sách, nên chỉ nghĩ một chút là biết Hồ Xạ đang mỉa mai mình. Song đánh thì đánh không lại hai người, y đành phất mạnh tay áo, trước khi bỏ đi còn nói:

“ Thái Bình bị phá, hai người nào đó cũng bỏ chạy thục mạng thôi. ”

Hồ Đỗ Hồ Xạ không muốn chấp kẻ tiểu nhân, nên im lặng chẳng thèm đáp. Thời gian không có bao nhiêu, họ muốn tranh thủ gặp được Hồ Nguyên Trừng nhiều chút nào thì hay được chút ấy.

“ Tả tướng quốc… ”

“ Ngồi đi. ”

Hồ Nguyên Trừng nay chỉ mặc độc một chiếc áo mỏng màu trắng, dù không đeo gông song trông cũng chẳng khác tù phạm là mấy. Trong lều không có đèn đóm gì, Hồ Đỗ phải xin lửa của lính canh để tiện nói chuyện. Mấy người lính còn dặn y cẩn thận củi lửa, rồi mới dúi vào tay Hồ Đỗ một cây đuốc. Củi này củi ướt, khói toả nhiều còn ánh lửa thì không được đượm.

“ Tướng quốc đã biết trước hai đứa tôi sẽ đến? ”

Hồ Xạ thấp giọng hỏi, không tin vào mắt mình.

Hồ Nguyên Trừng không vội đáp mà chờ Hồ Đỗ xin lửa vào, rồi mới ra hiệu hai người ngồi xuống trước mặt mình. So với nửa tháng trước, có nét gì đó buồn buồn, lẫn một chút mỏi mệt vương lại trên gương mặt chàng. Hai đốm lửa leo lét và vàng vọt chăm chăm về phương xa, lởn vởn giữa làn khói mù.

“ Thánh thượng hứa với hai người các ngươi, rằng nếu thắng trận sẽ tha bổng cho ta, có đúng vậy không? ”

“ Tướng quốc đoán việc như thần. ”

Hồ Xạ không dám nhiều lời. Đến tận hôm nay, ngồi ở trước mặt Hồ Nguyên Trừng, y cũng chỉ dám nhận mình có chút khôn vặt mà thôi. Y chóp chép miệng, nuốt khan hai lần. Không khí sao đột nhiên căng thẳng quá. Bàn tay Hồ Xạ trộm đổ mồ hôi. Y quệt vội vào áo, rồi mới gật nhẹ đầu thừa nhận.

Hồ Nguyên Trừng nói tiếp:

“ Giặc Minh thế đã mạnh, Trương Phụ và Mộc Thạnh một kẻ có trí kẻ kia có dũng. Trong khi quân ta lại không được lòng dân, văn thần võ tướng nhà Trần ngoài mặt thì thuận theo, trong dạ e hãy còn hướng về cựu triều. Aizz…

Ta đã suy nghĩ kĩ, nhận thấy lời của hoàng huynh cũng không phải là không có lí. Biểu hiện khác thường của giặc trên chiến trường rất có thể là chiêu che mắt của Trương Phụ, muốn khiến ta cẩn trọng để mà kéo dài thời gian. Cũng như lần trước đánh trận giang chiến, ta dùng kế sắp hình nhân trong rừng vậy.

Hồ Xạ, Hồ Đỗ. Lát nữa cầm quân phải biết khoan dung độ lượng, miễn là không ảnh hưởng toàn cục thì có thể nhún nhường đám Tông Đỗ Công Khôi chút đỉnh. Phải nhớ kỹ lấy câu khôn ngoan đối đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau. ”

Hồ Đỗ vỗ mạnh vào ngực mình, mặt mũi tràn ngập tự tin:

“ Tướng quốc ngài an tâm! Lý Thân thần công của Đỗ đã luyện tới tầng thứ tư, Lữ Bố Hạng Vũ ngày xưa chắc cũng chỉ đến thế mà thôi. Đừng nói là một, cho dù có mười Mộc Thạnh cũng không sợ. Chỉ cần chúng ta thắng trận này, thánh thượng sẽ không dám thất hứa dễ dàng đâu. ”

Hồ Xạ trợn mắt lườm Hồ Đỗ, có ý trách y không được kiêu căng, song tên cầm rìu chỉ gãi đầu cười hềnh hệch. Nguyên Trừng bèn nói:

“ Lý Thân thần công thực là uy dũng vô địch, song cũng không thể coi thường anh hùng thiên hạ. Chúng ta có Lý Thân, nhỡ đâu họ cũng có Lữ Bố thần công, Hạng Vũ thần công thì sao? Hơn nữa nơi này là chiến trường, không thể dựa vào sức một người để xoay vần toàn cục. Lữ Bố được tôn sùng như chiến thần cuối cùng vẫn phải rơi đầu, Hạng Vũ bá vương mạnh mấy cũng bị ép tới đường cùng phải tự tử.

Huống hồ vật đổi sao dời, nay ngoài chiến tuyến còn có sự hiện diện của hoả mai, đại pháo. Hồ Xạ, nhớ phải ngăn Hồ Đỗ lại, không được để hắn làm việc lỗ mãng như lần trước. ”

“ Tướng quốc an tâm, trước khi thằng Xạ này chết, tên Hồ Đồ này chắc chắn sẽ không biến thành chó điên để xổng con mồi lần nữa. ”

Hồ Xạ đập mạnh vào vai Hồ Đỗ, cười trêu. Đỗ thì bĩu môi, phản bác:

“ Được rồi, được rồi. Sơ sẩy một lần thôi mà. Tha cho ta đi được không, lần này nhất quyết sẽ không tái phạm. ”

“ Làm được mới nói nha. Mà đánh sao thì đánh, đập Mộc Thạnh đến tàn phế tứ chi cũng được. Nhưng nhớ để Trương Phụ lại. Lần trước ở Muộn Hải để hắn xổng mất, nay ta phải ném hắn thành cái sàng giải hận thay cho tướng quốc. ”

“ Con mẹ, Hồ Xạ nhà ngươi chớ có học đám quan văn buôn đằng sóng mà bán đằng gió chứ. Tham lập công thì nói toẹt ra đi. ”

Hồ Nguyên Trừng để mặc hai người trêu đùa nhau, không khí mới bớt phần khẩn trương căng thẳng. Trước khi hai người lãnh binh ra trận, chàng lại cố ý dặn Hồ Xạ ba câu.

Lạch nhỏ chớ tiến…

Doanh trống chớ vào…

Lâm nguy chớ loạn.

Cũng trong đêm đó…

Tạng Cẩu đang thiu thiu nằm trên cái xe kéo, mái tóc bù xù của nó chợt bị một bàn tay gân guốc vò lấy vò để. Biết ấy là Quận Gió đã tới, nó bèn choàng dậy:

“ Sư phụ, sáng rồi ư? ”

Hiện lên ở nơi xa là đôi mắt sáng ngời và cái trán dô của Quận. Ông tóm cổ áo Tạng Cẩu, nhấc bổng nó lên mà cười:“ Cái thằng nhóc này, trong kia có giường mà cứ thích ngủ kiểu ăn mày là sao? Tính bị ốm để lười biếng có phải không? ”

Tạng Cẩu cười hì hì, chợt nó phát hiện người Quận Gió thoang thoảng một mùi thơm nhè nhẹ, khác hẳn với thường ngày. Nhưng, nó biết vị sư phụ thần thần bí bí này không thích nó tọc mạch vào chuyện của lão nên cũng không dám hỏi thêm.

“ Gọi hai đứa kia dậy đi, hôm nay tên trộm già cao hứng nên muốn dạy cho mấy đứa thêm vài thứ. ”

Quận cười, rồi thả Tạng Cẩu xuống. Bàn tay trái giấu kín sau tấm áo tơi của ông khẽ run lên, nơi đầu ngón tay máu khẽ rỉ ra đỏ ối. Sắc mặt ông cũng tái hơn bình thường nhiều. Lần đầu tiên kể từ khi hai thầy trò nhận nhau, Tạng Cẩu nghe được tiếng hô hấp của Quận.

Những cao thủ như Quận Gió, thường hơi thở rất đều, chậm và khẽ. Ấy là do nội công của ông đã đến cảnh giới cao sâu khôn lường, lô hoả thuần thanh. Gần như đã thay thế hẳn ngoại hô hấp rồi. Người đứng bên cạnh khó mà nghe thấy nổi. Nay ông đã thở gấp gáp đến độ Tạng Cẩu có thể nghe thấy, chứng tỏ nội lực đã có phần hao tổn.

Tạng Cẩu không nói gì, chỉ đi lay Liễu Thăng với Phiêu Hương dậy. Hai đứa nghe được Quận Gió đã tới, vui như mở cờ trong bụng. Được một tông sư, một trong thất tinh bắc đẩu của võ lâm nước Nam dạy dỗ thực là một kì ngộ khó gặp. Cẩu lại nhắc:

“ Hôm nay sư phụ không được khoẻ lắm, chúng ta đừng hỏi nhiều quá, để người nghỉ ngơi cho lại sức. ”

Ba đứa lục tục gật đầu, đoạn vén liếp lên. Ngoài cửa đã chờ sẵn một người lính. Y chính đang kì tráng niên, hình dáng dữ tợn mà đô con quắc thước.

Tên lính quắc mắt ưng lên nhìn cả ba một lúc, rồi nói:

“ Ba thằng nít ranh, đi theo ta mau lên. Tên trộm này không rỗi việc được cả đêm đâu. ”

Câu đầu ngữ khí nghe thật xa lạ, ngân nga khác nào tiếng chuông cổ mà lại ồm ồm như tiếng cóc kêu. Còn câu sau thì đúng là giọng của Quận Gió.

Ba đứa nhìn thân hình lực lưỡng kia, nghe giọng nói mạnh bạo ấy mà kinh ngạc. Chúng không tài nào liên tưởng nổi hình ảnh bệ ngạn này với tay trộm già lưng còng, giọng êm mà rõ thường ngày vẫn hay dạy chúng võ công.

Bốn người dắt nhau đến dưới gốc một cây, cách doanh trại chỉ mấy chục bước.

Quận Gió để bọn nhỏ ngồi xuống trước cây lớn, bản thân ông thì lách mình vòng qua sau thân gỗ. Mượn cỏ cây và bóng tối che khuất, từng tiếng “ loạt xoạt ”, “ loạt xoạt ” vang lên.

Thế rồi, nhoáng một cái, một người đàn bà bước ra từ nơi Quận vừa biến mất. Trông bà chừng ba lăm - bốn mươi tuổi, ăn bận theo kiểu quý tộc. Tà áo dài màu lam đậm trượt trên mặt cỏ, một dải lụa được thắt ngang ngực để giữ áo sống cho thẳng thớm. Tay ông cầm một thanh đao ngắn, ấy chính là thanh đao mà Phiêu Hương nhờ giữ hộ.

Bọn nhỏ rùng hết cả mình lên, đặc biệt là khi người phụ nữ ấy cất lên tiếng nói the thé, rợn người:

“ Theo mấy đứa đứa nghĩ kẻ mạnh là như thế nào? Thế nào mới được gọi là kẻ mạnh? ”

Ba đứa nhỏ nhìn nhau, không giấu nổi vẻ nghi hoặc trên gương mặt. Quận Gió hỏi chúng câu này là có ý gì đây? Trong đêm, dưới tán cây, Quận Gió - vẫn đang cải trang thành một người đàn bà quý tộc - tủm tỉm cười nhìn bọn nó. Xem ra ông chẳng có vẻ gì định bật mí mục đích của mình cả.

Liễu Thăng biết ông đã không muốn nói thì có gặng hỏi cũng vô ích. Thế là cậu dẫn đầu, lên tiếng ngay:

“ Kẻ mạnh chính là thiên hạ vô địch, cường giả chưởng khống lực lượng tuyệt đối. Bát hoang lục hợp, duy ngã độc tôn! Vô câu vô thúc, khoái ý ân cừu. ”

Quận nghe Liễu Thăng trình bày, chỉ cười khẽ một tiếng rồi không nói gì nữa.

Phiêu Hương nghĩ một chút, rồi thưa:

“ Hữu dũng vô mưu, sao là kẻ mạnh được? Năm đó quân Nguyên Mông hung tàn là thế, mạnh mẽ là vậy, nhưng sang Đại Việt vẫn phải ba lần ngã ngựa. Dù nhà Trần cũng phải trả giá đắt, nhưng dễ thấy dùng trí tuệ có thể bốn lạng đẩy ngàn cân. Trong lịch sử, điều này không hề hiếm. ”

Quận Gió khẽ gật gù, nhưng vẫn không nói một chữ, tiếp tục im lặng. Ông nhìn sang Tạng Cẩu, gặp nó đang bần thần nhìn xuống đất.
Một lúc khá lâu sau, Tạng Cẩu mới nói:

“ Con là đứa ít học, không biết nói sao. Nhưng ai có sức mà tàn ác thì như loài chằn tinh, kẻ có trí mà bụng lươn dạ rắn thì chẳng khác nào Lí Thông. Cho nên, kẻ mạnh là kẻ nhân hậu? ”

Ba đứa nhóc, ba ý kiến khác hẳn nhau về khái niệm “ kẻ mạnh ”, một từ tưởng như đơn giản ấy, lại có mấy người hiểu được cặn kẽ?

Quận Gió vỗ đầu ba đứa, rồi từ tốn:

“ Ba đứa đều có cái lí của mình, nhưng thực ra lại chỉ hiểu được một phương diện của hai chữ “ kẻ mạnh ” mà không thấu được toàn bộ.

Liễu Thăng nói kẻ mạnh phải có sức mạnh, là chữ dũng. Phiêu Hương cãi kẻ mạnh cần có đầu óc, chính là chữ trí. Còn Tạng Cẩu bảo kẻ mạnh không thể thiếu một con tim lớn, thì ấy là nhân. Phàm là người sống ở đời, bất nhân thì thành đảng ác, bất trí thì là phường ngu si, còn như vô dũng thì đa phần trở thành kẻ nói phét. Nhân hậu mà ngu dốt bất tài, ta gọi ấy là kẻ vô dụng. Thông minh song vô dũng bất nhân, sớm sớm đứng trên triều vào chầu thánh thượng đâu có thiếu hạng người này? Còn dũng mãnh mà lại như Lữ Bố thì cuối cùng cũng chỉ chuốc lấy diệt vong, chết rồi còn bị người đời sau phỉ báng muôn ngàn kiếp.

Kẻ mạnh thực sự, là mạnh về cả thể chất, trí óc và con tim. Trái tim là mục đích, cái đầu là phương pháp còn đôi tay là quá trình. Thiếu một cái, đều xôi hỏng bỏng không. ”

Ba đứa nhỏ nhìn nhau… thật lâu không nói tiếng nào… Những lời Quận Gió nói hôm nay thực có ảnh hưởng rất lớn tới thế giới quan sau này của chúng.

Đặc biệt là Tử Tiêm. Cách mà Liễu Thăng nhìn vị tông sư nước Nam nay đã thay đổi hoàn toàn. Cậu đã tâm phục khẩu phục. Không chỉ là tài võ, mà khâm phục cả nhân cách con người của ông.

Liễu Thăng bất giác xấu hổ, thầm chửi bản thân mình hãy còn nhỏ nhen và ấu trĩ quá. Ngoại trừ kẻ ngu ngốc ra, ai dám nói mình mạnh nhất thiên hạ, ai dám nói mình nắm giữ lực lượng tuyệt đối? Nhân vô thập toàn, cường giả mà ai cũng nghĩ như cậu, không hợp mắt là thẳng tay chém giết thì e là thế gian chẳng còn mấy người.

Dân Trung Quốc thực ra cũng có một câu “ đại nhân hữu đại lượng ”, tiếc là không mấy ai hiểu được.

Liễu Thăng đột nhiên quỳ xuống, vái Quận Gió một vái.

“ Nhất nhật vi sư, trung thân vi phụ, tiền bối thực khiến Tử Tiêm mở mang tầm mắt, xin nhận của Liễu Thăng một lạy, ”

Quận Gió khẽ cười, đáp:

“ Ấy chỉ là cách tên trộm này cắt nghĩa hai từ “ kẻ mạnh ” mà thôi. Không hẳn là chính xác, cũng chưa chắc đã hợp với mấy đứa, thế nên cũng đừng gượng ép thu làm của mình. Muốn tự mình lí giải hai từ “ kẻ mạnh ” này, hãy sống… rồi tìm ra câu trả lời cho chính bản thân. Đó, cũng là bài học vỡ lòng mà hôm nay ta muốn dạy cho ba đứa học trò của mình. ”

Tạng Cẩu nghe thế, bèn mừng rỡ vỗ vai Phiêu Hương, Liễu Thăng:

“ Hay quá, sau này chúng ta chung một thầy. Là… cái gì đồng… cái gì sư ấy! ”

“ Là đồng môn sư huynh ( tỷ) đệ. ”

Sau phút bất ngờ ban đầu, hai người bọn Tử Tiêm cùng phì cười mà kí vào đầu Tạng Cẩu. Thằng nhóc đau tới độ nhe răng nhếch miệng, phải vừa la oai oái vừa ôm đầu bỏ trốn.

Phiêu Hương thi triển bộ pháp kì quái, bám riết lấy nó. Liễu Thăng chậm rãi bám theo sau, hươ gậy mà đánh. Đáng thương cho Tạng Cẩu, dù học được bản lĩnh khinh công của Quận, song hoả hầu quá yếu nên vẫn bị đánh cho cuống quýt tay chân.

“ Thằng ngố này!!! Tham thì thâm đây mà… ”

Quận Gió nhướng mày, thấy càng lúc bộ pháp của Cẩu càng loạn xà ngầu thì vừa bực mình lại vừa mừng rỡ. Vui do chọn đúng tên đệ tử chẳng những nhân phẩm tốt đẹp, mà còn là một kì tài luyện võ ngàn năm mới gặp một người. Mặc dù Cẩu mới học Lăng Không Đạp Vân không được mấy ngày nhưng đã nắm được bản chất, chỉ còn thiếu hoả hầu tu luyện. Mà ông lại tức vì nó không hiểu được tính chuyên nhất, tham lam quá độ.

Lăng Không Đạp Vân so với Tuyết Trai kiếm pháp và Nhạc gia thương pháp (*) cao thâm hơn quá nhiều. Thằng nhóc này muốn dung hoà tinh tuý của hai bộ võ công sau vào cái trước, song cuối cùng lại biến khéo thành vụng. Chẳng những không đạt được chút hiệu quả gì, lại còn tự ngáng chân mình. Nước trong đến mấy pha vào rượu vẫn cứ làm loãng, ấy cũng là cái ngu của thiên tài vậy.

Cười khổ, lão vội vàng cởi đồ hoá trang xuống, nháy mắt lại khôi phục dáng vẻ của một tên trộm già gầy nhỏ, với tấm áo tơi quàng vai, nói tre đội đầu.

Tạng Cẩu bị hai người kia trêu ghẹo, đánh một chầu không phản kháng nổi. Tất nhiên đây chỉ là chuyện trẻ con đùa nhau thôi nên nó không bị sao hết, nhưng cũng khá là ấm ức. Bên cạnh đó, trong quá trình này Quận Gió đã nhìn ra được điểm thiếu sót trong võ công của không chỉ mình Cẩu, mà của cả ba đứa.

Quận Gió lấy trong áo ra một viên Quỷ Diện Phi Châu, co ngón tay vận kình bắn thẳng lên tán cây trên đầu. Tiếng gào ma quỷ đánh động bầy chim sẻ đang gà gật ngủ giữa những cành xà cừ, khiến chúng hoảng hồn choàng dậy. Phành phạch… Tiếng vỗ cánh truyền đến miên man như sóng biển, bầy chim tung mình biến mất vào đêm thâu.

Sau đó, rất nhẹ, một vài nhánh cây bị Phi Châu đụng gãy bắt đầu rơi xuống sau lưng ông. Lớn có, nhỏ có, dài ngắn thẳng cong đều không thiếu. Thế rồi phịch một cái, Quỷ Diện Phi Châu rơi ngược trở xuống nền đất, hằn lên một vết sâu chừng nửa đốt ngón tay.

Quận Gió phủi áo đứng dậy, lần mò đống cành cây rồi nhặt hai thanh thẳng nhất, chiều dài vừa bằng một cánh tay. Ông huýt gió một cái, ba đứa nhóc tì mới ngừng trò đuổi bắt nhau lại.

“ Cẩu, sư phụ gọi kìa. ” - Phiêu Hương huých vào đầu vai Tạng Cẩu, khiến nó loạng choạng ngã phịch một cái xuống bãi cỏ. Cô bé trông cái dáng lum cum bò dậy của Cẩu mà cười khúc khích, nói.

(*): ở đây kể chuyện Triệu vương thay Liêm Pha, thế Triệu Quát vào mà binh bại. Cụ thể năm 278 TCN, Liêm Pha làm tướng đem quân về đánh Tề, phá một đạo quân Tề. Năm 276 TCN, Liêm Pha lại đánh thành Kỳ của Tề, lấy được thành. Năm 273 TCN, Liêm Pha lại mang quân đánh đất Phòng Lăng, An Dương của Ngụy, đều lấy được.

Năm 270 TCN, Triệu Huệ Văn Vương chết, con là Hiếu Thành Vương lên ngôi. Năm 263 TCN, Tần Chiêu Tương vương sai Vương Hột mang đại quân đánh Triệu vì Triệu thu nhận đất Thượng Đảng của nước Hàn mà Tần đang vây đánh[1].

Bấy giờ một tướng giỏi khác là Triệu Xa đã chết, Lạn Tương Như lại mắc bệnh nặng, vua Triệu sai Liêm Pha cầm quân đánh Tần.

Liêm Pha ra trận đụng độ với Vương Hột, quân Tần mạnh mẽ mấy lần đánh bại quân Triệu. Liêm Pha biết thế quân Triệu yếu hơn nên cố thủ giữ thành không đánh. Quân Tần mấy lần khiêu chiến, Liêm Pha vẫn không chịu đánh. Vua Tần Chiêu Tương Vương bèn dùng kế phản gián, phao tin rằng:

Tần chỉ sợ một mình Triệu Quát, con Mã Phục quân Triệu Xa mà thôi

Triệu Hiếu Thành vương nghe thế, nghĩ rằng ông nhút nhát không chịu đối trận với quân Tần và Triệu Quát tài hơn ông, nên định cho Quát ra thay ông. Lạn Tương Như can:

Nhà vua dùng Quát cũng chỉ vì nghe danh ông ta cũng như gắn trục đàn mà gảy đàn thôi. Quát chỉ biết đọc sách của cha để lại, không biết ứng biến đâu.

Mẹ Triệu Quát cũng đưa thư nói rằng Quát không thể nối được cha nhưng vua Triệu không nghe, cho Quát làm tướng, ra mặt trận thay Liêm Pha. Kết quả tới năm 260 TCN, Triệu Quát bị tướng Tần là Bạch Khởi đánh đại bại ở Trường Bình. Quát tử trận, hơn 40 vạn quân Triệu bị chôn sống.

Thừa thắng, năm 259 TCN, quân Tần vây kinh đô Hàm Đan của nước Triệu hơn một năm, nước Triệu nguy cấp vì tổn hại lớn về nhân sự. Nhờ có các nước Sở, Ngụy đến cứu nên mới giải được vây ở Hàm Đan (258 TCN)

(*) Nhạc gia thương lưu truyền giang hồ nhiều năm, đã nảy sinh ra nhiều biến thể, tạp mà không còn tinh nữa nên mới nói thua xa thần công của Quận Gió. Dầu sao Lăng Không Đạp Vân cũng là thứ hư cấu, không dám tuỳ tiện so sánh với võ học có thực để tránh tội bêu xấu tiền nhân.

Chương 25: Hồi bảy (6)

Liễu Thăng khoanh tay ngang ngực, không nói một lời. Cậu cũng đoán rằng Quận Gió sẽ gọi riêng Tạng Cẩu để truyền thụ thần công như thường ngày.

Lật đật chạy về phía Quận Gió, Tạng Cẩu hấp háy mắt nhìn ông, hỏi với vẻ chờ mong. Nó thầm nghĩ nếu hôm nay Quận lại dạy nó võ công, thì lần sau nó sẽ trả đũa Thăng và Hương một bận.

“ Sư phụ, hôm nay ta học môn gì? Á!!! Đau… sư phụ tha con… ”

Sau đó… chỉ nghe tiếng kêu la oai oái của Cẩu. Tay nó khươ loạn, chân giãy lung tung còn miệng méo xẹo đi trông đến là buồn cười.

Quận Gió nghiến răng, dùng tay nhéo mạnh tai của Cẩu đến khi vành tai thằng bé đỏ chót lên như mông khỉ mới thôi. Đương nhiên, là một tông sư võ học nên Quận khống chế sức tay rất vừa phải. Ngoại trừ chút đau đớn thì không gây thương tổn gì cho Tạng Cẩu cả.

“ Thằng ngố này, làm mất hết mặt mũi sư phụ mày! Lăng Không Đạp Vân ta dạy luyện tới nơi chưa? Nội công đã được chút hoả hầu nào rồi??? Liệu hồn mà luyện khinh công cho đàng hoàng đi rồi hẵng mơ học tới cái khác. ”

Bị mắng cho một trận té tát, Tạng Cẩu chỉ biết ôm vành tai nóng bừng, lủi thủi lui ra chỗ bãi cỏ. Phiêu Hương chạy sát theo sau, nhéo nhéo má trêu nó. Chỉ có Liễu Thăng là đứng nguyên tại chỗ.

Quận Gió vuốt nhẹ chòm râu, hắng giọng hỏi:

“ Liễu Thăng, còn đứng đó làm gì? ”

Dưới bóng phủ của cái nón tre tả tơi, nơi đáy mắt ông thoáng hiện lên một nét cười thần bí. Đây đúng là điều mà ông mong chờ ở Liễu Tử Tiêm.

Như ngộ ra được thứ gì đó, Liễu Thăng không đi theo hai người Hương, Cẩu mà từ từ bước về phía ông. Đến trước mặt Quận, cậu từ từ quỳ một gối, dõng dạc.

“ Liễu Thăng ắt không phụ kì vọng của sư phụ, khiến thần công phái ta được phát dương quang đại! ”

“ Ô? Vì lí gì nhóc lại nghĩ tên trộm này sẽ truyền nghề cho nhỉ? ”

Quận Gió nghiêm hẳn sắc mặt. Đôi mắt ông trợn lên, sáng quắc như mắt chim cắt.

“ Sư phụ mắng… Tạng Cẩu xong, bất quá không nói gì thêm… cũng chẳng gọi Phiêu Hương. Lại thêm hôm nay nhận Tử Tiêm, nên mới đoán vậy. ”

Liễu Thăng lắp bắp nói bằng thứ tiếng Việt chưa sõi của mình.

[ Liễu Thăng đã không còn là tên thiếu niên lỗ mãng nọ nữa. Nay đã biết nghĩ trước khi làm rồi. ]

Quận Gió lấy đó làm mừng, tán thưởng:

“ Không tệ, ít nhất bắt đầu biết nghĩ trước nghĩ sau. ”

Rồi ông quăng một cành xà cừ cho Liễu Thăng. Có căn cơ võ học vững chắc nên cậu bắt được ngay. Nếu là Tạng Cẩu thì ắt sẽ lúng ta lúng túng, rồi lóng ngóng đánh rơi cành cây.

Nhẹ đưa cành cây ra sau lưng, ông nói:

“ Trước khi ta truyền thụ cho nhóc bộ bổng pháp này, nhóc phải thề độc sẽ tuân thủ ba điều. Một: không được truyền thụ thần công kẻ gian xảo, tiểu nhân, nguỵ quân tử, cả đời chỉ được dạy ba đồ đệ. Hai: không được dùng bổng pháp sát hại bất kì một con dân nước Nam nào. Ba: mỗi năm vào ngày mười tám tháng giêng phải thắp ba nén nhang cho người đã sáng tạo ra bộ bổng pháp này. Nếu vi phạm một trong ba, đích thân Quận Gió này sẽ đánh chết nhóc! ”

Quận Gió nhắc lại thật chậm vài lần, Liễu Thăng rốt cuộc cũng hiểu hết. Cậu bèn đấm lên ngực mình ba cái, khảng khái.

“ Tử Tiêm xin thề sẽ thủ kỹ ba điều răn của sư phụ. Nhược bằng trái lời, không cần sư phụ động thủ bẩn tay, Liễu Thăng xin tự tận. ”

“ Được! Nhớ kỹ lời thề hôm nay. Bộ bổng pháp này tên là Bạch Đằng Giang, do Tiền Ngô Vương Ngô Quyền sáng tạo ra, có tổng cộng bốn mươi tám chiêu, xoay quanh bốn yếu quyết chính: ẩn, khoái, phong, hiểm. Lúc dùng phải vận lực của đôi chân để đánh, chuyên nhắm vào các yếu huyệt như hầu, thận du, phế du, tâm du…v.v… ”

Miệng nói, tay làm. Quận Gió múa cành cây tít mù, chiêu nào chiêu nấy đều đột kích từ dưới lên trên, hoàn toàn không giống các loại bổng pháp thông thường mượn lực từ trên xuống hay vòng ngang để sát thương địch thủ.

Liễu Thăng nhìn Quận Gió thi triển bổng pháp mà ngơ ngác chấn kinh, ngây ngẩn cả người. Bạch Đằng Giang có bốn mươi tám chiêu, song nếu không đột kích nhược điểm thì phong bế huyệt đạo, hoặc khoá chặt kiềm toả. Hoàn toàn không có một chiêu nào để phòng thủ hết.

Đạo lí lấy công làm thủ ấy đã được nhiều môn võ vận dụng. Nhưng chẳng mấy người hoà nó vào từng chiêu từng thức rồi phát huy đến mức tột đỉnh được như Ngô Quyền. Nói Bạch Đằng Giang đơn giản mộc mạc thì không hẳn là đúng mà bảo cao thâm khôn lường cũng chẳng phải chính xác.

Ngọn bổng đánh ra hiểm và nhanh gọn, dứt khoát không rườm rà chút nào. Lúc súc thế vận lực thì êm đềm như mặt sông, còn khi bạo phát thì sát cơ bốc lên ngút trời chỉ trong tích tắc. Một khi bắt đầu chống đỡ, lập tức sẽ rơi vào thế bị động hoàn toàn. Cậu có thể tưởng tượng ra cảnh mình bị khoá chặt giữa bóng gậy ngập trời, như con thuyền hãm thân trong trận địa cọc tua tủa, tiến lui đều không được. Còn ngọn bổng như đoàn thuyền nhỏ, lặng lẽ tập kích bất ngờ.

Đoạn, Quận Gió thét dài một tiếng, ngọn bổng đột nhiên từ nhanh hoá chậm, uyển chuyển như những làn nước trên sông, ì oạp vỗ mạn thuyền hết đợt này tới đợt khác. Song, chậm rãi là vậy, nhưng nó lại cứ nhè những góc hết sức bất ngờ mà đánh, khiến đối phương không kịp trởtay.

Dù Liễu Thăng không biết năm xưa Ngô Quyền Ngô Tiền Vương đã dựa trên chiến thắng Bạch Đằng huyền thoại để mà sáng tạo ra bộ bổng pháp này, song cũng mường tượng ra được ý cảnh của nó. Là người làm tướng, cậu không khỏi thấy chiến ý sôi trào. Bất tri bất giác mà chân đã bước, tay đã vung, bắt đầu vừa nhìn vừa đánh theo Quận Gió lúc nào không hay. Cơn đau gãy chân như bị cậu quên khuấy đi mất, hoàn toàn đắm chìm trong dòng chảy của chiêu thức.

“ Chiêu cuối cùng, cũng là sát chiêu chiến thắng: máu nhuộm Bạch Đằng! ”Quận Gió đột nhiên lật nhẹ cành gỗ trên tay, làm nó xoay tròn nửa vòng, đầu dài hướng ra sau. Mà bản thân lão thì lại quay mặt đi, nếu đây là thực chiến thì lưng sẽ giơ ra chỗ địch. Trong lúc so chiêu đọ thức thì đây là đại kị của đại kị. Quái chiêu này khiến Liễu Thăng giật nảy người, gậy gỗ trong tay theo bản năng cũng ngừng lại không dám bắt chước theo nữa.

Liền ấy, Quận Gió chợt vận sức vặn eo, thúc ngược cây gỗ ra sao theo phương chếch chéo lên. Một cú đâm cực kì bất ngờ và hiểm ác nhắm ngay vào phần nách kẻ địch.

Song chiêu này hãy còn chưa kết thúc. Quận khẽ lật cổ tay một cái, xoay gót, chuyển eo nghiêng người về phía ngược lại.

Vụt!!!

Một cú đâm nhanh khác được tung ra, vẫn theo phương chếch chéo lên nhưng lại đánh ra từ phía sườn còn còn lại của cơ thể. Chiêu này có thể nhắm vào mạng sườn, hoặc nếu chiêu trước trúng đích thì nơi lĩnh đòn sẽ là huyệt thái dương của kẻ địch.

Lúc xoay mình thì nhẹ nhàng uyển chuyển như sóng nước, lúc đâm ra thì mạnh mẽ nhanh gọn tựa cọc chông. Chiêu thức Máu Nhuộm Bạch Đằng quả thực đã hội tụ tinh hoa của bốn mươi bảy thức trước vào một, phát huy nó đến mức tột đỉnh cao thâm.

Hai cú đã đủ hiểm, nhưng Quận vẫn chưa dừng lại. Lão trơn tru chuyển mình không ngừng, dù chẳng hề quay mặt lại nhìn đối thủ nhưng bổng trong tay thì cứ đâm ra liên tiếp liên tiếp khác nào thuỷ triều lên xuống trên sông Bạch Đằng. Ông đánh càng lúc càng nhanh, khiến Liễu Thăng chẳng còn nhìn rõ được cành cây nữa, chỉ thấy hai cái bóng mờ mờ liên tục được hất ra từ sau lưng Quận. Cứ như sau lưng ông chợt nhô ra cả một trận địa cọc trông vậy. Trông cảnh ấy mà cậu rợn cả người.

Cũng may mỗi lần đánh xong, ông đều cố ý khựng lại một chút cho cậu nhìn. Chứ nếu đánh hết sức, thì hết đòn này đến cú khác sẽ nối tiếp nhau không ngừng dội mạnh vào người, khác nào nước triều lên xuống. Khi ấy thì chỉ nội việc nhìn kỹ chiêu số còn khó, chứ đừng nói tới việc tiếp thu học hỏi.

Liễu Thăng còn phát hiện nơi đầu mũi bổng của Quận tấn công không hề giữ nguyên mà lên cao xuống thấp, thay đổi uyển chuyển nhịp nhàng thật là khó đoán. Nếu như đối phương lao tới chỗ ông để đánh lén, thì các trọng huyệt Cự Khuyết, Cưu Vĩ, Thần Khuyết, Quan Nguyên. Trung Cực, Chương Môn… sẽ bị điểm ngay.

Cuối cùng, với một tiếng quát lớn, Quận tung mình xoay ngược lại, thanh bổng vụt chếch lên một phát như trời giáng. Cứ theo độ cao mà xét, thì cú đập dứt điểm này nhắm vào hai huyệt Phong Trì chỗ sau dái tai và Nhân Nghênh ở cổ. Đó đều là hai huyệt trí mạng, nếu Phong Trì trúng đòn sẽ khiến khu diên tuỷ tổn thương mà bất tỉnh thì Nhân Nghênh khiến khí huyết ứ đọng, đầu óc choáng váng.

“ Chiêu thức thì ta đã đánh xong, lĩnh ngộ ra sao là tuỳ ở nhóc. Song phải nhớ kỹ Ngô Tiền Vương sáng tạo ra bộ võ công này là để bổ sung khiếm khuyết cho sở học của bản thân, nên bộ bổng pháp này tồn tại một sai lầm trí mạng. Nhiệm vụ của nhóc là tìm ra chỗ hổng đó rồi tự chám vào. Ngày mai ta sẽ chép cho một phần khẩu quyết về học thuộc, xong phải đốt ngay. Chớ có quên ba điều mình đã thề. ”

Quận tiện tay ném cành xà cừ xuống đất, nội lực hùng hậu khiến nó đâm lút xuống non một nửa. Ông phủi phủi tay mình, lại nói:

“ Qua đó luyện thêm với Cẩu, rồi gọi con bé Hương qua đây. ”

Liễu Thăng gật đầu như chống bói, trong dạ thì âm thầm mừng rỡ. Cậu bèn hớt hơ hớt hải chạy qua chỗ Tạng Cẩu với Phiêu Hương, tay nắm chặt cây gậy gỗ xà cừ. Liễu Thăng thấy rất hào hứng, không đợi được muốn thử bài võ mới nên chạy càng guồng chân. Lúc này Tạng Cẩu với Phiêu Hương đang luyện khinh công dưới ánh trăng.

Quận Gió lấy thanh đao trao cho Phiêu Hương:

“ Đao pháp, bộ pháp, nội lực con được truyền môn nào cũng cao thâm vô cùng, tay trộm này nhiều lời thì lại không tôn trọng y. Song thanh đao của con không phải vật phàm, nên càng phải cẩn thận kẻ có lòng tham chiếm bảo. ”

Cô bé nhẹ nhàng đưa tay nhận lại thanh đao. Lớp vàng nơi cán đao nay đã biến sang màu trắng, bóng lên như tuyết. Vỏ đao khảm ngọc cũng được thay bằng một chiếc vỏ sắt nặng trình trịch.

Phiêu Hương nhẹ nhàng rút đao. Tiếng lưỡi đao trượt khỏi vỏ nay càng thêm bổng thêm thanh. Mép đao đen bóng phản chiếu ánh trăng bạc, ánh sáng loé lên sắc đến độ tưởng như có thể cắt đôi được dòng nước. Hai ngôi sao nhẹ nhàng toả sáng, cánh hoa đào ướt sương hé nở giữa đêm… Trong veo tiếng chuông reo nhẹ nhàng truyền đi trong trời đêm.
Quận Gió nhìn ba đứa đồ đệ nhỏ của mình, trong đôi mắt già thoáng hiện lên vẻ hoài niệm. Thấy cảnh ba nhóc chạy nhảy lăng xăng, so quyền luyện cước, cãi nhau ì xèo… mà nơi khoảnh đất xa xa phía chân trời kia, nhành cỏ thơm chậm rãi nhú lên mầm mới.

Chú thích:

Huyệt Phế du:

Vị trí: Tại mỏm gai đốt sống ngực thứ 3, ngang ra 2 bên lưng 4cm.

Khi bị đánh trúng: Đập vào động mạch xương sườn thứ 3, tĩnh mạch và thần kinh, chấn động tim, phổi, phá khí.

Huyệt Tâm du:

Vị trí: Tại mỏm gai đốt sống ngực thứ 5, ngang ra 2 bên lưng 4cm.

Khi bị đánh trúng: Đập vào thành tim, phá huyết, thương tổn khí.

Huyệt Thận du:

Vị trí: Tại mỏm gai đốt sống eo lưng thứ 2, ngang ra 2 bên lưng 4 cm.

Khi bị đánh trúng: Đập vào quả thận, tổn khí cơ, dễ dẫn đến liệt nửa người.

Huyệt Cưu vĩ:

Vị trí: Trên rốn 15cm.

Khi bị đánh trúng: Đập vào động mạch vách bụng, tĩnh mạch, gan, mật, chấn động tim, đọng máu, có thể gây tử vong.

Huyệt Cự khuyết:

Vị trí: Trên rốn 9cm.

Khi bị đánh trúng: Đập vào gan, mật, chấn động tim, có thể gây tử vong.

Huyệt thần khuyết:

Vị trí: Tại chính giữa rốn.

Khi bị đánh trúng: Đập vào thần kinh sườn, chấn động ruột, bàng quan, tổn thương đến khí, làm thân thể mất đi sự linh hoạt.

Huyệt Quan Nguyên:

Vị trí: Dưới rốn 7cm.

Khi bị đánh trúng: Đập vào động mạch vách bụng dưới, tĩnh mạch và thần kinh sườn gây chấn động ruột, khí huyết ứ đọng.

Huyệt Trung cực:

Vị trí: Dưới rốn 10cm.

Khi bị đánh trúng: Đập vào động mạch vách bụng, tĩnh mạch và chấn động thần kinh kết tràng chữ S, thương tổn khí cơ.

Huyệt Chương môn:

Vị trí: Tại tuyến giữa nách, mút cuối xương sườn nổi số 1, khi co khuỷu tay khép vào nách, nó nằm ngang với đánh cuối cùng của khuỷu tay.

Khi bị đánh trúng: Vì phía trong bên phải là gan, nghiêng phía dưới là lá lách, nên khi bị đánh trúng sẽ đập vào gan hoặc lá lách, phá hoại màng cơ xương, cản trở sự lưu thông của máu và tổn thương đến khí.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau