THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 16 - Chương 20

Chương 16: Hồi sáu (2)

Trương Phụ chẳng còn tâm tình nào mà ăn ngủ, thấy Tạng Cẩu đi vào cũng chỉ ngẩng lên xem một cái rồi không thèm đoái hoài gì tới nó nữa. Tạng Cẩu nhân lúc này, nói:

“ Trương nguyên soái… tôi… ”

“ Được rồi, thám báo đã cáo tri cho ta về chuyện của cậu và Liễu Thăng. Làm tốt lắm, lại lập một đại công nữa. Sau khi chinh nam thành công, thánh thượng tự sẽ luận công mà ban thưởng. Ta bây giờ còn bận việc quân, không rảnh tiếp chuyện. ”

Trương Phụ lạnh nhạt khoát tay mấy cái tỏ ý trục khách, sau lại vùi mặt vào nghiên cứu chồng binh thư để ngay bên xấp chiến báo dày cả gang tay.

“ Nguyên soái, đây là người tỉ tỉ tôi thất lạc từ tấm bé. Trong trận vừa rồi bị Liễu tướng quân bắt. Nay xin lấy hai đại công để đổi mạng cho tỉ ấy, không biết có được không? ”

Tạng Cẩu nhanh mồm giải thích, lại đẩy nhẹ Phiêu Hương một cái. Nó trợn mắt lên lườm cô, nói như quát:

“ Còn không mau cho Trương nguyên soái xem mặt đi. ”

Phiêu Hương vâng dạ như đã bàn trước, rồi từ từ kéo tấm khăn trùm xuống. Gương mặt cô dần lộ rõ bên dưới sự che phủ của miếng lụa rách tơi tả.

Trương Phụ khẽ giật mình, không ngờ trên đời lại có một dung nhan giống với vầng trăng đến thế. Chi chít trên làn da trắng bệt bệnh hoạn là những vết rỗ, lợn cà lợn cợn rặt những mụn cóc. Dưới cằm và hai bên má còn có đôi chỗ làn da tróc xuống, lở loét chỉ nhìn thôi cũng thấy rợn người.

Tạng Cẩu tỏ vẻ luống cuống, vội nhấn đầu Phiêu Hương xuống.

“ Trương nguyên soái, xin thứ lỗi. Tỷ ta hồi nhỏ bị đậu mùa, có tật trên mặt, nên… ”

“ Thôi! Thôi! Ta chấp nhận! Mau đưa nó đi cho khuất mắt ta. Chỉ nhìn thấy mặt thôi là muốn phát bệnh rồi. ”

Hai đứa líu ríu vâng dạ, rồi vội vàng lui ra khỏi soái trướng.

Tạng Cẩu dẫn Phiêu Hương về trướng bồng bỏ trống của Liễu Thăng. Hai đứa đã bàn trước với nhau là Phiêu Hương trông cao ráo hơn, làm chị mới không dễ bị lộ tẩy. Tạng Cẩu đang giả làm trẻ lên bốn, tất nhiên không dị nghị gì.

Khẩu phần của tù binh trong Minh doanh gồm có cơm khê và nước trắng, cô bé họ Lê chỉ ăn được mấy miếng liền không chịu nổi. Tạng Cẩu san phần của mình cho cô, còn nó thì nhai cơm xấu. Hai người vừa ăn, vừa thấp giọng chuyện trò bằng tiếng Việt.

“ Giặc Minh đúng là keo kiệt, thứ này còn khó ăn hơn mấy con cá cháy của đằng ấy nữa. ”

“ Nói bé thôi, chết cả nút bây giờ. ”

Tạng Cẩu vừa bốc cơm, vừa cảnh giác vén cửa lều lên nhìn nghiêng ngó dọc. Nó không vì đang nói chuyện với Phiêu Hương bằng tiếng Việt mà dám buông lỏng cảnh giác, bởi trong quân ngũ đông tới mấy vạn người rất có thể sẽ có vài người nghe hiểu ngôn ngữ của hai đứa.

“ Thật ra ở nơi này cũng tốt lắm. Không phải lang thang khắp nơi, còn có cơm để mà ăn, có người dạy võ cho mà học. Bây giờ người ta đánh nhau sứt đầu mẻ trán, đi trên đường chẳng biết lúc nào bị lôi ra chém đầu. Tớ thấy Hương cũng nên tìm cơ hội chuồn về nhà mau đi là hơn. ”

“ Này, ý đằng ấy là nói ta là hạng nhát gan hay sao?? Cũng không ngại nói cho đằng ấy biết, chiến tranh giết chóc đều là do giặc phương bắc gây ra, người Nam ta chỉ phản kháng tự vệ mà thôi. Đằng ấy không thấy ở cùng người ngoại quốc đánh người đồng tộc là sai ư? Ta thấy đằng ấy cũng nên bỏ sáng theo tối đi thôi. ”

Phiêu Hương sẵng giọng lại cãi, rõ ràng cảm thấy tức giận vì những gì Tạng Cẩu vừa nói.

“ Nếu như Lê Quý Li không cướp ngôi vua Trần, người phương Bắc cần phải xuống đây ư? ”

Tạng Cẩu cũng không chịu phục. Nó nhớ lại những gì người già trong làng hay tán phét với nhau trong lúc nghỉ trưa uống chè, bèn đọc lại vanh vách để phản bác.

Phiêu Hương hếch mũi, hứ một cái, nói:

“ Đằng ấy còn ngây thơ lắm. Nói cho đằng ấy biết nhé, cho dù… Hồ Quý Li không đăng cơ xưng đế thì giặc Minh cũng sẽ xâm lấn bờ cõi Đại Ngu ta mà thôi. Chúng thòm thèm đất đai sản vật nước ta đã mấy chục đời, muốn biến nước ta trở thành châu Giao Chỉ dưới quyền quản hạt của chúng đâu chỉ nghìn năm? ”

Hai đứa nhỏ dùng ý kiến của người lớn để phản bác lại quan điểm của đối phương, cái hiểu được cái thì không. Tuy nhiên, những lời Phiêu Hương mới nói là nghe được từ chính Hồ Nguyên Trừng, còn Tạng Cẩu chỉ là ý kiến của mấy ông nông dân quanh năm chân lấm tay bùn nên chẳng mấy chốc mà cậu bé đã đuối lí.

Nó đã hơi bị đánh động, nhưng lại nhớ về cảnh rừng thây sông máu do quân của Mạc Thuý gây ra. Nhất thời lòng phẫn hận đối với quân Hồ trong Tạng Cẩu lại bùng cháy. Song lại đuối lí không biết nói gì, nên thằng bé dứt khoát chơi cùn, không đoái hoài gì tới Phiêu Hương nữa.

Cô bé gợi chuyện mãi, chán quá bèn lăn ra giường trùm chăn mà ngủ. Tạng Cẩu ra khỏi trướng bồng, leo lên cỗ xe của nó nằm ngắm sao.

Hai đứa nào có ngờ lúc trời tối nhất chính là giây phút ngay trước bình minh, và khoảnh khắc nguy hiểm nhất chính là lúc người ta nghĩ mình đã an toàn.

___o0o___

Mới tờ mờ sáng, một tiểu binh đã chạy tới đánh thức Tạng Cẩu.

“ Cẩu… huynh đệ. Trương nguyên soái cho mời cậu và tỷ tỷ đến soái trướng gấp, có việc quân cơ khẩn yếu cần bàn bạc. ”

Tạng Cẩu chẳng hiểu gì cả, nhưng nó đánh hơi thấy có điểm bất thường trong chuyện này. Nếu là việc quân cơ, tại sao còn gọi cả Phiêu Hương cùng tới? Nhưng hiện tại hai đứa đã leo lên mình cọp, sao trèo xuống được nữa?

Tạng Cẩu nuốt khan một cái, vội vàng đánh thức Phiêu Hương dậy. Đợi lúc cô bé đeo mặt nạ da người cẩn thận ngay ngắn xong, hai đứa mới đi đến soái trướng. Trong lòng thấp thỏm lo âu, nhưng Tạng Cẩu vẫn thu hết can đảm vén tấm liếp che cửa lều lên. Trương Phụ và Mộc Thạnh đã phân chia ngồi ở chủ vị, hai bên tả hữu là các tham tướng. Liễu Thăng dù đang bị thương nhưng vẫn góp mặt.

Tạng Cẩu chặc lưỡi một cái, sự việc xem chừng còn nghiêm trọng hơn nó tưởng nhiều. Nó nhìn Phiêu Hương một cái, hơi lộ vẻ áy náy trong ánh mắt. Sự sống chết của hai đứa giờ nằm cả trong tay những người đang ngồi trong phòng, mà cụ thể hơn là ở người anh kết nghĩa của nó.

“ Trương nguyên soái, Mộc nguyên soái, các vị tướng quân. Không biết hôm nay gọi tỷ đệ ta đến có việc gì sai bảo? ”

Tạng Cẩu cố gắng tỏ ra bình tĩnh, nhưng mồ hôi đã nhuộm ướt cả hai lòng bàn tay. Ánh mắt hung ác của Mộc Thạnh, cái nhìn bình thản của Trương Phụ đem lại cho nó áp lực cực lớn. Tràng cười nói của đám tham tướng hiển lộ tất cả những gì xấu xí và dơ bẩn nhất trong nội tâm chúng.

Chỉ có Liễu Tử Tiêm là trợn tròn mắt lên nhòm thẳng vào Tạng Cẩu, mục quang sắc bén vô cùng. Cậu ta lia mắt sang Phiêu Hương đứng kế bên Tạng Cẩu, tay đặt dưới cằm ra chiều suy tư lắm.

Trương Phụ lên tiếng:

“ Tạng Cẩu, là thế này, lai lịch tỷ tỷ của cậu có chút vấn đề nên ta muốn kiểm tra lại. Hi vọng cậu sẽ biết điều một chút. ”

Chim từng gãy cánh ắt sợ cành cong…
Trương Phụ vừa thảm bại ở Muộn Hải, sợ nhất là trong lúc đang chỉnh đốn lại đại binh mà có gian tế tranh thủ trà trộn vào quân doanh. Khi đó, ngộ nhỡ trên chiến trường bị tập kích một nhát dao, rất có thể sẽ xong đời.

Cô “ tỷ tỷ ” này của Tạng Cẩu đột ngột xuất hiện trong doanh ngũ, lại ngay vào thời điểm nhạy cảm như vậy đúng là đáng ngờ.

Trương Phụ thậm chí còn hoài nghi khả năng đối phương thí xe giữ tướng, dùng Thái Bá Nhạc làm vật hi sinh để Tạng Cẩu thuận lợi chiếm được lòng tin của quân Minh. Sau đó… vì vướng víu Liễu Thăng cảnh giác nên tên gian tế Tạng Cẩu mới nhân cơ hội này đem đồng bọn tới.

Lại nói, lúc đầu thân thế của Tạng Cẩu thực sự quá mơ hồ.

Dọc sông Phú Lương có biết bao nhiêu là thôn nhỏ như thôn Điếu Ngư, thậm chí đánh mấy tháng trời mà phòng tuyến quân Hồ vẫn chưa bị xuyên thủng hẳn, mất một cái ai mà tra nổi?

Cứ thế suy luận, Trương Phụ càng cảm thấy tin tưởng hơn vào phán đoán của bản thân. Y lập tức đến gặp Mộc Thạnh, nói tường tỏ chuyện này.

Nghe được Tạng Cẩu rất có thể là con át chủ bài Hồ Nguyên Trừng giấu trong quân ngũ, Mộc Thạnh cũng phải đổ mồ hôi. Càng nghĩ, y càng thấy rợn người vì tràng khổ nhục kế sâu khôn lường này.

Từ việc ngu ngốc đục thành lùa voi, thí tướng, đến quân Minh thất bại ở Muộn Hải… Xâu chuỗi những sự kiện ấy lại, tự nhiên lại tạo thành một trường âm mưu kinh khủng nhất.

Tạng Cẩu là anh em kết nghĩa với Liễu Thăng, biết được việc quân cơ của quân Minh cũng chẳng có gì lạ.

Hiểu lầm liên tiếp hiểu lầm, từ một hành động tìm đường sống của Tạng Cẩu thoắt cái trở thành một trường âm mưu kinh khủng được “ Hồ Nguyên Trừng ” “ sắp đặt từ trước ” để huỷ diệt quân Minh.

Mộc Thạnh đang muốn chất vấn, thì một tham tiếng đã cất tiếng:

“ Tạng Cẩu, có thể để tỷ tỷ của cậu qua đây không? ”

Mọi người đồng thời nhìn qua, thì té ra chẳng ai khác ngoài Lý Bân - người bị Trương Phụ tống một đá ngay chỗ hiểm hôm đánh bại quân Hồ. Mộc Thạnh khẽ cắn răng, song lúc này các tướng đang thẩm vấn hai đứa Tạng Cẩu nên lão ta cũng không tiện lên tiếng nạt người nhà.

Để cho tròn vai “ dân nữ ”, ngay từ khi vào trướng soái Phiêu Hương đã cố ý tỏ ra sợ sệt và dè dặt. Cô cứ cúi gằm đầu xuống nhìn mũi giày của mình, không dám ngó xuôi liếc dọc chút nào.

Tạng Cẩu giả ý vỗ vai Phiêu Hương mấy cái, cô mới rụt rè bước chậm về phía tay tham tướng vừa lên tiếng. Cứ đi vài bước, Phiêu Hương lại run lên một cái như bị cảm.

Lý Bân nổi tiếng háo sắc ham tài như mạng sống. Y tằng hắng một cái, nói:

“ Cởi khăn che đầu xuống… ”

“ Tham tướng, tôi… ”

Phiêu Hương giật mình, trong tâm dần hình thành một dự cảm chẳng lành. Nhưng trước sự chứng kiến của toàn thể tướng soái quân thù, do dự đồng nghĩa với thừa nhận suy đoán của họ là đúng, và điều này thì tương đương với cái chết.

Nhẹ nhàng rút dải lụa rách xuống, một mái tóc mây đen nhánh trút xuống đôi vai gầy như một dòng sông tuyệt mĩ. Để bên cạnh nó, ngay cả dải lụa thượng hạng kia như cũng trở nên thô kệch, cứng ngắc.

Lý Bân tiếp lấy dải lụa, lại thừa cơ luồn tay ngắt lấy một sợi tóc của Phiêu Hương. Y đặt sợi tóc ngang mũi, hít mạnh một hơi rồi lim dim mắt ra chiều sảng khoái lắm.

Phiêu Hương lùi lại một bước, ánh mắt sắc như đao bén nhìn chằm chặp vào tay họ Lý. Hành động vừa rồi là khinh bạc, vũ nhục phẩm giá của một tiểu thư đài các như cô.

Lý Bân bĩu môi, nói:

“ Lườm cái gì mà lườm, được bổn tướng quân để ý la cái phúc phận mà ngươi tu từ kiếp trước. Đúng là lớn lên ở nước Nam man di mọi rợ, không biết phép tắc tôn ti trên dưới trái phải gì sất, phải dạy dỗ lại một phen! ”
Nói rồi cũng không đợi Phiêu Hương phản ứng, năm ngón bàn tay trái đã cong lại thành ưng trảo, chộp thẳng đến trước ngực cô. Vừa xuất chiêu, y vừa cười cười một cách đầy dâm tà ác ý. Những tưởng tượng đen tối trong đầu như in hằn ra ngoài mặt.

“ Á!!!! ”

Đến nước này thì Phiêu Hương đã không còn kiềm chế nổi nữa. Con giun xéo lắm cũng quằn, chó cùng còn biết dứt rậu. Đối phương rõ ràng không có ý định kiểm tra, mà là muốn phá huỷ thân trong sạch của cô. Dù sao con gái thời này mười hai, mười ba tuổi đều sẽ gả ra ngoài.

Phiêu Hương dù chỉ mới tám chín tuổi, sớm lắm cũng phải mấy năm nữa mới tới tuổi lấy chồng. Thế nhưng ngộ nhỡ tay bắc quốc này có sở thích khác người thì phải làm sao?

Cô bé càng nghĩ càng loạn, chỉ biết che ngực ngồi sụp xuống khóc thét lên. Nhưng Lý Bân cũng là một tay hảo thủ, ngón Ưng Trảo Công vừa rồi đã luyện đến thuần thục như mây trôi nước chảy. Mặc dù đã né tránh, nhưng một mảnh y phục khá lớn của Phiêu Hương vẫn bị Lý Bân kéo rách. Bả vai thon và làn da trắng mịn đập vào mắt mọi người.

Tạng Cẩu phẫn nộ, định nhào lên thì Lý Bân đã cười khẩy, nói:

“ Quả nhiên là vậy! Suy đoán của Trương nguyên soái thực là thiên chân vạn xác. ”

Hắn đi ra giữa trướng bồng, nhẹ buông khăn lụa. Dải lụa trượt khỏi những ngón tay hắn, uốn lượn nhẹ nhàng trong không trung rồi mới chạm đất.

“ Mảnh lụa thoạt nhìn màu sắc tầm thường, nhưng chất lụa quý không thể nguỵ trang. Mềm nhẹ tựa một áng mây, sờ lên mịn và mát như ngọc, chỉ có tơ tằm mới dệt nên được những tấm lụa như thế. Mọi người lại nhìn đây.

Khi để tấm khăn ra ánh sáng, sẽ thấy một loại hoa văn thứ hai nổi lên. Nếu ta không nhầm, đây là loại lụa Vân nổi tiếng chỉ làng lụa Vạn Phúc mới làm ra được. Xin cho bản tướng mạn phép hỏi, nhà cậu rốt cuộc là đại thương phú hào, hay vương công quý tộc mà dám dùng cả vật phẩm tiến vua hả Tạng Cẩu? ”

Tạng Cẩu sững cả người, lưng áo đã ướt đẫm mồ hôi. Phiêu Hương thì cúi gằm đầu, tay che kín vai, hai giọt nước long lanh trào ra khỏi khoé mi.

Thân phận mà Tạng Cẩu sử dụng để giữ mạng là con của một cựu binh Minh triều. Phiêu Hương là “ tỷ tỷ ” của nó, thế mà lại mặc lụa Vân tiến vua.

Lý Bân cười khẩy, nói tiếp:

“ Chư vị hãy nhìn, da dẻ a đầu này trắng muốt, bàn tay thuôn như búp sen. Cốt cách thanh kì là thế, gương mặt lại đen đen vàng vàng, lở loét xấu xí là do đâu? Theo suy đoán của Lý mỗ, a đầu này có đeo một tấm mặt nạ da người. Không dám dùng diện mạo thật để gặp người khác, ắt phải có mưu đồ bất chính. ”

Từng câu từng chữ Lý Bân nói ra đều hợp tình hợp lí, lập luận chặt chẽ khiến người ta tin tưởng. Càng nghe, Tạng Cẩu càng thấy lạnh cả người. Nó biết mình cần phải tìm một cách nào đó để chống chế, bằng không chờ đợi nó sẽ là tội danh gian tế và cái chết tất yếu kèm theo.

Song vì không cho nó có được bất cứ cơ hội nào để trở mình, Lý Bân tiếp tục thừa thế xông lên, nhanh chóng chuyển hướng mũi mâu từ Phiêu Hương sang Tạng Cẩu.

" Trước khi Tạng Cẩu nhập ngũ, quân ta cơ hồ chiến vô bất thắng, khí thế như hồng không gì cản nổi. Vậy mà thằng nhóc này vừa xuất hiện, phe ta đã thảm bại ởMuộn Hải. Nếu nói chỉ là trùng hợp, e khó mà phục chúng. ”

Lý Bân vừa nói, vừa đều đều dấn bước tới chỗ Tạng Cẩu. Cứ dậm một cái, hắn lại âm thầm vận nội lực bức về phía thằng bé. Không có nội lực hộ thân nên Tạng Cẩu liên tục phải lui bước, người ngoài nhìn vào đều tưởng rằng nó chột dạ trước lập luận của Lý Bân. Lại thêm kẻ sau thực có phong độ, “ lẽ thẳng khí hùng ” nên phân nửa tham tướng trong lều đã tin chắc Tạng Cẩu là gian tế do quân Minh phái tới.

“ Thực… thực sự chỉ là trùng hợp. ”

Tạng Cẩu lắp bắp, chống cự lại một cách yếu ớt. Mọi kẽ hở đều bị đối phương điền kín như bưng, cho dù cậu có bảy cái lưỡi ba lá phổi cũng không sao minh oan cho bản thân được.

Vậy mới nói, đôi lúc lập luận của con người có thể hợp lí đến mức đáng sợ, nhưng lại chưa chắc đã đúng với sự thật.

May thay, hai đứa mặc dù không lường trước được mình để lại nhiều sơ hở đến thế, nhưng cũng không phải không đề phòng chuyện bị lộ tẩy.

Tất nhiên, hiện tại chỉ còn trông vào Liễu Thăng. Tạng Cẩu không nói trước cho vị tướng quân về việc của Phiêu Hương. Nó muốn đánh cược một ván với cái giá là hai sinh mạng vào tình huynh đệ giữa nó và Liễu Tử Tiêm. Thế nhưng, vị nghĩa huynh của nó từ đầu buổi chất vấn tới hiện tại chỉ im lặng ngồi tại chỗ và lắng nghe.

Khi nó nhìn qua, chợt phát hiện ánh mắt Liễu Thăng cũng đang ghim chặt vào đôi mắt nó. Cái nhìn của Tử Tiêm cơ hồ còn sắc bén hơn cả thanh kim thương cậu dùng để ra trận, như muốn chọc thủng linh hồn Tạng Cẩu và đọc hết bí mật ẩn giấu sâu trong đáy mắt.

Liễu Tử Tiêm không lên tiếng, nội lực do Lý Bân bộc phát lại càng ngày càng mãnh liệt. Mồ hôi Tạng Cẩu đã ứa ra đầy trán, xương nó vang lên những tiếng kêu nhè nhẹ. Vai cứng đờ, gối nặng trĩu, Tạng Cẩu chống lại nội lực khủng khiếp của đối phương chỉ với chỉ một chút sức quèn của thân thể và sự kiên cường của tâm trí.

“ Hai lần Liễu tướng quân gặp nạn, nó đều không sớm không muộn một khắc xuất hiện giải vây. Binh thủ trại thông báo lại, hai trận Đa Bang, Muộn Hải đều thấy mi lén lút rời khỏi doanh trại ngay giữa lúc chiến hoả đương nồng. Cái này cũng là trùng hợp chăng, hay đã có dự mưu từ trước?? ”

Lý Bân phất tay áo, chỉ với một câu hỏi mà khiến cho tất cả ánh nhìn trong doanh trướng hướng vào Tạng Cẩu đều hàm chứa sát khí. Cái phất tay áo ấy cũng chẳng đơn giản như vẻ bề ngoài. Người Bắc thường mặc y phục có phần tay dài, để thả chứ không bó lại.

Một cái phẩy tay nhìn như tầm thường, nhưng lại có thể khéo léo mượn sự lay động của tay áo che giấu một cỗ chưởng phong tấp thẳng vào chân Tạng Cẩu. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ để khẳng định võ công của Lý Bân đã đạt tới trình độ đăng phong tạo cực.

Bịch…

Tạng Cẩu ngồi phịch xuống, cảm thấy đôi chân tê rần vô lực. Cỗ chưởng phong nhẹ nhàng ấy thế mà lại vô thanh vô tức vỗ trúng hai huyệt đạo ở chân nó.

“ Sao rồi, cảm thấy chột dạ rồi ư? Thứ lỗi, ta không gọi ngươi là Tạng Cẩu vì chẳng biết ấy có phải danh tính thật của nhà ngươi hay không nữa. Chư vị, lời thì Lý Bân đã nói xong, xử lí tên này như thế nào là quyền của chư vị. ”

Tạng Cẩu lạnh người, bàng hoàng trước những ánh nhìn đang bủa vây lấy nó. Chỉ mấy ngày trước, những con người xung quanh còn mỉm cười với nó thật ấm áp, ngợi khen nó hết mực. Thì nay… trời xoay đất chuyển, biển cả đã hoá nương dâu.

Tạng Cẩu lần đầu tiên thấm thía cái câu mà Liễu Thăng hay kể trong truyện: “ vật đổi sao dời ”, là vua là giặc cũng chỉ trong một ý nghĩ.

Phiêu Hương ngồi xuống bên cạnh, vỗ vỗ vài cái vào lưng và chân nó. Thấy lưng áo Tạng Cẩu ướt đẫm mồ hôi, cô bé hiểu nó vừa phải đối mặt với áp lực lớn tới mức nào. Ấy vậy mà nó không hề hé răng bán đứng cô dù chỉ nửa lời. Khoé mắt Phiêu Hương đã hơi ướt lệ, thầm nghĩ:

[ Mình ngu quá. Đáng lẽ không nên coi thường quân giặc như vậy. Đối thủ gian xảo đến nỗi hoàng bá cũng phải thận trọng, sao có thể để mình trà trộn vào hàng ngũ chỉ với một lời nói dối kia chứ? Giờ chẳng những mạng mình mất, mà còn liên luỵ tới Tạng Cẩu. Hồ Phiêu Hương ơi là Hồ Phiêu Hương, mày đúng là chẳng được cái tích sự gì hết. ]

“ Không sao chứ? ”

“ Chân hơi tê thôi… ”

Tạng Cẩu cắn chặt răng, mắt cụp xuống. Nó chẳng còn hi vọng gì vào việc được tha mạng cả. Đến anh kết nghĩa của nó là Liễu Tử Tiêm còn chẳng nói lời nào thì trong trướng này có tên gia tướng nào chịu tha cho Tạng Cẩu đây?

Chương 17: Hồi sáu (3)

Nắm đấm nhỏ xiết chặt, thằng bé nhìn đau đáu khắp trướng bồng một lượt. Mối căm hờn bị nó nén sâu dưới đáy lòng nay bộc phát ra theo bản năng, để ít nhất nó có thể ra đi thanh thản. Bị cái nhìn của nó quét trúng, dù người trong lều ai nấy đều là con nhà binh tướng thì cũng phải giật mình. Đó không phải loại ánh mắt nên có của một đứa trẻ.

Nó nhìn thoáng qua Liễu Thăng, ánh mắt chứa đầy vẻ van nài. Từ khi kết nghĩa, Tạng Cẩu chưa chủ động đòi hỏi thứ gì hết. Chỉ có mối thù với Mạc Thuý nó không buông xuống được cũng không thể báo được, nay đành gửi gắm lại cho Liễu Thăng.

[ Trưởng thôn, thím Năm, dì Hoa, bác Sơn… mọi người… Chó Bẩn về gặp mọi người đây. Tha lỗi cho con… ]

Cúi đầu, Tạng Cẩu nhắm chặt mắt lại. Thứ duy nhất đem lại cho nó một chút ấm áp là bàn tay của Phiêu Hương.

Liễu Thăng bất chợt lên tiếng:

“ Việc Tạng Cẩu là gian tế hay không còn khó nói, nhưng Lý tướng quân dùng nội lực bức bách, lại ra tay khinh nhờn dân nữ là có ý gì? ”

“ Ý của Liễu tướng quân là? ”

“ Tạng Cẩu và tại hạ cuối cùng vẫn là huynh đệ kết nghĩa, nếu cô gái này là tỷ tỷ của đệ ấy thì cũng là tiểu muội của tại hạ. Lý tướng quân, có thể cho Tử Tiêm một câu trả lời thoả đáng chứ? ”.

Liễu Thăng quắc mắt lên nhìn Lý Bân, trông bộ dáng cậu hung ác tựa như hùng sư sắp động thủ vồ mồi. Thế nhưng, họ Lý chỉ cười nhẹ, không thèm để ý chút nào.

“ Tử Tiêm hiền chất tin tưởng Tạng Cẩu không phải gian tế của nhà Ngu? ”

“ Tử Tiêm, việc này liên quan tới tồn vong của tam quân, ta hi vọng hiền chất không niệm tình riêng, vạch rõ đúng sai. ”

Mộc Thạnh và Trương Phụ kẻ thì chất vấn, người lại khuyên can.

Suy luận của Lý Bân chính là những gì mà hai người đã bàn nhau kỹ càng từ tối hôm qua. Lại thêm việc Phiêu Hương che giấu diện mạo nên họ càng tin tưởng hắn thêm.

Liễu Thăng ôm quyền, nói:

“ Tử Tiêm hiểu được đạo lí: người làm tướng phải chí công vô tư, nếu quả thực Tạng Cẩu là gian tế, đích thân tôi sẽ đại nghĩa diệt thân. ”

“ Như thế là tốt nhất… ”

Trương Phụ nhẹ gật đầu trong khi Liễu Thăng loạng choạng chống nạng đi ra giữa soái trướng.

“ Thưa hai vị nguyên soái, các vị tham tướng. Trận Đa Bang khi trước, chính Liễu Thăng tôi là người đã nghĩ ra mưu kế phá địch. Việc này trong quân hầu như ai cũng biết, Tạng Cẩu cũng không ngoại lệ. ”

Lý Bân nói:

“ Lời ấy thiên chân vạn xác. Có điều Liễu tướng quân đột nhiên kể lể công lao, lẽ nào muốn xin tội cho gian tế? ”

“ Là gian tế hay không, hình như Lý tướng quân không có tư cách kết luận. ”

Liễu Tử Tiêm nào có chịu kém, đối chọi lại gay gắt.

" Được rồi! Nơi này là soái trướng, phải có khí độ của bậc tướng quân. Thoá mạ chửi bới nhau như mấy mụ già đanh đá thì còn ra cái thể thống gì kia chứ?? ”

Trương Phụ đập bàn, quát lớn một tiếng mới khiến cả hai dừng đấu khẩu. Thế nhưng đám tham tướng xung quanh từ ánh mắt hai người có thể nhìn ra, sau này hai vị tướng quân Lý, Liễu ắt sẽ bằng mặt mà không bằng lòng.

Cả đám bắt đầu cân nhắc thiệt hơn, xem sau này phải theo bợ đỡ ai con đường thăng quan của mình mới được rộng mở.

Thành ra chẳng còn ai chú ý đến liệu Tạng Cẩu có phải gian tế hay không nữa.

" Tử Tiêm hiền chất, có gì muốn nói, thì cứ nói đi… ”

Mộc Thạnh nhìn qua là biết đám người kia đang nghĩ gì, song y không hề tỏ vẻ tức giận giống lần trước mà chỉ lên tiếng.

Liễu Thăng thi lễ một vòng, rồi nói:

" Như vậy nếu là gian tế, Tạng Cẩu hẳn là để mặc ta chết mới phải. Đồng thời, phát súng kia cũng sẽ không nhắm vào ngực tướng quân nhà Ngu mà vào lưng Mộc nguyên soái.

Khi ấy Mộc nguyên soái mới bị tướng giặc liều mình đâm bị thương, sau đó lại trúng một viên đạn thì chắc hẳn khó lòng sống nổi. Giữa chiến trường hỗn loạn, một thằng nhóc lần đầu cầm súng bị cướp cò lạc đạn cũng không phải là không có đạo lí. ”

Thấy mọi người đã gật gù ra chiều suy tư, Liễu Thăng mới thở phào mà nói tiếp:

“ Tử Tiêm này chết cũng chẳng sao, nhưng Mộc soái và Trương soái là linh hồn trong quân. Mộc nguyên soái tử trận, nhuệ khí quân ta sẽ bị rút mất một nửa, khi ấy liệu có hạ được Đa Bang không thì khó mà nói. Mục đích của gian tế là gì? Hẳn là lén truyền quân tình cơ mật của địch, lại tạo phản lúc trọng yếu để quân mình chiến thắng. Trận vây đánh Đa Bang chỉ cần Tạng Cẩu tạo phản, quân Đại Ngu sẽ toàn thắng, cần gì phải đợi thêm cho đêm dài lắm mộng? Rước thêm gian tế vào thì lại càng không cần thiết, còn mạo hiểm! Xin hỏi có tên gian tế nào ngu như thế không? ”

" Có lí, có lí a. ”

" Nghe Liễu tướng quân giải thích thật sự như là thiên lại chi âm, một hơi trúng bản chất. ”

Các vị tham tướng đức cao vọng trọng thực là biết chọn thời cơ, nhắm ngay lúc này để mà bợ đỡ Liễu Thăng. Một là trợ uy, hai là tỏ thái độ. Thấy đám võ quan mà lại một mực cười cười, tán dương bốc phét đến nỗi nước bọt văng xa năm sáu thước chẳng thua gì nịnh thần thâm niên trên triều, Trương Mộc hai người chỉ biết cười khổ.

[ Dân Nam mà không tự mình đánh mình, hợp sức chung lòng với triều đình thì quân ta sao có thể thắng đây?? ]

Hai người đồng thời nghĩ.

Liễu Thăng nhìn Phiêu Hương, ánh mắt lộ rõ vẻ bất đắc dĩ. Rõ ràng là cậu không muốn cứu ả “ man nữ ” này chút nào. Song, Liễu Thăng vẫn ôm quyền, nói:

“ Về phần nguyên nhân mang mặt nạ, thì đơn giản thôi. Như Lý tướng quân từng nói, muội muội ta cốt cách thanh kì, dù còn nhỏ tuổi nhưng tin chắc có dung nhan mười phần diễm lệ. An Nam là đất của người man di, lại đang loạn lạc thế này. Một tiểu mĩ nhân dòng dõi Viêm Hoàng hành tẩu bên ngoài há không nguy hiểm chăng? Bởi vậy, dùng mặt nạ cũng không có gì là lạ. ”

Nói xong lại đánh mắt với Phiêu Hương, ý là: ngươi mau nghĩ ra cái cớ nào đó giải thích tấm lụa và mặt nạ đi, ta chỉ giúp được đến đây thôi.

Phiêu Hương dù hơi kinh ngạc, nhưng vẫn rất biết điều phối hợp diễn màn kịch này với Tử Tiêm. Cô khóc nấc lên tưởng như sắp ngã, đoạn vừa lau nước mắt vừa rụt rè nói:

“ Lụa, và mặt nạ, là tiểu nữ cướp của tiểu thư một nhà đại phú. Cô ta chết ngay ngoài cửa rừng, không rõ nguyên nhân. Đệ, cũng vì tỷ nhất thời ham miếng lụa đẹp, liên luỵ đến đệ… Chỉ còn cách lấy cái chết tạ tội mà thôi, ”

Tạng Cẩu cũng đã hiểu phải tiếp nối vở diễn này như thế nào. Trong lòng khen hai người nhanh trí, ngoài lại thuận miệng nói:

“ Cũng tại ta ngốc… tại ta mà tỷ phải chịu khổ… Phụ thân đại nhân… bị người Ngu giết ở bên ngoài, mẫu thân… lao lực mà mất bên ruộng. Những tưởng… có thể để tỷ… sống sung túc… Ngờ đâu… ”

Nó vừa kể, lại xuất thần nhớ đến cảnh tượng người trong thôn bị binh mã của Mạc Thuý đồ sát, thế là sống mũi liền cay cay, đôi mắt bất giác ứa lệ. Màn diễn của ba đứa nhờ vậy càng thêm chân thực, ai xem cũng mủi lòng.

Thấy Phiêu Hương, Tạng Cẩu ôm nhau khóc đầy bi thống, trong doanh trướng đã bắt đầu vang lên tiếng nấc. Trương Phụ gạt giọt lệ mới chớm nơi khoé mắt, cảm thán:

“ Hài tử đáng thương… ”

Liễu Thăng chớp ngay lấy thời cơ, lập tức nói:

“ Chư vị, nữ hài thích đẹp là lẽ thường tình, chẳng lẽ người nghĩa muội này của ta không thể gặp may ư? Tạng Cẩu cũng kể lại rõ ràng, phụ thân hai người chết dưới tay người Ngu. Đám An Nam này ắt là thấy đại quân thiên triều tiến xuống, lòng sinh sợ hãi mà trút giận lên bại binh. Chỉ đáng thương hai hài tử, nháy mắt mất đi thân phụ thân mẫu, lang thang trong cảnh binh đao chiến hoả. ”

Mộc Thạnh nói:

“ Ừm, có lẽ là chúng ta hơi quá đa nghi, khiến hai hài tử này chịu ấm ức một phen. ”

“ Binh bất yếm trá, cẩn thận là lẽ thường, Mộc soái và Trương soái hết lòng vì quân, Liễu Thăng bội phục. ”

“ Hai tỷ đệ tôi cũng vậy… ”

Ba người chắp tay thi lễ hậu bối, hai soái lập tức thấy mặt già thấu đỏ, cũng trả lại nửa lễ. Lý Bân nói:
“ Xem ra là lập luận của ta đã sai, vừa rồi đã đắc tội nhiều, mong lượng thứ cho. ”

Dù bụng không muốn, nhưng Tạng Cẩu với Phiêu Hương vẫn phải khách sáo vài câu với y để tránh gây thêm phiền toái. Cả đám tham tướng cũng nhào lên chúc mừng hai “ tỷ đệ ” nó được đoàn viên, lao nhao suốt nửa canh giờ. Song, hai đứa vẫn coi như thoát được hiểm hoạ bại lộ thân phận lần này, không khỏi có cảm giác như trở về từ cõi chết.

Cả đám lục tục chào hai vị nguyên soái, rời khỏi doanh trướng để về lại lều. Trên đường, ánh mắt chăm chăm của lính lác khiến ba đứa nhóc thoáng rùng mình. Tạng Cẩu, Phiêu Hương biết chúng nó chỉ mới được thăng từ “ nhất định phải giết ” thành “ tạm thời theo dõi ” mà thôi. Song còn giữ được đầu trên cổ đã là may mắn lắm rồi.

Lúc tấm liếp che cửa trướng bồng hạ xuống, biểu cảm của Liễu Thăng mới biến đổi từ vẻ vui tươi sang đắng nghét như quả mướp:

“ Thằng này được lắm, kết bái chưa được bao lâu đã dám lợi dụng đại ca như vậy. Đợi ta khỏi hẳn, ắt dùng Nhạc Gia thương pháp sửa gáy đệ một phen!! A!! Chân… ”

Liễu Thăng mới nói được hai câu tức tối, Phiêu Hương đã đạp nhẹ một phát vào cái chân gãy.

“ An Nam man nữ nhà cô đúng là hạng ăn cháo đá bát!! Ta vừa cứu mạng cô xong đấy! ”

“ Xí! Người bắc quốc các ngươi mà tốt như thế trừ phi dã trư phi thiên! Rõ ràng là muốn cứu mạng nghĩa đệ, lại lời thẳng khí hùng nhận là vì cứu ta.”

Phiêu Hương cũng bực mình đốp lại. Từ sau vụ giao thủ ở Muộn Hải, hai người cứ luôn như chó với mèo, không ai chịu phục ai hết. Cũng may, nhờ biến cố nơi soái trướng hồi nãy thì quan hệ song phương đã hoà hoãn lại chút ít.

Tạng Cẩu vội đứng ra điều đình:

“ Thôi… thôi… sự thực là nghĩa huynh đã cứu cô một mạng còn gì? Phiêu Hương, đừng gây gổ với huynh ấy nữa… ”

“ Hứ! ”

“ Hừ! ”

Hai bên không hẹn mà cùng quay phắt mặt về hướng khác, Tạng Cẩu ở giữa cũng chỉ đành bó tay.

Nghịch ngợm một hồi, Liễu Thăng mới dùng sắc mặt nghiêm túc, nói:

“ Tạng Cẩu, thân phận cô gái này ở nước Ngu rất cao, tốt nhất đừng để cô ta rời khỏi tầm mắt. Bằng không một khi cô ta truyền tin về, đừng nói là đầu của đệ, đến đầu của ta cũng phải rơi xuống. ”

Phiêu Hương đi vòng quanh lều, bất giác thấy được một tờ giấy mỏng rơi dưới đất. Cô nhặt lên, nghía thử mấy dòng, sắc mặt dần trở nên nghiêm trọng hẳn. Lúc lướt qua chữ cuối cùng, Phiêu Hương mới đem tờ giấy qua chỗ Liễu Thăng, nói:

“ Lần này ta nợ ngươi một cái ân tình, về sau tất sẽ hoàn trả. ”

“ Ai làm ân cho ngươi? Chẳng phải nói rõ rồi hay sao, ta cứu Tạng Cẩu, chứ ai mà thèm quan tâm cái đám người nam các ngươi sống hay chết? ”

“ Xí! Ta cảm ơn Tạng Cẩu, người bắc quốc đúng là mặt dày nhận vơ.

Hai bên lại bắt đầu cãi nhau, phải một lúc chiến hoả mới lắng xuống được.

Tối đến…

Phiêu Hương kéo Tạng Cẩu lên nóc lều ngồi hóng mát, ngắm sao trời. Loại lều dã chiến này khá yếu, nhưng chịu sức nặng của hai đứa trẻ vẫn rất dễ dàng.

Hai đứa nằm sát cạnh nhau, khuỷu tay đụng vào khuỷu của đối phương. Phiêu Hương nhìn lên con trăng treo cao trên đầu, thở dài:

“ Tạng Cẩu này, hôm nay ta rút lại lời nói của mình. Thế sự quả nhiên chẳng đơn giản như ta vẫn hằng nghĩ. Người phương bắc chưa hẳn đã toàn bộ là kẻ xấu, người Đại Ngu chúng ta cũng chưa hẳn đều là người tốt. Vị đại ca kết nghĩa này của đằng ấy dù là người bắc, song quả thực là kẻ trọng tình nặng nghĩa, rất đáng kết giao. ”

“ Đương nhiên rồi… ”

Tạng Cẩu gật đầu. Hành động hôm nay của Liễu Thăng đúng là nằm ngoài sự tưởng tượng của nó. Để bao che cho nó, ắt hẳn người nghĩa huynh này đã phải dùng thứ gì đó để cam kết với Phụ, Thạnh.

“ Ngươi không hiểu đâu. Hôm nay hắn vì cứu hai ta, viết một tờ Quân Lệnh Trạng để bảo chứng. Một khi chúng ta đào ngũ, cả nhà hắn sẽ bị đem ra lăng trì hết để cảnh cáo. Chỉ vì một lần tuỳ hứng của đứa em mới nhận mà sẵn sàng đem tính mạng cả nhà ra đánh cược, tên này so với hai ta lại càng điên rồ. ”

Tạng Cẩu nghe xong, chỉ biết im lặng.

Chẳng phải ngẫu nhiên mà thành kiến đối với người phương bắc của Phiêu Hương biến mất. Tạng Cẩu đã nghĩ qua đủ mọi nguyên nhân, nhưng không ngờ lại là điều nó vừa nghe.

Liễu Tử Tiêm dám liều như thế, chứng tỏ là rất tín nhiệm nó. Nếu như nó phản bội lòng tin này… e rằng đến loài chó cũng khinh thường nó.

Hít vào một ngụm không khí lành lạnh của ban đêm, Tạng Cẩu khẽ nói:

“ Phiêu Hương, tớ có một yêu cầu ích kỷ, làm ơn hãy đồng ý. ”Nhìn dáng vẻ nghiêm túc trầm trọng của nó, Phiêu Hương chẳng cần đoán cũng biết ngay Tạng Cẩu đang muốn nói cái gì.

“ Đằng ấy muốn ta không rời khỏi Minh doanh, cũng không liên lạc với quân Ngu chứ gì? Yên tâm đi. Chớ nói đằng ấy cứu ta hai lần, chỉ riêng tờ Quân Lệnh Trạng kia của Liễu Thăng thôi đã là lá bùa cầm chân ta rồi. Hay đằng ấy nghĩ ta là hạng tiểu nhân ích kỷ, vô liêm sỉ đến mức đầy mấy chục mạng người nhà của ân nhân mình vào con đường chết? ”

“ Không!! Không!! Phiêu Hương tốt lắm, lúc ấy còn tặng thuốc cho tớ. Chẳng qua, hơi cố chấp… ”

“ Cố chấp thì sao? Mẫu… mẹ bảo con gái cố chấp mới chung tình. ”

Phiêu Hương bĩu môi, nói.

Đúng lúc này, một âm thanh già nua truyền tới trong gió đêm.

“ Hay, đúng lắm, con gái cố chấp mới trung tình. ”

Hai đứa còn chưa kịp định thần lại thì một bóng người đã xuất hiện ngay trước mặt chúng. Vẫn là tấm áo tơi cũ kỹ, vẫn chiếc nón tre rách góc và đôi guốc gỗ đã sờn dây treo ở dải dây quần.

Dáng người còng còng của Quận Gió hiện lên trước mặt hai đứa lần thứ hai.

Hai tay ông vẫn chắp sau lưng, nhưng lần này đôi mắt nhìn hai đứa đã hấp háy ý cười.

Phiêu Hương đón nhận ánh nhìn đầy ẩn ý ấy, nghĩ một lúc mà chợt giật mình:

“ Lẽ nào… tiền bối đã liệu trước được việc hôm nay nên mới cố tình ra tay, khiến con bị bắt? ”

“ Không sai… không sai… không hổ là cháu gái của lão hồ li, thông minh lanh trí quá. Phiêu Hương phải không? Sau này nhớ kỹ người ở đâu cũng phân làm năm bảy loại. Chớ vơ đũa cả nắm, trông mặt mà bắt hình dong. Đừng để sau này bị đồng bào mình hại chết, mới nhớ lại ngày hôm nay đấy. ”

“ Cảm ân chỉ điểm của tiền bối, Phiêu Hương biết sai rồi. ”

Quận Gió gật gù, lại nói:

" Thế sự vốn là như vậy, kẻ hiểm nham thường treo lá cờ chính nghĩa, đảng gian tà hay đột lốt hiền lương. Ngoài miệng hô hào vì dân vì nước, thực sự bỏ qua được bốn chữ “ lợi ích cá nhân ” liệu có mấy ai?

Không phải cứ cùng dân tộc với ta thì là người ấy tốt, bằng không trên đời đã chẳng có Việt gian. Cũng chẳng phải cứ là người Hán thì là heo là chó. Trong cái thời loạn này muốn tìm một người trọng tình trọng nghĩa… khó lắm, khó lắm. ”

" Phải chăng… tiền bối đã theo bọn cháu từ hôm qua tới giờ? ”

Tạng Cẩu học Phiêu Hương, gọi Quận Gió một tiếng tiền bối. Nó biết ông này có võ công thuộc hàng xuất quỷ nhập thần, nếu theo học được một phần bản lĩnh thì cơ hội báo thù lại cao thêm một chút. Nhân vật như vậy lại hai lần xuất hiện trước mặt bọn nó, vậy thì ắt không thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên.

Quận Gió đáp:

" Đâu chỉ là hôm qua?? Tạng Cẩu, từ khi con gia nhập vào doanh trại quân Minh ta đã âm thầm bám theo quan sát con. Lúc đầu ta lấy làm kì quặc, một đứa bé con mà đã học đòi thông địch bán nước ư?? Thế rồi ta dùng nội lực hướng con chạy tới chỗ Liễu Thăng, ai ngờ đoàng một cái, đạn lạc chết luôn tay tướng quân xui xẻo kia.

Thế mà con chẳng những không lợi dụng chiến công đòi ban thường, mà lại không nề hà cầu tình cho dân Việt. Đã vậy liều mình đứng chắn cho Liễu Thăng. Có thể thấy con là người trọng tình nghĩa, đối nhân xử thế bằng trái tim chứ không phán xét người ta một cách nông cạn. Tạng Cẩu, con có đồng ý bái ta làm thầy chăng? ”

Quận Gió hỏi câu cuối cùng, giọng ông đã biến đổi, nghe hệt như giọng Lý Bân hồi sáng. Đúng lúc này thì từ một trướng bồng phía xa vọng lại tiếng hét:

" Lý tướng quân?? Biến thái!!!! ”

Tiếng la rất cao và sắc, đúng là giọng nữ nhân. Nghe ngữ khí thì nàng ấy hoảng hốt lắm, dường như mới vừa thấy chuyện gì phi thường kinh khủng thì phải.

Quận Gió cười mỉm, nói:

" Xem ra huyệt đạo của họ Lý đã được giải, chắc đang lùng sục tìm tên trộm già này đòi lại bộ quần áo đây… ”

Hai đứa nhóc nghe ông nói, lại liên tưởng đến tất thảy những chuyện xảy ra từ sáng mới hiểu là Quận Gió thử thách chúng một lần cuối cùng rồi hiện thân.

Chúng vừa thấy buồn cười, lại vừa bội phục tài của Quận Gió. Thâm nhập doanh trại quân địch dễ như vào trốn không người không nói, bắt cóc một tham tướng, ung dung giả làm người ta tham dự họp mặt nữa thì quá là tài tình. Phiêu Hương từ từ nhớ lại những gì Liễu Thăng đã nói trong soái trướng.

[ Khi ấy Tử Tiêm tiểu tướng quân từng chất vấn Lý Bân vì sao lại dùng nội lực ép Tạng Cẩu. Mình còn tưởng cậu ta nói nhăng nói cuội, ngờ đâu lại là sự thực. Điểm ấy chứng tỏ khả năng khống chế nội lực của Quận Gió tiền bối đã cao thâm tới mức không tưởng.

Y vận công, Tạng Cẩu thì áp lực như núi đè, Liễu Thăng thì cảm nhận được một chút phong thanh trong khi mình ở ngay cạnh lẫn cao thủ như Mộc Thạnh cũng chẳng phát giác được mảy may. Không tận mắt thấy, quả thực không thể tin nổi. ]

“ Mau đồng ý… ”

Trông thấy Tạng Cẩu một mực dùng ánh mắt cổ quái, phi thường mất tự nhiên nhìn Quận Gió, Phiêu Hương vội thúc thúc mấy cái vào khuỷu tay cậu, nhắc khẽ.

[ Nhân vật thần bí nhất trong bảy đại tông sư muốn nhận đồ đệ, vậy mà tên nhóc nhà ngươi lại dùng loại ánh mắt này nhìn người ta. Có biết bao nhiêu người sẵn sàng tranh nhau người sống ta chết để có được vị trí của ngươi hay không?? ]

Phiêu Hương thầm nghĩ.

Mà Quận Gió cũng nhận ra ánh nhìn đầy “ ý vị ” của Tạng Cẩu. Lão nghĩ một thoáng, lập tức hiểu ra vấn đề, gương mặt già nua cũng phải thoáng đỏ bừng lên như say rượu.

[ Không cần biết là ai, bị một ông già bám theo theo dõi lâu như vậy, khẳng định sẽ nghĩ lão nhân này có sở thích kì quái nào đó… Lần này đúng là tò mò hại cái thân.

Không được, phải dạy dỗ lại ngay! Bằng không về sau tên đệ tử này hành tẩu giang hồ, oang oang kể lể sư phụ nó thích bé trai thì cái mặt già này phải giấu vào đâu cho bớt nhục đây? ]

Có câu: “ ngoài cuộc thanh tỉnh trong cuộc u mê ”. Phiêu Hương là người chẳng liên quan, lại thông minh lanh trí nên chẳng mất bao lâu đã đoán biết được ý nghĩ của Tạng Cẩu. Cô bé ho khan mấy tiếng, nói:

“ Cổ nhân đã dạy âm dương hoà hợp mới hợp với thiên đạo tuần hoàn, tự nhiên chi lễ. Quận Gió tiền bối xin hãy kiềm chế lại, dương và dương không thể kết hợp, cưỡng ép sẽ chỉ thêm hoạ vào thân, hà tất vì sự khoái lạc trong phút chốc mà hại mình hại người. Lại nói Tạng Cẩu còn nhỏ tuổi, hay là chờ vài năm nữa hẵng… khục… khặc… lưỡng kiếm tương tranh… ”

Phiêu Hương đoán chừng Quận Gió là mắc chứng Long Dương như Vệ Linh Công, mới ra chiều khuyên can.

Quận Gió nổi giận.

“ Bớt phí lời đi, ta muốn cưỡng ép… khục… chuyện đó thì đã làm từ lâu rồi, cần gì quan sát lâu như vậy, rồi còn bày đủ trò thử thách chứ? Lại nói nếu lão trộm này thực sự cường ngạnh, dựa vào võ công mèo ba cẳng của nó thì phản kháng được ư? ”

Hai đứa nghe xong, thấy cũng có lí, lúc này mới tạm thời kéo tấm biển “ yêu đàn ông ” xuống khỏi đầu Quận Gió.

Đường đường là một tông sư võ học thét ra lửa, mỗi khi xuất hiện hành sự là giang hồ lại bị oanh động một phen. Nào ngờ, khi tuổi già xế bóng muốn thu một tên đồ đệ, lại bị nghi ngờ là có bệnh thích bé trai.

“ Nhìn cái gì??? Ta đã nói ta không có thích đàn ông, cũng không yêu bé trai rồi! Có tin ta… không chấp đám hậu sinh các ngươi! ”

Quận Gió không biết nếu còn ở lại thì liệu có bị ánh mắt cổ quái của hai đứa bé làm cho mất nốt nửa cái mạng già hay không. Mắt lão trợn lớn, thổi râu phì phì tung mình nhảy vào màn đêm, trong nháy mắt đã mất hút.

Hai đứa tiểu yêu lúc này mới nhìn nhau, ý cười gian xảo ánh lên trong hai cặp mắt tròn vo.

Cảm giác trả được thù thật đúng là rất ngọt ngào… Mà xả được uất ức ấy lên đầu một tông sư võ học hàng đầu cái đất Đại Việt này thì lại càng khiến người ta khoái trá vạn phần.

Chúng cùng cười phá lên, cảm thấy quãng thời gian ngắn ngủi vừa trải qua cùng nhau cũng không tệ lắm.

Chương 18: Phụ chương: Bàn về nguồn gốc của người Việt Nam (1)

Lời đầu tiên, mình xin gửi tới bạn đọc xa gần lời chúc mừng năm mới trân trọng nhất, ấm áp nhất. Chúc các bạn qua xuân Mậu Tuất ngập tràn may mắn, vui vẻ bình an suốt năm. Xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ, ủng hộ của các bạn trong khoảng thời gian ngắn ngủi vừa qua. Hi vọng trong năm tới, mình sẽ còn tiếp tục đem đến được cho các bạn những chương truyện chất lượng nhất có thể.

Đây là lần đầu tiên mình viết một phụ chương để giao lưu với mọi người.

Trong năm qua, mình có ghé truyện của một vài bạn trên box sáng tác. Là một đứa yêu thích sử Việt từ nhỏ nên thật khó để mình diễn tả bằng lời niềm vui của mình khi thấy những nét đẹp Việt Nam dần nở rộ giữa những con chữ của lớp trẻ chúng ta.

Lan man đã nhiều, mình xin phép được vào chuyện chính luôn. Nói về nguồn gốc của người Việt ta, rất nhiều tác giả trẻ sử dụng “ Bách Việt ” - là trăm tộc của người Việt. Nguyên nhân vì truyền thuyết: Lạc Long Quân và Âu Cơ có trăm người con, chính là trăm tộc của Bách Việt.
Song, mình xin phép chia sẻ một góc nhìn khác của cá nhân mình, thiên hướng lịch sử hơn.

Cũng tích trên kể lại, người con cả của tổ phụ tổ mẫu đã ở lại đất tổ Phong Châu, trở thành vua Hùng. Mà tộc Lạc Việt ấy sau cũng thành nước Văn Lang, tiền thân của Đại Việt và Việt Nam ta.
Về Lạc Long Quân, ta gọi ông là tổ phụ, là tiên tổ. Còn các Hùng Vương, ta gọi là quốc tổ. Thiết nghĩ cũng có lí do cả.

Chẳng thế, mà khi khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã khấn: “ một xin rửa sạch nước thù, hai xin nối lại nghiệp xưa họ Hùng ”. Bác Hồ cũng nói: “ Các Vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước. ” Những danh nhân xưa và nay không nhắc tới nước Xích Quỷ, Kinh Dương Vương.

Có lẽ, thực sự chỉ có hai tộc Lạc Việt và Âu Việt của An Dương Vương mới thực sự là tổ tiên của nước Việt Nam. Còn các tộc người Việt còn lại đã đồng hoá, đã hoá thành một bộ phận của Trung Quốc. Trung Quốc cũng từng có nước Việt ( không phải Nam Việt của Triệu Đà). Cũng có câu: “ ngựa Hồ gầm gió bắc / chim Việt đậu cành nam ”.

Mình xin phép dừng phụ chương này lại ở đây. Có dịp mình sẽ bàn tiếp về vấn đề này.

Chương 19: Hồi bảy (1)

Hàm Tử Quan huyết hồng sơn cốc

Giữa đêm thâu Quận kể chuyện xưa

Sáng sớm hôm sau, quân Minh lục tục kéo nhau lui khỏi Muộn Hải, tiến về Hàm Tử. Sử nói, Muộn Hải khí hậu ẩm thấp, quân Minh chịu không nổi mới phải lui quân chứ chẳng phải phải đánh không lại nhà Hồ.

Hai người Trương, Mộc ủ rũ giục ngựa đi trước, chẳng buồn cầm đao xách siêu nữa. Trận thua ở Muộn Hải thực là trí mạng, khiến cho sĩ khí trong quân tuột dốc, lòng tin vào chiến thắng tuyệt đối của các tướng lĩnh, binh sĩ cơ hồ bị đập tan tành. Họ Trương có viết một bài hịch để đốc thúc trấn an, cổ vũ quân sĩ, nhưng hiệu quả không lớn.

Người Minh rút lui quá gấp, nên cũng không hay chuyện doanh trại nhà Hồ bị nhân sĩ giang hồ đốt. Họ còn tưởng được Hồ Nguyên Trừng thả cho đi mà không thèm đuổi theo truy quét, chẳng tránh khỏi cảm thấy vừa thẹn vừa tức. Thẹn vì mình phải sống bằng sự thương hại của kẻ địch, còn tức giận do bị chính kẻ địch “ khinh thường ”.

Kể từ sau biến cố ở soái trướng, Phiêu Hương không cần phải đeo mặt nạ da người nữa. Cô nhóc chẳng thể nào nén nổi sự thích thú, trên đường đi đôi lúc còn ngâm nga một làn điệu dân ca. Con gái ai cũng thích đẹp ghét xấu, nhưng khi đeo tấm mặt nạ kia lên, hễ cứ bưng bát nước uống là dung mạo khủng khiếp của bản thân lại xuất hiện dưới đáy nước, thử hỏi làm sao nuốt trôi cho được.

Mà sau chuyện ở soái trướng, cô bé cũng không giữ thái độ thù địch với Liễu Thăng nữa. Tuy hai người này vẫn là một cặp oan gia, song không đến nỗi hở ra là động đao động kiếm như trước kia. Tất nhiên, điều kiện tiên quyết vẫn là không ai hé răng dò hỏi quân tình của phe đối phương.

Bảo đao của Hương Quận Gió đã đem qua doanh trại, nhưng vì nó quá bắt mắt đắt tiền nên cô gửi tạm ở chỗ ông, bản thân thì xin một thanh đơn đao để phòng thân. Phụ với Thạnh hãy còn áy náy việc Lý Bân giả xé áo cô, nên dù hãy còn nghi ngờ cũng đồng ý yêu cầu ấy ngay lập tức.

Việc Quận Gió cải tranh thành Lý Bân bị hai người này bưng bít, nhưng vẫn có phong thanh lưu truyền trong quân. Ai nghe được đều cảm thấy khó tin, hoặc kinh sợ thầm nghĩ: [ Nếu tay này vào trại không giả làm tướng quân mà mang theo dao để cứa cổ, e rằng chẳng mấy quân ta tan rã. ]

Cuối cùng Lý Bân đành phải lên tiếng trước ba quân:

“ Người này võ công kém cỏi, nội lực yếu đuối. Chỉ có mỗi ngón khinh công là lợi hại. Tiếc là hôm ấy ta có uống quá chén, không kịp đề phòng mới thất thủ. Chứ nước Nam này là nơi mạt võ, cho dù có mười tên xuất hiện thì cũng chẳng đáng ngại. Mọi người không cần lo. ”

Đến khi ấy doanh trại quân nhà Minh mới bình tĩnh lại một chút. Tuy vậy, Mộc Thạnh và Trương Phụ vẫn tăng gấp đôi số lính tuần tra khu vực trướng bồng của các tham tướng, lại cho kéo dài mỗi ca thêm một canh giờ. Cũng may, hai người cũng thu hẹp phạm vi tuần tra để cân bằng lại.

Phiêu Hương nghe lời phân trần ấy chỉ trộm cười, thầm nghĩ nếu Quận Gió không nhân từ thì có mười tên Lý Bân cũng chẳng thấy được mặt trời ngày thứ hai. Chẳng thế, mà suốt mấy ngày qua mặc cho số lượng lính lác tuần tra quanh lều Liễu Thăng tăng gấp đôi, Quận Gió vẫn hết đến rồi đi, hết đi lại về như chốn không người, chẳng ai phát hiện nổi một chút tung tích của ông.

Không nói đâu xa, ngay lúc này đây Quận Gió đang âm thầm giảng giải về các danh gia võ học nước Nam cho Tạng Cẩu dưới lốt một tên lính già.

" Võ ta không phát triển rộng rãi, chiêu số chẳng hề đa dạng như của người Tàu, nhưng bàn về độ thâm sâu uyên bác chắc chắn không hề kém cạnh. Con phải nhớ khi đi lại trong giang hồ nước Nam ta, có câu bắc khí nam quyền. Phía bắc sở trường binh khí, đa số các môn phái nổi danh đều chỉ chọn lấy một loại võ khí mà nghiên cứu chuyên tâm, có luyện công phu quyền chưởng cũng chỉ để hỗ trợ mà thôi.

Đây là do người dân phải chống lại sự xâm lấn của dân Tàu. Trung Hoa khí hậu rất lạnh, nên dân họ ngoại hình cũng cao lớn hơn. Dùng binh khí, là để san bằng khoảng cách trời sinh về mặt thể chất.

Ngoại trừ đao thương kiếm kích, bổng côn xoa việt như trong mười tám ban binh khí của Tàu thì dân Việt ta còn sáng tạo ra vô vàn món binh khí độc môn. Sau này con hành tẩu ở mấy trấn phía bắc thì không được vì vũ khí của địch thủ quái lạ mà khinh thường.

Có anh em họ Đậu ở ngoại thành Thăng Long, tức là Loa thành năm xưa, nổi danh với ngón " Nồi pháp ” gia truyền. Hay lại có phái Cửu Cung ở miền biển. Đệ tử phái ấy sử một tấm lưới đánh cá rất lành nghề. Trên các mắt lưới đều có gắn móc sắt hoặc lưỡi dao, một khi bị chụp trúng trừ phi có thân kim cương bất hoại, bằng không ắt phải trọng thương. ”

" Nồi pháp??? Hai anh em này dùng nồi đất đánh nhau ư? ”

Tạng Cẩu nghe ông giảng giải mà như si như say, choáng váng cả đầu óc. Nó từ lâu đã không còn là đứa bé mới ra đời nữa. Đi theo quân Minh lâu ngày, từng thấy rất nhiều loại binh khí. Từ phổ thông như đao kiếm cung mác, đến hiếm gặp như mâu, kích, qua nó đều thấy qua. Nhưng lần đầu tiên nghe có người có thể dùng nồi đất làm binh khí để đánh bại kẻ địch.

Quận Gió vuốt vuốt hàm râu, nói:

" Không phải nồi đất mà là nồi gang, nắp bằng thép cứng có mép được mài cho thật bén. Nói về dòng dõi xa xưa thì hai người này là hậu nhân của Lạc Tướng Đào Nồi dưới trướng Thục Phán An Dương Vương năm xưa. Sau khi Dương Vương mất nước vào tay Triệu Đà, dòng dõi Đào Nồi phải đổi họ thay tên, mai danh ẩn tích để tránh gặp hoạ diệt tộc.

Ngón nồi pháp này tương truyền được sáng chế cùng thời với nỏ Liên Châu huyền thoại. Tuy không nổi danh bằng thần nỗ, Loa thành song cũng rất cao thâm huyền ảo. Chiêu số có tổng cộng một trăm lẻ tám ngón, được chia làm ba sáu đường thiên cương dùng thân nồi, bảy hai thế địa sát dùng nắp nồi. Thiên cương chủ thủ, địa sát chủ công, chẳng những biến hoá khôn lường, lại phối hợp với nội công trầm ổn độc môn của họ thì mạnh như hổ thêm cánh.

Đáng tiếc là bộ võ nồi này quá chú trọng vào đôi tay, công phu hai chân lại có phần qua loa. Nếu gặp họ chỉ cần đánh liên tiếp vào hạ bàn, thì nồi pháp có lợi hại hơn cũng sẽ bị phá giải. ”

Quận Gió là vua của giới lục lâm, nói khó nghe một chút thì là ông trùm của phường trộm cắp. Làm vua trộm, chẳng những cần phải hiểu rõ mục tiêu, mà đặc điểm của các môn các phái cũng cần nắm được ít nhiều. Để nếu mục tiêu có thuê họ làm vệ sĩ, thì chí ít cũng không bị rơi vào thế bị động.

Thầy giỏi ngoại trừ võ công ra còn truyền thụ cả những kiến thức ngoài lề này nữa. Tạng Cẩu có trí nhớ hơn người, mấy điều trên nó chỉ nghe qua một lần là nhớ được.

“ Phía nam thì nghệ thuật chiến đấu bằng tay không phát triển hơn nhiều, nhân sĩ giang hồ cũng thường đi lại tay trần chứ hiếm khi mang binh khí theo người. Những bài võ cổ như Võ Trâu, võ Gà hay võ Ngựa nức tiếng xa gần đã lâu về tính thực dụng và hiểm hóc của nó. Thầy từng gặp một vị võ sư ở cửa biển Kì La, có luyện chiêu Ngưu Giác chỉ trong pho Đông A thần chỉ đến mức đăng phong tạo cực, hùng kình hàm hậu không gì không xuyên phá được. Y đã có lần dùng ngón tay cái đâm thủng áo giáp, đủ biết uy lực ra sao.

Lại có một vị Mã chân nhân tu trên chùa Phúc Tâm bên dòng sông Hương, môn võ ngựa của y đã đến mức muốn sao được vậy. Ngọn cước song phi liên hoàn mạnh tới nỗi có thể đá gãy liền tù tì một khóm tre ngà, in dấu chân lên đá tảng.

Song trên đời không có gì là hoàn mĩ. Điểm yếu của võ công phía nam đa phần thường là khoảng cách. Vì không chú trọng binh khí, nên võ lâm phía nam thường gặp bất lợi khi địch thủ thạo môn ám khí. ”

“ Sư phụ, điều này con hiểu. Dùng vũ khí còn có thể đỡ gạt mũi tên, dao ngắn, chứ dùng hai tay thì khó càng thêm khó. ”

“ Đúng, nhưng chưa đủ. Ám khí, mạnh ở chỗ xuất kì bất ý, khiến đối phương không kịp trở tay. Thế nên mới có nhiều người bôi thuốc độc, chỉ cần ném trúng một phát thì kẻ thù sẽ như cá nằm trên thớt. Lại nói, ám khí thì có vô vàn loại. Tụ tiễn, chuỷ thủ, thấu cốt đinh, độc châm, thiết liên tử…v.v… Quỷ Diện Phi Châu của thầy cũng là một loại ám khí đả huyệt.

Nghe tay Khiếu Hoá Tăng khoe, gần mạn sông Đà có một người họ Lê, ám khí độc môn y dùng phỏng theo hình lá trầu và quả cau. Cau dùng như thiết liên tử, chuyên để đả huyệt. Còn lá trầu mảnh như giấy sắc như dao, lại bôi một chất kịch độc màu trắng tượng trưng cho vôi. Ba thứ kết hợp lại, sẽ tạo nên màu đỏ, đỏ của máu nạn nhân. Ám khí Trầu Không giết người dễ như giết gà, thật không thể xem nhẹ.

Điểm yếu chung của các loại ám khí là kình lực yếu, nếu đối phương cảnh giác thì có thể dễ dàng chặn được. ”

Sáng giảng chuyện giang hồ thì chiều chiều, Quận Gió mới dạy võ công. Trước tiên ông dạy Tạng Cẩu những thứ võ nghệ cơ bản. Đa số chúng được truyền xuống từ phương Bắc, là thứ mà ai hành tẩu giang hồ cũng phải biết như " Thiên Cân Truỵ ", " Quy Tức Công ”, " Bích Hổ Du Tường ”, " Điểm Huyệt Tiệt Mạch ”, " Súc Cốt Công ”, " Dạ Hành công ”, “ Nhạn Hành công ”…v.v…

Lần đầu tiên trong đời Tạng Cẩu có cảm giác bị nghẹn kiến thức, đến cuối buổi phải ngồi ôm đầu một lúc mới tiêu hoá được hết những gì vừa bị nhồi sọ. Phiêu Hương cũng ngồi cạnh nghe giảng. Cô từ bé chỉ học võ công gia truyền, những môn công phu tưởng như vô cùng phổ thông ấy cô lại chẳng biết mảy may. Nay được đích thân Quận Gió chỉ dẫn, chẳng khác nào học sinh mất gốc được thầy hay chám lỗ hổng kiến thức cho, thu lợi còn hơn Tạng Cẩu.

Tối ấy, trước khi Phiêu Hương về trướng bồng đi ngủ thì Tạng Cẩu có kéo áo cô lại hỏi:

" Này, cho Cẩu hỏi chút. Hồi sáng sư phụ buột miệng nói cái gì đó về bảy tông sư nước Nam. Tớ gặng hỏi mãi ông cũng không mở miệng lấy một lời, sáng mai cậu hỏi giúp được không? ”

Phiêu Hương nói:

" Cái ấy chẳng cần hỏi, ta nói đằng ấy nghe cũng được. ”

Tằng hắng một cái cho miệng đỡ khô, cũng để bản thân bình tĩnh lại một chút, cô bé bắt đầu kể bằng giọng hưng phấn.

Chuyện phải nói từ đại chiến hai phái chính - tà xảy ra hai mươi năm trước. Hai bên ai cũng muốn thống nhất giang hồ, thành ra giết nhau đến độ máu chảy thành sông. Trên triều có hôn quân, trong dân gian lại có chiến loạn, trăm họ ngày ngày nơm nớp lo sợ không phút nào được yên.

Cuối cùng, nhân vật đức cao vọng trọng nhất nước là Tuệ Tĩnh thiền sư (*) đã phải đúc ra ba tấm thánh lệnh Võ Lâm, phân chia lại các thế lực bạch đạo - hắc đạo trên giang hồ thành ba phe: Quần Hùng, Lục Lâm, Ẩn Thế.Hai phái chính - tà về một nhà, gọi chung là Liên Minh Quần Hùng. Các loại sơn trại, thuỷ tặc hành nghề buôn không vốn thì quy vào Lục Lâm. Còn Ẩn Thế bao gồm các thiền phái, mật tông lánh đời.

Sau khi thiền sư bắc tiến để hoàn thiện nghề y nước ta, các môn các phái lại nhất quyết cử đại diện của mình đến đất tổ Phong Châu, tổ chức đại hội võ lâm.

Cả võ lâm rục rịch, muốn dùng võ mà luận anh hùng, xem xem ai mới xứng là người đủ khả năng và nhân phẩm thống lĩnh các bang các phái. Cuộc tuyển chọn kéo dài suốt một tháng dưới sự chứng kiến của chư vị quốc tổ, ai cũng có thể tham gia. Thậm chí những hiệp khách không môn không phái như Khiếu Hoá tăng cũng không phải ngoại lệ.

Cuối cùng, cả võ lâm mới chọn ra được bảy người võ nghệ siêu quần bạt tuỵ, chính là bảy vị tông sư hiện tại. Trong chốn giang hồ không ai là không phục tài võ công của bọn họ, bèn tôn làm Bắc Đẩu Thất Tinh của võ lâm nước Nam.

Song thánh lệnh chỉ có ba cái, mà tông sư lại có đến bảy người. Thành thử không thể không có một buổi tỉ thí cuối cùng để phân chia ba tấm lệnh bài. Bảy người nghĩ đã ở Phong Châu rồi, chi bằng chọn đền thờ quốc tổ làm nơi thi đấu, vừa thiêng liêng lại thêm phần thành kính, cũng là để nói với tổ tiên rằng võ nghệ nước Nam do ông cha truyền lại hãy còn chưa thất truyền. Bảy người bèn sắm sửa hương hoả khấn tổ xin phép, rồi mới tỉ võ ngoài sân.

Trong sân đền Hùng ngày ấy có một cây đa cổ thụ, to hàng chét tay. Bảy người bèn coi ấy là nhân chứng do vua Hùng phái xuống trần, ra hẹn không ai được nhảy ra khỏi vùng bị bóng cây che phủ. Ngày hôm ấy về sau được gọi là đêm Hội Chí Tôn, còn cây đa cũng được đặt tên là Nhân Chứng.

Diễn biến của Hội Chí Tôn chỉ có cây đa Nhân Chứng được biết, người trong võ lâm chẳng ai tỏ tường. Nhưng sau tối hôm ấy, ba tấm thánh lệnh đều đã có chủ.

Ẩn Thế lệnh về tay Cứu Khổ thần tăng phái Nam Trúc Lâm, Quần Hùng lệnh thuộc về Thiên Cơ Lão Đạo còn Lục Lâm lệnh tất nhiên do vua trộm giữ. Không ai là không phục, ai về nhà nấy, đại chiến võ lâm quy mô lớn ở nước Nam mới chấm dứt.

Tạng Cẩu nghe xong chuyện xưa, hồi lâu mới hết bàng hoàng.

Đến lúc này nó mới biết, thì ra nước Nam không ít kì nhân, dòng dõi Lạc Hồng chẳng thiếu anh tài. Bất giác, một chút hào hùng nhen lên trong trái tim nhỏ bé của nó.

Cửa Hàm Tử thuộc vùng tả ngạn sông Hồng, gần bãi Màn Trù. Năm xưa năm mươi vạn quân Nguyên Mông sang xâm lấn, tướng giặc Toa Đô và cánh quân của y đã bỏ mình lại chốn này.

Biết được điều ấy làm Trương Phụ lo ay áy. Phải đóng quân ở địa phương người Nam từng làm nên chiến thắng lịch sử chống Mông - Nguyên thật khiến người ta bất an. Y cứ có cảm giác, rằng tại cửa quan này, binh tướng của Hồ Nguyên Trừng sẽ lần nữa làm nên lịch sử.

Nhưng nhìn các binh sĩ thể trạng rã rời, tinh thần mệt mỏi, y đành phải cắn răng lệnh cho ba quân hạ trại, nổi lửa nấu cơm. Chỗ y chọn nằm ở bờ bắc sông Hồng, gần một cánh rừng rộng. Có mấy nhánh sông phụ uốn lượn đi ra từ cánh rừng, thế nên quân Minh cũng không cần lo chuyện củi nước.

Mộc Thạnh và đám tham tướng đi khắp doanh chỉnh đốn lực lượng, nghỉ ngơi dưỡng sức để đánh một trận quyết định với quân Hồ. Mộc lại sai Lý Bân dẫn đám người Mạc Thuý, Nguyễn Huân, Đặng Nguyên đi dò la, vẽ bản đồ địa hình.

Lại nói đến Hồ Nguyên Trừng. Trận đánh Muộn Hải đang trên đà thắng lợi lại đột nhiên vấp phải sự quấy rối của cánh quân giang hồ, buộc phải thu quân. Chàng vẫn lấy điều ấy làm thẹn, bởi lẽ với số lượng pháo thần cơ trên thuyền đáng lí ra đã có thể đánh tan tành cả hai cánh quân của Trương Phụ và Mộc Thạnh chỉ với một trận.

Hồ Nguyên Trừng viết một phong thư gửi cho em trai mình, tức Khai Đại đế Hồ Hán Thương.

Bức mật thư này không được sử gia đề cập, nhưng trong ấy có ghi rằng: “ Cổ nhân có câu ngựa bắc, thuyền nam. Nay Trương Phụ lui quân ra đóng ở Hàm Tử, địa thế nơi ấy kị binh khó mà tung hoành ngang dọc được. Khi xưa thiết kị Nguyên - Mông nổi tiếng hung hãn thiện chiến còn phải thất bại, nữa là kị binh nhà Minh không dũng mãnh bằng nổi một thành. Nay xin hoàng huynh hạ chiếu ban quân tiếp lương, để Nguyên Trừng phá giặc. ”

Đêm trước khi cầm quân xuất chinh, chàng có đến tẩm cung vấn an thái thượng hoàng khi ấy là Hồ Quý Li. Không ngờ lại nghe được loáng thoáng tiếng Li nói trong lúc say: “ Trận này đừng nói là Nguyên Trừng, dù Hưng Đạo Đại Vương có sống dậy cũng chẳng cứu nổi Đại Ngu ta. Than ôi, giỏi cho một Cao Biền, cho một thế “ Rồng không đuôi ”. ”

Hồ Nguyên Trừng khi ấy không phục lời ấy, nghĩ thầm: “ Lời nói của đám thầy địa lí, sao có thể coi là thật được. Cứ coi như Cao Biền phát hiện ra miếng đất Thăng Long thì cũng chẳng đại biểu rằng y có thể tiên tri chiến cuộc của ngàn năm sau. Rồng dẫu không còn đuôi, vẫn sẽ vút bay lên chín tầng trời. ”

Rất nhiều năm sau, khi đã sắp mất nơi đất khách quê người, Nguyên Trừng mới thở dài mà nói:

“ Nhà Trần bấy giờ khí số đã tận, vua hủ bại còn tớ chỉ biết siểm nịnh mua vui, trong thiên hạ dân chúng có được an nhàn? Giặc Chăm từng đánh lên tận Thăng Long, để ai ra cản? Đứng lên thay triều hoán đại, đặng muôn dân được no cơm ấm áo thì đám hủ Nho bảo là sai, là bất trung bất nghĩa. Chẳng lẽ để mặc dân chúng trong cơn hoạn nạn là việc mà kẻ có lương tri nên làm chăng?

Hồ Quý Li ơi, có lẽ chỉ có thời gian mới rửa hết nỗi oan khiên, chỉ người đời sau mới tỏ được lòng người mà thôi. ”

(*) thiền sư Tuệ Tĩnh (1330-1400): có công sưu tầm sáng tạo ra nhiều bài thuốc dân gian, được tôn làm tiên thánh nghề thuốc nam. Cùng Hải Thượng Lãn Ông được y bác sĩ hiện nay cung kính gọi là tổ nghề. Năm 55 tuổi, ông bị cống sang Trung Quốc làm quan rồi mất luôn ở đó. Ngày nhậm chức ông đã khóc. Trên bia mộ nay hãy còn ghi dòng chữ " Ai về nước Nam cho tôi về với ".

Lưu ý: nửa sau cuộc đời Tuệ Tĩnh thiền sư trong truyện của Nghịch Tử sẽ được hư cấu hoá lên một chút, kết cục của ông cũng hơi khác so với trong chính sử. Âu cũng là chút lòng thành của kẻ hậu nhân, giúp hoàn thành ước nguyện của bậc tiên hiền. Muốn biết thiền sư đã lẩn khỏi phương bắc bằng cách nào, kính mời độc giả đón đọc những hồi sau của truyện.

Chương 20: Hồi bảy (2)

Sau vụ Muộn Hải, Hồ Nguyên Trừng cho quân truy lùng những tay giang hồ dám đại náo quân doanh, muốn trừng trị đám loạn thần tặc tử ấy một phen để răn đe. Nào ngờ đám người này đã chẳng còn bóng dáng, cứ như thể họ bay từ trên trời xuống, chui từ dưới đất lên vậy.

Ấy vừa là điểm yếu, cũng là điểm mạnh của nhân sĩ võ lâm. Những người này như là một đống cát, một đám bèo được buộc vào nhau một cách lỏng lẻo. Tuy là không thể đồng lòng đối địch, lúc giao tranh mạnh ai nấy đánh. Nhưng sự đời vốn là vậy. Tụ hợp dễ, tan rã cũng càng dễ. Một khi xong việc, mạnh ai nấy đi, vô câu vô thúc. Cho dù quân chính quy có thúc ngựa đuổi tới, cũng không còn đường nào mà lần.

E sợ đối phương tiếp tục quấy phá, Hồ Nguyên Trừng cho quân lui về cửa biển Đại An, lại để quân sĩ canh phòng thêm cẩn mật. Tối đến, lều nào cũng phải có một người thức trực, những người khác khi ngủ vẫn phải võ trang cẩn thận, khí giới phải để trong tầm với. Một khi có biến, người trực đêm lập tức gọi hết binh sĩ trong lều dậy, ùa ra đánh.

Quả nhiên, nhân sĩ giang hồ mắc bẫy, bị giết mất năm mươi mấy người. Ấy đều là đám cao thủ tam lưu không chịu nghe theo Thiên Cơ Lão Đạo phân phó, tự ý hành động nên mới dính phải bẫy rập của Hồ Nguyên Trừng.

Mấy ngày sau, thư đáp lại của Hồ Hán Thương truyền tới. Trong ấy ghi rõ sẽ dốc hết quốc lực tiếp viện cho Hồ Nguyên Trừng. Viện binh bao gồm mấy vạn đại quân, vài trăm chiến thuyền, ngàn khẩu pháo Thần Cơ. Khai Đại Đế Hồ Hán Thương đích thân xuất chiến, chấn hưng sĩ khí tam quân.

Hồ Nguyên Trừng không dám chậm chễ, vội vàng tự mình dẫn một toán quân ra nghênh đón. Đối ngoại lại cố tình nói khống lên viện binh đông tới hơn mười vạn vạn, thái thượng hoàng Hồ Quý Li tự mình ra trận. Kế ấy cốt là để suy yếu tinh thần chiến đấu của đối thủ, đề cao sĩ khí phe Đại Ngu, qua đó chiếm được tiên cơ. Hai bên đã sẵn sàng giao tranh một trận cuối cùng, cũng định sẵn cửa Hàm Tử sẽ là chiến địa. Trương, Mộc một mặt phát chiến thư, mặt khác lại cho quân diễn luyện mỗi ngày.

Nhưng những chuyện đánh đánh giết giết này cơ hồ chẳng có liên quan gì tới Tạng Cẩu. Mấy ngày này nó theo Quận Gió học võ nghệ, có tiến bộ rất lớn. Những ngón công phu cơ bản ấy nó đã nắm được bản chất, chỉ thiếu hoả hầu mà thôi nên có thể tự luyện. Đặc biệt là về phương diện thi triển chiêu thức Tạng Cẩu càng có tiến triển vượt bậc.

Quận Gió lim dim mắt, trông biểu cảm của lão thì chắc đang giảng đến chỗ hăng hái:

“ Kinh lạc của con người phân ra làm kinh mạch và lạc mạch. Cả thảy kinh mạch có mười hai đường chính kinh, mỗi kinh đại diện cho một trong ngũ tạng hoặc lục phủ. Những kinh này ở tay và chân mỗi bên có ba đường, phân làm hai loại âm dương. Lạc mạch có… ”

“ Sư phụ chờ chút đã!! Lục là sáu, ngũ là năm, cộng lại vị chi mười một! Thế tại sao lại có đến mười hai chính kinh?? ”

Tạng Cẩu ra chiều không hiểu, vội vàng lên tiếng hỏi. Bị cắt đứt mạch giảng, nhưng Quận Gió chẳng những không giận mà còn ôn tồn giải thích:

“ Được rồi, thằng nhóc này làm như sư phụ mi không biết dạy đồ đệ ấy. Nghe tiếp đi đã. Lạc mạch gồm tám mạch: nhâm, đốc, xung, đới, âm duy, dương duy, âm kiều, dương kiều. Ngoại trừ hai mạch nhâm và đốc ra, sáu lạc mạch còn lại không có huyệt đạo riêng nên người ta thường gọi tắt cơ thể người có mười bốn đường kinh lạc, gồm mười hai kinh mạch và hai mạch nhâm đốc. ”

Quận Gió thấy thằng nhóc nghệt mặt ra như ngỗng ỉa, biết nó đang dụng tâm ghi nhớ lời mình, bèn tiếp:

“ Được rồi, nhớ kỹ đây, mười hai chính kinh bao gồm: thủ thái âm phế kinh - thủ thiếu âm tâm kinh - thủ quyết âm tâm bào kinh, túc thái âm tỳ kinh - túc thiếu âm thận kinh - túc quyết âm can kinh. Thằng nhãi nấp đằng sau tấm liếp nghe lén kia, mau lấy văn phòng tứ bảo chép lại đi, không ta đổi ý không dạy nữa bây giờ! ”

Liễu Thăng xấu hổ vén liếp lên, vừa áy náy gãi gáy vừa ngồi xuống bên Tạng Cẩu, trong tay đã có giấy bút nghiên mực đầy đủ.

Phiêu Hương vội nói:

“ Uy, đại tướng quân bắc quốc cao quý các ngài học mấy món công phu mèo ba cẳng của đám man di Nam quốc ta làm gì chứ?? ”

Tạng Cẩu cười khẽ:

“ Nước Nam đất chật người thưa, làm gì có anh hùng hào kiệt? ”

Liễu Thăng xấu hổ đỏ bừng mặt mũi, mới lí nhí:

“ Khi trước Tử Tiêm ngông cuồng vô tri, mong tiền bối bỏ qua. ”

Quận Gió lườm hai tên giặc con một cái, khiến chúng nó rụt đầu rụt cổ lại. Lão khẽ hít sâu, rồi nói:

“ Đạo học vốn là kẻ biết dạy cho người không biết, nào có phân ra sắc tộc?? Nếu không phải khi ấy người bắc truyền xuống, e rằng ta cũng không biết tí nào về kinh mạch lạc mạch mà chỉ cho mấy đứa. Tuy nhiên lý luận là vật chết, người lại sống. Nên có kiến giải khác nhau, vận dụng khác nhau mà nên thành tựu khác nhau, không phải cứ là người Bắc nghĩ ra thì hơn dân Nam, dân Nam sáng tạo thì bỏ xa người Bắc. Chẳng những Trung Hoa, mà Đông Tây gì cũng phải vậy tuốt!

Tốt! Nhóc dám ra gặp, dám học thì Quận Gió ta dám dạy! Không biết như thế có xứng là anh hùng không??? ”

Liễu Thăng được ông khảng khái như vậy, lòng lấy làm mừng. Cậu càng khâm phục lòng dạ của Quận Gió hơn, bèn chắp tay vái:

“ Tiền bối độ lượng sảng khoái, ấy là lòng dạ của bậc đại anh hùng. ”

Mấy hôm trước y có nghe loáng thoáng mấy câu Phiêu Hương nói chuyện phiếm với Tạng Cẩu, lúc thử áp dụng thì nội công tăng tiến nhiều. Thầm nghĩ cái người dạy cho hai người thật là bậc kì nhân dị sĩ. Dù sắp đánh trận quyết định với nhà Hồ, cậu cũng không nén nổi mong ước được theo học Quận.

Lại nói, ông có thể nhẹ nhõm vào hẳn trong doanh trại nhà Minh mà dạy võ cho Tạng Cẩu, chỉ sợ trình độ võ công cũng đã đủ để xưng hùng xưng bá võ lâm Trung Nguyên.
Nghe thì ngại, không nghe lại tiếc, cuối cùng Liễu Thăng vẫn không kìm được lòng. Hôm ấy chờ sẵn, khi bên ngoài có tiếng người là lập tức mang giấy bút theo, ngồi ở xa len lén học.

Ba người dạy và học bằng tiếng Việt, cậu ta nghe câu hiểu câu không nhưng cũng cố hết sức ghi chép lại.

Quận Gió giảng tiếng về sáu kinh dương gồm: Thủ dương minh đại tràng kinh - thủ thái dương tiểu tràng kinh - thủ thiếu dương tam tiêu kinh - túc dương minh vị kinh - túc thái dương bàng quang kinh - túc thiếu dương đảm kinh. Nói hết một lượt, ông lại nhắc:

“ Vì sao chỉ có ngũ tạng, đó là vì tạng Tâm Bào mà ra. Người ta không xếp được Tâm Bào thành một tạng, ấy là do nó phụ thuộc hoàn toàn vào một tạng khác. Tim là tạng đứng đầu ngũ tạng, cũng là tạng trọng yếu nhất. Tâm Bào sinh ra để bảo vệ cho tim, không bao giờ tách rời, nên người chỉ có ngũ mà không có lục tạng. ”

Ông lại giảng giải sâu hơn về kinh lạc, về cách đả thông hai mạch Nhâm - Đốc khi tu tập nội công. Kế chuyển qua nói về các huyệt đạo, về lực và kình, về thủ pháp khắc địch chế thắng. Ông càng giảng lại càng thêm thâm ảo, ba đứa nghe câu được câu mất, nhưng đều cố gắng hết sức ghi nhớ.

Giảng xong tri thức cơ bản, Phiêu Hương biết ý lôi Liễu Thăng đang ngơ ngác dậy, đi qua chỗ khác để Quận Gió truyền thụ võ công cho Tạng Cẩu.

Võ lâm nước Nam đã có một quy củ bất thành văn từ thời Hai Bà, ấy võ công không mấy khi được chép hay khắc lại mà thường truyền miệng. Một sư phụ thường chỉ nhận vài ba đệ tử để dốc lòng truyền đạo, thế nên các môn các phái nước Nam dù lâu đời lắm cũng chỉ có mấy trăm người, song ai nấy đều tinh thông võ nghệ môn phái của mình.

Quận Gió dạy cho Tạng Cẩu môn công phu nội lực thành danh của ông là Bách Quỷ Dạ Hành. Đã được học tường tận về kinh lạc, nên Tạng Cẩu cứ y theo khẩu quyết mà hô hấp thổ nạp, chẳng tốn bao lâu hai mạch Nhâm và Đốc đã liền nhau, một luồng nội kình yếu ớt đã xuất hiện trong cơ thể.

Quận Gió lại hướng dẫn nó cách tích trữ nội lực vào huyệt đơn điền, xong xuôi mới bỏ đi. Gần đây ông cứ sáng lại đến, đêm thì rời khỏi, Tạng Cẩu cũng quen dần với hành tung xuất quỷ nhập thần của sư phụ nên chẳng bao giờ hỏi tới.

Nội công Bách Quỷ Dạ Hành vốn chẳng có tên, từ sau đêm Hội Chí Tôn người trong giang hồ mới phong cho nó cái danh này. Nguyên nhân là do lúc người luyện phát kình, nếu hoả hầu đủ thâm hậu sẽ có thể tạo ra tiếng bước chân người, tiếng tay áo kêu phần phật hoặc tiếng rên rỉ. Luyện tới mức cao thâm, một chưởng vỗ ra không chỉ có kình phong thổi rát mặt mà còn kèm theo tiếng rít gào kinh khủng như tiếng ma cười quỷ khóc. Trong lúc giao đấu, tâm cảnh chỉ cần không vững vàng, sẽ bị những âm thanh này mê hoặc, chết cũng chẳng biết vì sao.

Lần trước Quận Gió ra tay đánh Hồ Xạ, nội công bao trùm Quỷ Diện Phi Châu mới tạo nên âm thanh như tiếng cười xé tim ấy.

Bách Quỷ Dạ Hành dù không tính là nội công quá mức thâm ảo nếu so với những nội công thượng thừa khác. Thậm chí còn hơi lép vế hơn pho khinh công Lăng Không Đạp Vân và ám khí Quỷ Diện Phi Châu nhưng thắng ở tính hiệu quả.

Không có nó, cho dù thân pháp của lão đã đến mức kinh thế hãi tục cũng không thể ra vào Minh doanh như chốn không người thế được.

Tạng Cẩu nhận được chân truyền, dốc lòng học tập. Phiêu Hương thì tranh thủ thuật lại những gì mình hiểu sang tiếng Hán cho Liễu Thăng nghe, tất nhiên cô bé có giấu diếm một phần.

Gần sát ngày khai chiến, quân Hồ gióng trống khua chiêng tiến vào Hàm Tử quan. Thám báo đi dò la báo lại, chỉ thấy ở quân doanh nhà Hồ lều trại dựng lên san sát như rừng, chiến thuyền trên sông lớp lớp như sóng. Đã vậy còn có nhiều pháo Thần Cơ, lắm hoả dược, vô vàn kiếm cung thương mác.

Mộc Thạnh biết tin, cứ đi đi lại lại quanh cửa soái trướng hết ra lại vào. Còn Trương Phụ thì vò đầu, bứt tai, dứt tóc, vặt râu với đôi mắt thâm quầng hằn đầy tơ máu.
Không khí giữa hai bên căng như sợi dây đàn, Trương Phụ và Hồ Nguyên Trừng tính chuyện phái mấy toán quân nhỏ ra đánh nhứ, thăm dò thực hư quân địch.

Trận đầu tiên, Phụ để Lý Bân dẫn khoảng một trăm binh sĩ loại kém ra đọ lại quân Hồ. Hồ Đỗ là người cầm quân bên phía nhà Hồ. Để hư trương thanh thế, Nguyên Trừng phái hẳn một ngàn quân, toàn là lính tinh nhuệ một trăm tuyển một. Hai bên chèo thuyền nhỏ ra, đến giữa dòng thì gặp phải nhau. Lý Bân đứng ngay đầu thuyền, rút kiếm ra chửi:

" Quân man di mọi rợ phía nam hãy coi chừng, Lý Bân ta đây sẽ cho bọn mày biết thế nào là sứ……… ”

Vênh váo được nửa câu, Lý Bân mới nhận ra đối phương đông gấp mười quân mình, khí thế rùng rùng như có thể nuốt trọn trời đất chứ đâu có ô hợp như thủ hạ của y. Y rất bình tĩnh tra kiếm vào vỏ, nói nốt bốn chữ " sức mạnh Thiên Triều ”, rồi mới hất mặt lên, giọng khinh khỉnh:

" Đám man di đừng tưởng đông mà ta sợ, chờ đấy, một khắc sau hai ta đại chiến trăm hiệp!! ” - Nói đoạn quay vào dặn binh sĩ:

" Đem cho ta cái quần màu đỏ sẫm, mau lên. ”

" Hồi bẩm tướng quân, chỉ có đỏ tươi thôi, nhưng đây là quần yếm của một ả đào hát. Bì chức sợ… ”

Nói còn chưa dứt câu thì đã thấy Lý tướng quân thay vội cái quần trắng mình đang mặc ra, rồi còn nhúng nhúng cái quần đỏ vào nước sông cho ướt nhẹp mới chịu mặc lên. Cấp dưới trông thấy cảnh này, không hiểu ra sao. Lúc đầu y nhìn Lý Bân với ánh mắt cực kì cổ quái, nhưng rồi liếc qua phần đũng cái quần trắng Lý tướng quân mới thay ra, lúc này mới à một tiếng ra chiều đã hiểu.

Lý Bân thay quần xong, hài lòng vỗ vỗ cạp quần mấy cái, rồi mới sai một bộ hạ mang quần trắng về quân cho để giặt, còn dặn kỹ:

" Nhớ nói Lý tướng quân bất cẩn trượt chân xuống bùn, làm vấy tanh lên quần. Ra trận mà quần lấm bẩn, áo chẳng sạch là coi thường đối thủ. Hơn nữa có câu thân bẩn thì tâm không thanh tịnh, mặc quần dính bùn rất ảnh hưởng tới tâm cảnh của người cầm quân, như thế thì khó mà giành được chiến thắng. Nên cho dù có mặc y phục của phận nữ nhi, ta cũng vẫn phải thay ra để tròn đạo làm tướng, giữ lấy phong phạm chí cao của Thiên Triều. Có hiểu chưa? ”

Binh sĩ vâng vâng dạ dạ một hồi, lại khen ngợi:

" Lý tướng quân thật là bậc kì tài trong việc dùng binh, thông hiểu binh đạo chẳng thua gì Tôn Tử, Hàn Tín ngày xưa. Quả là tấm gương sáng để cho bọn thuộc hạ học tập. Lòng bội phục của tại hạ dành cho tướng quân đây thật giống như nước sông chảy cuồn cuộn, không bao giờ ngừng, như Hoàng Hà sóng xô không gì cản nổi… ”

Nịnh bợ xong, y mới xuống thuyền bơi về.

" Tướng nhà Hồ bên kia, có gan thì mau xưng tên. Lý Bân này không giết hạng vô danh tiểu tốt. Nếu như thân phận mi quá thấp thì ta tha cho một mạng mà về gọi thằng nhãi Nguyên Trừng ra đánh với ông đây. ”

Ngoài miệng thì ăn to nói lớn, nhưng thực ra trong bụng y lại nghĩ thầm: [ Mặc kệ ngươi là ai, ta cứ bảo ngươi là hạng tôm cua nhãi nhép. Sau đó mở lượng hải hà, tha cho về gọi Hồ Nguyên Trừng là được. ]

Loại người như Lý Bân được người đời gọi là " thùng rỗng kêu to ”.

" Tướng quân nói chí phải!! ”

" Thực đúng là Lý tướng quân. Đây mới là phong phạm mà một bậc đại tướng nên có. ”

Quân Minh hò reo, gõ đao vào thuẫn trợ uy vang lừng cả mặt sông. Lý Bân thì đứng ngay cửa vào khoang thuyền, đầu nhấc 45 độ, mắt nhắm hờ, tay đặt lên đốc kiếm đeo ngang thắt lưng. Chiến bào y phất phơ bay trong gió, tay áo bay múa uyển chuyển như mây.

Y lại cho một đám lính nấp sau lưng mình, mượn khoang thuyền che chắn khiến quân Ngu không ai thấy rõ có người phía sau. Lại cho người dùng kiếm đục sẵn nóc khoang thuyền cho ánh mặt trời có chỗ mà chiếu vào, nói thác là: “ khiến cho khí đọng thoát ra ngoài, vượng khí theo ánh dương vào được trong khoang, cơ hội chiến thắng sẽ cao hơn ba thành. ”

Đám lính lấy vài mặt gương đồng ra, lợi dụng ánh sáng mặt trời để khúc xạ lên nan tre sau lưng y. Nhờ có nền gỗ đen thui, trong khoang thuyền đèn đóm đã tắt hết, ánh sáng phản chiếu lên đầu Lý Bân, cứ như hắn đang toả ra một vầng hào quang vậy.

[ Trước bộ dáng nam thần cổ trang của ta, đám khỉ nước Nam này ắt sẽ sợ hãi gào khóc xin tha mà thôi. Ha ha, tại sao đế quốc Hoa Hạ hùng mạnh của ta mà lại thua đám Việt Nam tép riu này nhỉ??? Lần này với sự trợ giúp của Lý Bân, tức sinh viên đại học chết vì uống nhầm thuốc tiêu chảy cho lợn Đồ Ngu này, quân Minh ta ắt sẽ đại thắng cho xem. Đám Nam quốc cổ đại ấy ngu như khỉ thì biết gì về tâm lí chiến kia chứ?? Một chiêu này chính là Không Thành Kế nổi danh của Gia… ]

Đoàng!!!

Lời còn chưa dứt, thì một viên cầu sắt nặng chình chịch đã lao vút vào khoang thuyền. Rầm rắc rắc một hồi, sau lưng Lý Bân đã có tiếng bong bóng nước vang lên lục bục.

(*) chú thích nhỏ: nhân vật Lý Bân ( Đồ Ngu) sẽ có vai trò kha khá ở thiên thứ hai của truyện, những sự kiện ở hồi này là để giúp phát triển nhân cách của y.

(**) Đồ là một họ ở Trung Quốc, Ngu là yên bình. Xin đừng hiểu lầm tác giả

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau