THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 156 - Chương 160

Chương 156: : Hồi mười tám (6)

Mưa vẫn rơi...

Nhưng người đã nằm lại.

Hoàng Phúc cất cung, cẩn trọng đến gần thi thể Hoàng Thiên Hóa.

“ Tim đã ngừng. Mạch bất động. Cũng không thấy thở nữa. ”

Y quệt lấy máu ở kẽ tay đảo chủ đảo Bạch Long, đưa lên ngửi. Mùi tanh của máu xông vào choán đầy hai khoang mũi, khiến tóc gáy lão hơi hơi dựng lên.

“ Y đã chết rồi! Thu quân! ”

Đoàn người lục tục kéo nhau đi khuất vào trong màn mưa dày đặc. Thỉnh thoảng, vẫn có tiếng xì xào to nhỏ về một lão hòa thượng mới bị bắt hồi nãy, lúc Hoàng Phúc tướng quân giao thủ với kẻ thần bí người An Nam.

Chuyện có cao thủ võ lâm đến tìm cách cứu viện, ý đồ phóng thích tù nhân vốn chỉ là chuyện hiển nhiên trong lúc hai quân giao chiến. Lần trước đại chiến với quân nhà Hồ, Mộc Thạnh cũng đã nếm thử, thành ra cũng không lấy gì làm lạ. Lão chỉ coi việc hôm ấy là như một giọt nước nhỏ xuống đại dương, so với những cuộc du kích hàng ngày của quân Đại Việt còn vô nghĩa hơn nhiều.

Thế là, lão gọi hết tướng tá lại, bàn bạc xem phải vượt qua bến Bô Cô bằng cách nào để thương vong ít nhất. Hoàng Phúc cũng chẳng ngoại lệ

Chủ tướng chẳng buồn hỏi, sĩ tốt cũng không có ý đi mua việc vào người. Thế là cái xác của Hoàng Thiên Hóa bị vứt chỏng chơ ở bên sông, không ai thu dọn.

Lạ một chỗ, là sau khi bị bắt, Khiếu Hóa Tăng cứ ngồi im ru trong xe tù. Hoàng Phúc biết lão là kẻ máu mặt trong giới võ lâm, vẫn muốn giết quách đi. Song... y ngoại trừ là tướng, còn là một tên võ si. Lúc hạ quyết định, lại tiếc trận đánh dang dở hồi đó. Thành thử, y lấy khóa bằng huyền thiết cùm tay Khiếu Hóa, lại dùng châm huyền thiết khóa cứng xương tì bà của ông. 

Khiếu Hóa Tăng tạm thời bị phong bế nội công, nhưng xem chừng vẫn còn nhởn nhơ lắm. Đến bữa thì mở mắt đòi ăn, xong lại khép mi tĩnh tọa chẳng khác nào tượng gỗ. Nếu không phải thỉnh thoảng lão phát ra tiếng ngáy, người ta còn tưởng lão đã chết rồi.

Trước hôm khai chiến một ngày, một người quen có đến gặp Khiếu Hoá Tăng.

“ Trần Triệu Cơ? Ngươi đến đây làm gì? ”

Lữ Nghị nhíu mày, giọng tỏ rõ vẻ hồ nghi.

Kẻ phản chủ cầu vinh, bán đứng bạn bè, đi đâu cũng chẳng thể ngóc nổi cái đầu lên làm người. Đừng nói là Lữ Nghị vốn căm ghét người Nam, đến tên lính lác tầm thường trong quân ngũ Đại Minh cũng chẳng ngửi nổi nhân cách những tên hàng tướng như vậy. Thường là họ tránh giao du, không thì cũng hết sức đề phòng.

Trần Triệu Cơ nói:

“ Chẳng dám giấu tướng quân. Ta được lệnh của hầu gia, đến đây khuyên hàng tra khảo lão ta. ”

“ Cứ làm… ”

Lữ Nghị cười khinh khỉnh, đáp.

Lão sư già như kẻ ngố, cứng mềm đều không ăn, dụ dỗ đe doạ lão đều không để vào mắt. Lữ Nghị không tin tưởng dù chỉ một chút rằng Trần Triệu Cơ có thể lung lay lão.

Quả nhiên, mặc cho Triệu Cơ nói ngả nói nghiêng ra sao, lão Khiếu Hoá Tăng vẫn cứ nhắm tịt mắt trơ trơ ra đấy.

Rốt cuộc, Lữ Nghị nghe thấy tiếng Triệu Cơ quát lớn:

“ Cái đồ không biết phải trái! ”

Đoạn có thanh âm kim loại va chạm cao vút lên, tổng cộng bốn lần liền.

Kế, chỉ thấy Trần Triệu Cơ bước ra, cằn nhằn:

“ Tên này quả thực cứng cựa, nói mãi không chịu nghe. Thành ra ta mới tức mình chém cho bốn kiếm vào cũi sắt. Chi bằng sau trận chiến, chém quách nó đi cho rảnh nợ. ”

Lữ Nghị cười khẩy, từ chối cho ý kiến.

Ngày khai chiến...

Mặt sông từ lúc nào đã đậu đầy chiến thuyền của quân Minh, xuôi từ thượng nguồn sông Đáy xuống. Dưới bóng tinh kì phấp phới phản chiếu nơi mặt sông là cơ man không biết bao nhiêu chiếc thuyền con mà đếm xuể. Chúng vây lấy các chiến thuyền lớn, như cách sao trời vây lấy ông trăng vậy. Ấy vốn là thứ thuyền dùng đánh giáp lá cà trên mặt nước. Mộc Thạnh biết người Nam giỏi thủy chiến, ba lần thất bại ê chề thời Nam Hán, Tống, Nguyên hãy còn ở trước mắt.Về phía quân Hậu Trần, thuyền chiến cũng đã kịp tải khí cụ thủ thành dọc theo sông Vân đến nơi. Đặng Tất cho quân sắp xếp lượng lớn hỏa lực vào mặt bắc núi Dục Thúy, dọc theo triền núi, dựa vào sự che chắn của lũy tre để ẩn mình. Một lát nữa, khi hai quân giao chiến, sẽ dựa vào yếu tố độ cao chiếm lĩnh ưu thế.

Trống trận gióng thùng thùng, rơi xuống dòng sông rồi dội ngược lên tận đỉnh núi Dục Thuý cao chót vót.

Mộc Thạnh đứng bên bến đò, nheo mắt nhìn phía xa.

Phía tây, cửa sông nơi sông Vân giáp ranh với sông Đáy, thấp thoáng dưới những lớp sóng thét gào là bóng từng lớp từng lớp cọc nhọn cắm chi chít ở đáy sông. Gió thổi áo bào tung bay theo tay áo. Tay lão nắm chắc cây siêu đao, trong lòng không khỏi cảm thấy hừng hực, ngay cả khi đôi môi khô nẻ chưa thấm men cay.

Trên núi Dục Thúy, Đặng Tất tự mình đi đến đốc thúc pháo binh.

Ông biết, Mộc Thạnh chẳng phải kẻ tầm thường. 

[ Lão chắc chắn sẽ đợi lúc thủy triều lên rồi mới tấn công, lúc ấy bãi cọc sẽ vô dụng. ]

Theo lẽ thường, chẳng ai làm tướng mà lại ngu ngốc đi tấn công vào lúc này, nhất là khi thủy triều đang đà rút, đầu cọc đã thấp thoáng ẩn hiện giữa từng con sóng.

Song...

Trống trận bắt đầu vang động.

Đặng Tất giật mình, nheo mắt nhìn về phía sông Đáy.

Chỉ thấy những thuyền chiến lớn của quân Minh đã bắt đầu lắc mình, rẽ nước tiến về phía bờ bắc núi Dục Thúy.

Mộc Thạnh xua quân ra trận ngay trong lúc nước triều đang rút xuống.

“ Chuyện này... ”

Đặng Tất tỏ vẻ hồ nghi. Hiển nhiên, Mộc Thạnh chẳng ngốc đến nỗi nghĩ rằng cái trò giả vờ thô kệch lỗ mãng của lão sẽ hiệu quả thêm lần nữa. Thế thì tại sao lão lại làm cái chuyện chẳng khác nào tế sống đại quân như thế?

Thắc mắc thì thắc mắc thật, nhưng chẳng còn thời gian để mà nghĩ nhiều. Bởi... thuyền chiến của quân Minh đã lọt vào tầm pháo.

“ Khai Hỏa!!! ”Đặng Tất vung tay, quát to ra hiệu. Tức thì trên sườn núi, tiếng giáo mác gõ lên thân tre lóc cóc vang lên liên hồi, âm vang ngâm nga chẳng khác nào trống trận. Lá tre lác đác rơi nghiêng, đậu lên nòng pháo lạnh buốt.

Đoàngggg!!!

Tiếng gầm đầu tiên, kéo theo một loạt những tiếng rít gào khác của dàn hỏa pháo. Đạn sắt to và nặng hàng chục cân, từng viên từng viên một xé tung lũy tre xanh rì, giáng mạnh xuống mặt nước bên dưới. Chỉ nghe ùm ào một trận dài, nước sông bắn tung lên thành từng hàng cột nước, có những cái cao cả trượng. 

Sông Đáy sủi bọt, chỗ trắng chỗ đỏ.

Quân của Thạnh cũng nâng họng pháo, bắn trả vào lũy tre dày mọc chi chít trên núi.

Cái thứ cỏ kì lạ ấy, oằn mình dưới sức nặng của viên đạn pháo, nhưng không chịu tan tác. Cây nọ gối lên cây kia, đỡ cho nhau. Trong khi đó, tốp pháo thứ hai của quân Hậu Trần cũng khạc ra những viên đạn đầu tiên.

Nhưng rồi tốp thứ hai cũng bắn xong.

Pháo muốn gầm tiếp, giờ lại phải nhờ những bàn tay gân guốc nhễ nhại mồ hôi làm việc không ngơi.

Mộc Thạnh thì chỉ đợi lúc này phát lệnh, để quân lính trèo khỏe gấp hai, gấp ba bình thường. Thuyền chiến của quân Minh sống sót qua dàn hỏa pháo đầu tiên, băng băng tiến về phía bờ bắc của núi Thúy. Đặng Tất thấy vậy, một mặt thì cho quân chỉnh lại họng pháo, mặt khác lại ra hiệu cho cung thủ.

Thuyền địch đã vào tầm bắn.

Nỏ cứng đã kéo căng, lúc này nhất tề phát xạ. 

Pâng! Pâng!

Trong một khoảnh khắc ngắn, bầu trời trên sông Đáy bị bao phủ bởi một đám mây đen đặc. Tên tre, tên sắt thi nhau dội lên đoàn thuyền chiến. Trong đó không thiếu những cây mâu sắt dài cả mấy xích được bắn bằng nỏ công thành.

Mộc Thạnh cũng đã liệu trước. Một mặt thì lão ta cho quân giơ khiên lên đỡ tên, mặt khác thì gọi cung thủ kéo lên bắn trả. Những mũi tên tẩm dầu, cháy rừng rực thi nhau thắp sáng khoảng không trước mắt quân lính Hậu Trần.

“ Cứu hỏa! ”

Quân Trần, vừa thấy lửa từ mũi tên lẹm vào đám cỏ, là lấy nào đất nào cát lấp kín dập tắt ngay, không để lửa lan rộng hơn. Có thể thấy, chỉ thị của Đặng Tất được truyền lưu và chấp hành trong tam quân một cách nhanh chóng và trơn tru đến như thế nào. Đừng nói là chỉ dùng cờ hiệu bình thường, cho dù có lấy bộ đàm hiện đại ra, cũng chưa chắc hoàn thành nổi.

Bấy giờ, Lê Hổ được phân cho một đám lính vừa già vừa yếu, một mình thủ một góc hẻo lánh phía đông.

Thì ra ở phía Đông núi Dục Thúy cũng có một nhánh cửa sông, cách chiến trường chính một quãng cỡ mười dặm đường.

Trần Ngỗi thì một mực cho rằng, Mộc Thạnh sẽ không kéo quân đánh úp từ mặt đông qua. Đặng Tất cũng thấy chuyện đó hơi vô lí, nhưng xuất phát từ việc cẩn trọng, thế nên phái Đinh Lễ - Lê Hổ dẫn theo một cánh quân đến đó canh chừng. Cả hai đều không ngờ, tướng lãnh dưới trướng vì ganh ghét chức Kim Ngô tướng quân của Hổ, nên xếp cho cậu toàn lính già yếu, đa phần là người của ngôi làng hẻo lánh nọ.

Chúng nghĩ, quân Minh chắc chắn sẽ không đánh mặt đông đâu.

Đinh Lễ gặp chuyện này thì bực mình ghê gớm lắm. Cậu chàng nằm khểnh trên lưng con Đại Thắng, chân vắt chữ ngũ, mồm ngậm nhánh cỏ, trong họng hãy còn ngâm nga một giai điệu không tên.

Về phần Lê Hổ, cậu chàng tranh thủ cơ hội này ngồi quan sát hết thảy chiến cuộc, xem thử có đúng với những gì binh pháp vẫn chép hay không.

[ Ồ, lạ thật. ]

Lê Hổ phát hiện, quân Hậu Trần mặc dù ô hợp hơn, nhưng vận hành sách lược, thực thi mệnh lệnh được giao lại trơn tru hơn hẳn. Chẳng phải vô lí ư?

Thực ra... hoàn toàn khả thi.

Đặng Tất chia quân thành từng nhóm nhỏ, cứ một binh lính tinh nhuệ cũ của ông ở Hóa Châu sẽ cầm đầu chín người thuộc các cánh nghĩa quân. Mỗi khi ông phất cờ lệnh ra hiệu, thì những người này có nhiệm vụ nhìn và thực hiện mệnh lệnh được giao. Chín người còn lại chỉ việc nhìn theo và bắt chước.

Thành thử mới có cái chuyện ngược đời kia.

Chương 157: Hồi mười tám (7)

Bấy giờ thì Mộc Thạnh đã giúp thuyền chiến của lão vượt qua năm đợt pháo kích, mấy chục trận mưa tên lớn nhỏ. Mà quân Hậu Trần, được Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân dẫn dắt, cũng sống sót qua bảy lần công phá của chiến thuyền. Quân Hậu Trần có lợi thế độ cao đấy, nhưng đại pháo đặt trên núi chung quy là tĩnh, còn thuyền trên sông là động. Tức là, Mộc Thạnh chiếm thiên thời, Đặng Tất nắm địa lợi. Kết cục sẽ ngả về bên nào, thực tình khó mà đoán trước.

Hai quân đã giao tranh hơn nửa ngày, thủy triều bắt đầu dâng lên.

Cũng đồng nghĩa, thời cơ mà Mộc Thạnh còn thiếu để tấn công một đòn toàn lực đã đến.

Đặng Tất thấy vậy, không thể không xua thủy quân ra đánh. Nháy mắt, vô số thuyền con đậu ở cửa sông Vân – Đáy nhất tề trút bỏ lớp ngụy trang từ lau sậy và đất cát, đồng loạt lao về phía chiến thuyền của quân Minh. 

Mộc Thạnh không có vẻ gì là bất ngờ, thuyền độc mộc của quân Minh cũng chèo ra nghênh chiến.

Luận về thủy chiến, người Đại Minh thua xa người Đại Việt. Nhưng quân Minh hơn ở số lượng, lại cậy ở gần chiến thuyền, thế nên đánh hăng hơn hẳn. Thuyền nhỏ của quân Hậu Trần chống trả ngoan cường, song trước chiến thuật lấy thịt đè người của thuyền lớn địch, cũng phải núng thế.

Quần nhau thêm mấy canh giờ, cánh thủy quân phục ở cửa tây buộc phải rút về.

Mộc Thạnh biết đây là cơ hội hiếm có, bèn cho nổi trống lớn, dốc toàn lực tấn công bờ bắc núi Dục Thúy. Được sự yểm hộ của hỏa lực dồn dập, chiếc thuyền con đầu tiên của quân Minh rốt cuộc cũng chạm được mũi vào chiến lũy đắp bằng đất của quân Trần. Chỉ cần húc đổ được bức tường đất này, là sẽ có chỗ để đổ bộ.

Thuyền lớn không dám tiến vào sâu hơn vì bãi cọc còn đó, nên chỉ có thể ở cách bờ một quãng độ mấy trượng.

Quân Hậu Trần ở sau những bức lũy đất bắt đầu vùng lên, lấy đá lấy cây lẳng vào đầu quân Minh. Cùng lúc ấy, Đặng Tất và quân sĩ chỉnh thấp được họng pháo. Thế là, ông cho pháo toàn lực nã đạn xuống chiến thuyền của địch.

Mộc Thạnh một mặt vẫn phản bắn phá chiến lũy yểm hộ quân của mình, mặt khác cũng phải cho tàu ổn định lại sau mỗi lần mặt nước bên cạnh trúng phải đạn pháo. 

Tiếng xương người gãy rụp trong giáp trụ vụn vỡ luẩn quẩn trong âm thanh rầm rầm của đá lăn, gỗ nện, của sóng nước vỡ tung dưới từng viên đạn pháo, của tre ngà đổ rụp trươc đạn của ngoại xâm.

Rốt cuộc, thủy triều cũng đến lúc phải xuống.

Thuyền con của Quân Minh sợ lúc bãi cọc nhô lên sẽ sa lầy, tiến thoái lưỡng nan, thế nên cả bọn hò nhau chèo thuyền ngược ra giữa sông hội họp với thuyền lớn.

Hai bên tiếp tục giằng co, tranh giành từng tấc chiến thuỷ. Nước sông cuộn trào, sục lên toàn những bọt máu đỏ lòm.

Cuồn cuộn chảy…

Vậy là thuỷ quân Đại Minh đã giao chiến với quân Hậu Trần được một ngày đêm.

Sáng sớm. Phía đông, cách chiến trường chính mười dặm.

Đinh Lễ ngồi thẳng người trên con Đại Thắng, đoạn lấy cây côn sắt ra thủ thế.

“ Địch đến! ”

Lê Hổ nhìn những người lính dưới trướng mà lòng trùng hẳn xuống. Chẳng những ô hợp mỗi người đến từ một toán nghĩa binh khác nhau, trong quân người thì già kẻ lại yếu. Có cả những ông bác đầu đã hai thứ tóc, tuổi tráng niên đã qua đi từ lâu.

Xa xa, quân Minh võ trang cẩn thận, gươm giáo chỉnh tề, hành quân ngay hàng thẳng lối, quy củ rõ ràng. Chỉ riêng việc ấy thôi là đủ thấy sự chênh lệch giữa hai bên là lớn đến mức nào.

Lê Hổ cắn môi, nghĩ thầm:

[ Mộc Thạnh cho quân đánh thọc từ phía đông sang, chắc chắn là quân tinh nhuệ. Là mình mình cũng sẽ làm như thế thôi. Làm sao mà cản địch đây? ]

Quân số của Lê Hổ đã ít, chất lại còn kém xa. Đừng nói là đánh lui, cầm cự được một canh giờ cũng đã khó lắm rồi.

Đến Đinh Lễ không sợ trời chẳng sợ đất cũng đổ mồ hôi.

“ Chiến thì tôi chẳng sợ, nhưng chết vô ích như thế thực là chẳng đáng tí nào. Chủ công, có cách nào không? ”

Lê Hổ lắc đầu, thở dài:

“ Đối phương không cưỡi ngựa, ngự thú thuật của Phạm Ngọc Trần có thần kì hơn cũng vô ích. Dựa vào mình chúng ta, không đấu nổi. ”

Đinh Lễ nắm chặt sừng trâu, chặc lưỡi một cái.

Bản thân cậu cũng thừa biết điều đó.

Lê Hổ lại tiếp:

“ Đinh Lễ, cậu có Đại Thắng Thần Ngưu đi được ngàn dặm. Hãy mau mau về núi Thuý, xin Đặng đại nhân chi viện. ”

Đinh Lễ gạt phắt, nói:

“ Không được! Nếu chủ công mà có mệnh hệ gì, tôi phải ăn nói sao với bà lớn? ”
“ Ở lại cũng chỉ chết cả đám! Cậu cũng biết mà!! ”

Lê Hổ quát lớn, tay lại đặt lên vai Đinh Lễ, vỗ mấy cái ra chiều trấn an.

Nói đoạn, cậu chàng cười khì, bảo:

“ Yên tâm đi! Vừa đánh vừa lui, cầm chân thì chắc tôi làm được. Mạng tôi cứng lắm. ”

Đinh Lễ nói:

“ Nếu thế, chủ công dùng Đại Thắng mà đi, tôi ở đây chống giặc… ”

Lê Hổ hít sâu một hơi, đang định nói gì đó, thì chợt sau lưng có tiếng nói:

“ Ai ở lại mà chẳng được! Hai người cứ ở đó lải nhải, lề mà lề mề!, quân địch đánh đến thì chết cả đám! ”

Người xen vào là Phạm Ngọc Trần.

Lê Hổ lúc này mới sực nhớ ra cô nàng. Cậu đang định lên tiếng bảo Đinh Lễ chở cả cô về hậu phương, thì Phạm Ngọc Trần đã nói:

“ Huống hồ, có tôi đây, chúng không làm gì được chủ công của cậu đâu. ”

Đinh Lễ ngẫm kỹ lại, nhận ra mình đi sớm chút nào, Lê Hổ sẽ đỡ phải cầm cự chút ấy. Mà chiến trường hiểm ác, đôi khi một hoặc hai giây, cũng có thể là lạch trời ngăn cách giữa sự sống và cái chết. Nghĩ thông, cậu bèn giật cương con Đại Thắng. Trâu trắng lồng lên, sau đó hóa thành một cái bóng trắng lao vút về phương tây. Chỉ có lời nói của Đinh Lễ là còn vọng lại:

“ Chăm sóc chủ công của tôi! ”

Lê Hổ quay lưng, nắm chặt thanh đao, nhìn xuống ba quân mà nói:

“ Tôi biết mọi người vẫn coi tôi là kẻ bất tài vô dụng, dùng thủ đoạn đút lót đưa tiền, mua quan bán tước. Mọi người không muốn nghe theo lệnh tôi, hẳn cũng là lẽ thường. Nhưng giặc bắc đang ở trước đầu mũi đao, ngoại xâm đã đến ngay tầm tên bắn. Thế nên, xin mọi người hãy tin tôi một lần! ”

Lại có người lớn tiếng hỏi ngược:

“ Nhà ngươi đã tự nhận mình bất tài vô dụng, phải dùng mấy đồng tiền thối mà tiến thân. Thử hỏi tại sao chúng ta phải nghe lời ngươi, mà không tự mình nghĩ cách phá giặc? Có khi cửa sống còn rộng hơn! ”

Lê Hổ từ tốn:

“ Lần này địch đông ta ít, giặc lại dày dạn trận mạc, kinh nghiệm phong phú. Nếu anh hùng có sách lược nào đối kháng nổi, tôi xin rửa tai lắng nghe. ”

Toàn quân chìm vào im lặng.

Địch thủ chẳng những đông hơn, lại còn tinh nhuệ thiện chiến, thạo chuyện binh lửa, hay nghiệp gươm đao. Nhìn lại phía ta, toàn là nghĩa binh tự phát, đã vậy còn kiếm cung vụng về, ngoại trừ một bầu máu nóng ra thì chẳng có gì hết.Làm sao mà thắng nổi?

Phạm Ngọc Trần chắp tay sau lưng, bước hai bước, cười khì:

“ Không nhìn ra ngươi lại là kẻ gan lớn bằng trời đấy. ”

Lưng Lê Hổ quay về phía cô nàng, thành thử Phạm Ngọc Trần chẳng thể thấy nổi nét cười chua chát của cậu chàng.

Bi kịch sẽ lặp lại lần nữa?

Lê Hổ hít sâu một hơi, chậm rãi:

“ Trận này xem ra phải nhờ cô. ”

Giờ nói lại chuyện của đám Tạng Cẩu.

Tính đến giờ, nó sang Tàu cũng đã được hơn một năm. Thế mà tung tích của thiền sư Nguyễn Minh Không vẫn chẳng có gì hơn bốn câu thơ thiền sư Tuệ Tĩnh để lại.

Bấy giờ năm cũ cũng sắp hết, năm mới đã sắp sang.

Không khí tân niên thì đã kịp lan khắp các phố to, phố nhỏ của thành Kim Lăng hoa lệ. Phủ Tần Hoài, vốn gần dòng sông nổi tiếng lắm giai nhân tài tử, lại càng nhiệt náo hơn. Từ hàng quán ven đường đến tửu lâu bề thế, từ nhà dân ọp ẹp đến phủ viện cao sang đều khoác lên một màu hồng đỏ ấm áp. Đèn lồng lấp lánh, tiếng pháo ì ùng. 

Hồ Phiêu Hương đứng trên đầu tường, tuyết nặng phủ đầy lên chóp ô, song cô bé cũng chẳng buồn phủi. Đôi mắt long lanh như ngọc lặng yên quan sát khung cảnh phố xá lúc xuân sang mà tưởng như, ngồi ngay bên cạnh, là một đứa nhóc con... Tuyết sẽ phủ kín lấy vai áo nó, lấy đỉnh đầu. Thế rồi nó sẽ rung cả người, cả mái tóc lòa xòa như cái tổ quạ, như con chó mắc mưa vậy.

Và sau cùng, thằng bé ấy kiểu gì cũng sẽ thở ra một câu gì đó sâu xa, hệt như ông cụ non.

“ Có lẽ, Tạng Cẩu sẽ nói thành Kim Lăng phồn hoa và cái thôn Điếu Ngư nhỏ bé của nó thế mà có không ít điểm chung... ”

Tạng Cẩu bị bắt đi đến nay đã gần năm trời.

Tung tích của nó cũng giống như manh mối về thiền sư Nguyễn Minh Không vậy.

Một năm đã trôi qua…

Chuyện Tửu Lâu xách đao lên điện Thái Hoà toan chém Vĩnh Lạc đã chìm hẳn vào quá khứ. Cáo thị truy nã vẫn dán đầy đường, nhưng tiếng chân sục sạo của binh lính đã ngớt hẳn.

Sau khi Tạng Cẩu mất dạng cỡ hai tháng, Lý Bân cũng ra làm quan trở lại, không cáo bệnh ở nhà nghe ngóng nữa.

Lạ một cái, là Chu Đệ vẫn cứ để y nhởn nhơ… ngay cả khi miệng lưỡi quan trường đều đổ dồn mũi nhọn vào phía y.

Vĩnh Lạc nghĩ gì, cũng không ai biết.

Pâng!

Tiếng gió rít sau lưng, khiến Hồ Phiêu Hương cũng động thân. Chân trái cô bé co lên, nhìn không khác gì bộ pháp thủ thế của hạc hình quyền. Chỉ nghe chóc một cái, viên sỏi tròn nảy bật lên khỏi mái ngói, văng tận xuống con hẻm vắng người.

Tránh xong chiêu bất ngờ, nhưng Hồ Phiêu Hương không hề buông lỏng. Trái lại, cô bé lập tức chuyển eo, nửa người trên đổ ra trước, cái chân đang co cũng hất ngược lên không. Chẳng biết từ lúc nào, đao Lĩnh Nam đã nằm ở trong bàn tay của Phiêu Hương. Mượn đà chuyển mình, cô bé vạch luôn ra một đao.

Đấy lại là một quái chiêu khác của đao pháp tổ truyền Hồ Quý Li từng dạy, tên là Hồi Quang Phản Chiếu.

Một trong ba đao chiêu khó luyện nhất.

Trước đây, cô bé chưa từng làm được. Nhưng kể từ sau khi Tạng Cẩu bị bắt, Hồ Phiêu Hương dụng tâm luyện công hơn hẳn. Thế là chỉ sau hai tháng, chẳng những căn cơ nội công vững chắc, quái chiêu cũng đã có mấy phần hỏa hầu. Lại dành mấy tháng khổ luyện, đến nay đã có thể sử dụng tự nhiên.

Thủ pháp quăng viên sỏi về phía cô, chính là thủ pháp bắn Quỷ Diện Phi Châu.

Trên đời này chỉ còn lại hai người biết dùng. Một trong số đó chính là người mà Quận Gió đã gửi gắm hai đứa – Ứng Long Nguyễn Phi Khanh.

“ Bác Khanh, bác có thử võ công của con cũng không nên nương tay đến th... ”

Cô bé không thể nói hết câu. Cũng chẳng kịp nghĩ cái gì nữa.

Âm thanh êm ái chẳng khác nào tiếng ngọc như gặp gió lạnh, đông thành đá, rơi nghiêng xuống lớp tuyết dịu êm lạnh buốt.

Chương 158: Hồi mười tám (8)

Chỉ thấy, ở cuối con đường trải đá, hiện lên một thằng nhóc trong cái áo tơi to xù xụ dài chấm đất. Bàn tay vươn ra phóng viên sỏi vẫn còn chưa kịp thu lại.

Thằng nhóc ngẩng đầu, ánh mắt dưới bóng nón tre vừa sáng vừa sắc:

“ Ô! Hơn một năm không gặp, Hương tiến bộ hơn trước nhiều. ”

“ Cẩu??? ” 

Thằng nhóc quẹt ngón tay qua mũi, khụt khịt:

“ Chẳng tớ thì ai? Ma chắc? ”

Nó nói dứt câu, thì Hồ Phiêu Hương đã lướt đến ngay trước mặt nó. Bóng người phiêu phiêu đãng đãng nhẹ nhàng như mây, thân pháp uyển chuyển phiêu hốt tựa cánh én. Vạt áo lòa xòa tung bay theo sau, trông như ngọc nữ đạp ngang qua tuyết trắng.

Hai đứa nhóc đứng trước mặt nhau.

Hồ Phiêu Hương hơi kiễng lên, tay đặt lên đầu Tạng Cẩu, rồi đưa về phía mình. Ngón cái cô nhóc chạm trúng vầng trán thanh tú.

“ Cẩu lùn đi nhiều thế? ”

“ Lùn đi là thế nào? Hương cao hơn thì có. ”

Tạng Cẩu nói.

Tính ra, nó thua Phiêu Hương khoảng năm tháng. Thế mà lúc nào cũng lùn hơn một khúc.

Nó vẫn lấy làm khó chịu, không hiểu vì sao cùng là trẻ con, tuổi sàn sàn nhau mà Phiêu Hương lại cao lên nhanh hơn, nó đuổi mãi cũng không kịp. Thỉnh thoảng thằng nhỏ còn trộm nghĩ, rằng cứ cái đà này, đến năm chúng nó lớn, thì nó lùn hơn Phiêu Hương cả xích mất.

Hồ Phiêu Hương quay ngoắt đi, hỏi:

“ Sao không đi luôn đi, về làm gì nữa? ”

Cô bé thì lại phát hiện...

Hô hấp của Tạng Cẩu ngày càng dài, thời gian giữa hai lần hít thở cũng càng ngày càng dãn ra.

Võ công cô bé tiến bộ, thì thằng nhỏ cũng chẳng dậm chân tại chỗ.

[ Cứ thế này không được! Mình thể nào cũng bị Cẩu bỏ xa cho xem! ]

Chẳng biết tự lúc nào, hai đứa nó đã sinh ra thói quen ganh đua với nhau, từ chiều cao đến võ công. Theo đó, cũng tự nhiên mà coi đứa kia là một phần của tương lai lúc lớn.

Tạng Cẩu nói:

“ Đói nên mò về có được không? ”

“ Đúng là cái đồ chó con. Đi theo tớ. Xem thử trong bếp có gì ăn không. ”

Tạng Cẩu cười khì, để mặc cho Hồ Phiêu Hương kéo tay nó chạy xuống bếp. Nội lực của thằng nhóc bây giờ đã hơn trước, nếu nó cố ý ghìm lại, trâu cày cũng chưa chắc kéo nổi chân nó đi một li. Tất nhiên, nó chẳng việc gì phải làm thế cả.

Hay tin Tạng Cẩu về nhà, Nguyễn Phi Khanh và Liễu Thăng cũng sang chúc mừng.

Thấy nghĩa đệ chẳng những bình an vô sự, võ công còn tăng thêm, Liễu Thăng vừa thấy mừng, vừa thấy hơi bất lực. Lần nào cũng vậy, người được hết cao thủ này đến cao thủ kia để ý, truyền thụ hết bản lĩnh cho luôn là Tạng Cẩu. Mặc cho cậu cố gắng đến mức nào, cũng không đuổi kịp.

Mọi người xúm vào, hỏi xem một năm qua thằng nhóc này biến mất tận đâu mà không báo nổi lấy một câu bình an về nhà.

Tạng Cẩu bèn kể:

“ Vị hôm ấy bắt con đi, té ra là có giao tình không cạn với thầy. Hay tin Quận Gió mất, chính y đã tìm đến dạy con một năm, coi như là để tang thầy. ”

Nó không tiết lộ, rằng kì nhân sang Tàu dạy nó chẳng phải chỉ có một, mà đến bốn người. 

Chính là bốn vị chí tôn của giới sát thủ - Địa Khuyết Thiên Tàn.

Bốn người họ không tiện xuất hiện trên giang hồ, thành thử chỉ có thể chậm rãi nghe ngóng tin tức về Quần Hùng yến đẫm máu hôm ấy. Nhưng... cũng chẳng có tác dụng gì lớn.

Bốn ông lão lại nghĩ: Tạng Cẩu ở đất khách quê người cũng nguy hiểm chẳng kém. Võ công như nó bây giờ cũng chưa tính là gì trước mặt cao thủ đích thực, ngộ nhỡ xảy ra chuyện gì khiến truyền thừa của danh hiệu Quận Gió đứt đoạn thì thực đúng là không biết ăn nói thế nào với anh linh các đời vua trộm. 

Thế là bốn lão phân công, hai người sang Tàu rèn giũa thằng nhỏ, hai người tiếp tục ở đất Đại Việt giải oan cho Quận. Sau sáu tháng, thì đổi chỗ cho nhau.

Người hôm ấy giao thủ với Hồ Quý Li chính là Tàn lão.

Hồ Phiêu Hương nói:“ Nếu đã là bạn cũ của thầy, cớ gì lại đánh ông nội một chưởng? ”

Người kia ra tay không phân nặng nhẹ, đả thương ông nội cô bé. Thành thử, ấn tượng của Phiêu Hương với Tàn lão cũng không lấy gì làm tốt đẹp cả.

Hồ Quý Li nói:

“ Cao thủ có mấy phần tà khí, mấy phần bá đạo, cũng chẳng có gì là lạ. Đối chưởng với y một lần cũng khiến ông ngộ được mấy điều trước giờ vẫn thắc mắc, võ học có chỗ tiến bộ không nhỏ. Xem như là được nhiều hơn mất. ” 

Ông nội đã lên tiếng, Hồ Phiêu Hương cũng không tiện nói thêm gì. Chỉ là cô bé vẫn phồng má lên, đoạn ngó lơ Tạng Cẩu, ra chiều ấm ức lắm.

Liễu Thăng ngồi được một lúc, đoạn đứng dậy cáo từ mọi người ra về. Lúc ra đến cửa, ánh mắt lại không tự chủ được rời xuống nhà bếp.

………

Đêm hôm ấy, trăng treo cao.

Trong đại sảnh, ánh đèn cầy lắc lư lắc lư, rọi lên tận lò hương đang nghi ngút ở góc phòng.

Năm người: hai cha con họ Hồ, hai đứa nhóc và Nguyễn Phi Khanh ngồi quây quần trước ngọn đèn. Tấm khăn thiền sư Tuệ Tĩnh lưu lại trải ở chính giữa.

Vạn lí thanh giang vạn lí thiên

Nhất thôn tang giá nhất thôn yên

Ngư ông tuý trước vô nhân hoán

Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền

Bốn câu, hai mươi tám chữ. Nét bút bình phàm đơn giản, mà mềm mại khoan thai, tỏ ra khí độ rộng lượng của thư gia.

Đấy là bài thơ Tuý Trước của Hàn Ốc đời nhà Đường.

“ Con nói, con phá giải được chút gì về manh mối thầy Tuệ Tĩnh để lại?? ”

Nguyễn Phi Khanh nghiêm hẳn sắc mặt.

Nhìn ông lúc này, chẳng ai nghĩ ấy là cái người lúc nào cũng nhởn nha nhởn nhơ bình thường.

Hồ Quý Li, Hồ Nguyên Trừng cũng nín thở lắng nghe.

Hai người mất nguyên một năm ròng mà không tài nào phá giải nổi bí ẩn của bài thơ. Tại sao Tuệ Tĩnh thiền sư chỉ đề bài Tuý Trước lên tấm khăn rồi bỏ đi? Tại sao ông không quay lại giải thích rõ ràng, khiến hai người bị mê cục bủa vây cả năm trời??Tạng Cẩu gật đầu, nói:

“ Có hôm luyện công xong, con bèn ngâm bài thơ này lên chơi, không cẩn thận bị tiền bối kia nghe được. Ông nghe xong, lại tấm tắc bảo ấy là bút tích của thiền sư Dương Không Lộ! 

Con nghĩ mãi, không biết ông Hàn Ốc với ông Dương Không Lộ có họ hàng gì với nhau, nhưng có lẽ người Tuệ Tĩnh thiền sư nói đến không phải Hàn Ốc… mà là Dương Không Lộ! ”

Nó nói hết câu, mới ngẩng đầu lên, thì phát hiện ba người lớn đều đã á khẩu vì cái tên “ Dương Không Lộ ”. 

Hồ Nguyên Trừng nghĩ một lúc, chợt vỗ trán:

“ Tôi hiểu rồi! ”

Bộp!

Quay ngoắt sang, té ra người vừa vỗ bàn đánh rầm một cái là Nguyễn Phi Khanh.

Hồ Phiêu Hương nhíu chân mày lá dăm, đoạn quay sang hỏi ông nội:

“ Ông ơi, Dương Không Lộ là ai? Sao con chưa nghe bao giờ? ”

Có lẽ do quá hưng phấn, nên trước khi Hồ Quý Li kịp nói câu nào, Nguyên Trừng đã cướp lời đáp:

“ Ông ta chính là Lí Quốc Sư! ”

“ Không phải Lí Quốc Sư là Nguyễn Minh Không hay sao? Sao lại có thêm một Dương Không Lộ? ”

Tạng Cẩu tròn vo mắt, hỏi.

Nguyễn Phi Khanh bèn đáp:

“ Theo sử sách còn ghi lại được, thời Lí từng có hai ông quốc sư cùng được ban quốc tính. Một là thiền sư Minh Không, người còn lại chính là thầy Không Lộ.

Tuy nhiên, ba lần đánh Nguyên Mông khiến nước ta bị đốt huỷ nhiều sách sử quý báu. Ghi chép về thầy Không Lộ vốn đã ít, nay lại vì truyền miệng mà sinh ra lắm dị bản, không đồng nhất nữa. Những gì còn sót lại của ông đều mang tính truyền kì hư ảo, giả giả thật thật khó mà phân biệt. Đến độ liệu ông có phải người thật, hay huyền sử, chẳng ai biết cả.

Lâu dần trăm năm sau, người ta chỉ còn nhớ đến một ông Lí quốc sư mà thôi. ”

Hồ Phiêu Hương lại nói:

“ Nhưng đức thánh tổ Khổng Lồ là thầy Nguyễn Minh Không. Chuyện ông Không Lộ là sao? Còn bài thơ nữa… sao mọi người càng nói càng thấy mâu thuẫn thế? ”

Hồ Nguyên Trừng như không nén nổi hưng phấn, cười:

“ Thế mới nói, manh mối chính là miếng vải này! Sư thầy Tuệ Tĩnh giao bài thơ này… ngay trước khi ông giả bị tử hình. Tức là kế thay mận đổi đào! Bài Tuý Trước của Hàn Ốc, có lẽ là do khi sang Tàu, thánh tổ có tức cảnh ngâm đọc. Rồi tuỳ tùng theo sau chép lại. ”

Nguyễn Phi Khanh lại tiếp:

“ Theo suy đoán của bác, thánh tổ biết mình sang nước Tàu lấy đồng là chuyện nguy hiểm đến bang giao hai nước. Thế nên để tránh phiền hà không đáng có, có thể đã dùng tên giả là Dương Không Lộ! Không Lộ, đọc chệch đi chẳng phải là Khổng Lồ đấy ư?

Về sau giặc Nguyên đun kinh đốt sử ta, không loại trừ khả năng hai cái tên thánh tổ từng dùng bị hậu thế hiểu nhầm là hai người khác nhau. Bài Tuý Trước cũng vì thế mà bị hiểu nhầm là bút tích của ông luôn… ”

Hồ Phiêu Hương thốt lên:

“ Thế tức là chúng con đáng lẽ phải tìm tên Dương Không Lộ, chứ không phải Nguyễn Minh Không sao? ”

“ Rất có khả năng này. ”

Hồ Nguyên Trừng nói.

Tạng Cẩu lôi cái trống đồng to bằng quả cau ra, cong ngón tay búng vào mặt trống đánh coong một cái.

Tuy còn xa lắm mới phá giải được bí mật của cái gọi là Chìa Khoá Loa Thành, nhưng… chí ít, cũng đã biết phải bắt đầu từ đâu.

Thì ra…

Hôm đó sau khi bị bắt, giải vào lao ngục, Chu Đệ đã bí mật đến gặp thiền sư Tuệ Tĩnh và tỏ ý sẽ thả ông. Thiền sư già nghĩ một hồi, bèn quyết định diễn vở kịch giả chết với Vĩnh Lạc luôn. Thế nên… mới có tấm vải mang đầy hàm ý như vậy. Chu Đệ có thông minh bằng trời, đọc bài thơ, cũng chỉ biết đấy là Tuý Trước của Hàn Ốc mà thôi. Sao y ngờ được, phía sau hai tám con chữ là cả một đống uyên nguyên sâu xa từ tận thời nhà Lí kia chứ?

Chương 159: Hồi mười tám (9)

Đêm giao thừa đã tới…

Đây là cái đêm ba mươi tháng chạp đầu tiên trong cuộc đời nó, Tạng Cẩu được ăn một cái Tết đoàn viên.

Giữa sân, nồi bánh cháy bập bùng, sáu nhân ảnh ngồi quây quần trông cái nồi gang. Ánh lửa hồng hào, phả lên gương mặt háo hức của đám nhỏ. Người lớn ngồi đàm đạo, nhưng thỉnh thoảng mắt vẫn đá về phía ánh lửa.

Tạng Cẩu thoăn thoắt thêm lửa, quạt gió, lại bắc cái ghế lên ngó xem nước luộc ra sao, đặng còn thay nước… 

“ Này nhé, bánh luộc được già nửa thời gian thì thay nước ra, ngâm bánh qua nước lạnh. ”

“ Mấy chuyện bếp núc này Cẩu biết nhiều quá nhỉ? Trông bánh chưng cũng biết làm… ”

Hồ Phiêu Hương biết…

Nãy giờ Tạng Cẩu liến thoắng luôn mồm mà ba người Hồ Quý Li, Hồ Nguyên Trừng và Nguyễn Phi Khanh chẳng mở miệng câu nào, chứng tỏ nó nói không sai.

Tạng Cẩu nói:

“ Hồi trước ở thôn Điếu Ngư, Tết đến là tớ trông nồi bánh ngoài sân đình suốt ấy mà. Không làm thì làm gì có bánh ăn. Cứ xem các cô làm mãi cũng quen. ”

Cộp! Cộp!

Tiếng vó ngựa khua vang dội từ ngoài ngõ vào. Ánh lửa dưới đáy nồi cũng theo đó mà càng thêm lung linh, huyền ảo.

“ Chắc Liễu Thăng đến. ”

Hồ Nguyên Trừng thở dài.

Ông trời cũng xếp đặt thật khéo. 

Liễu Thăng ấy thế mà trở thành nghĩa huynh của Tạng Cẩu, mấy lần cứu mạng nó. Không có họ Liễu, thì Tạng Cẩu e đã thành thứ ma đầu chỉ biết có thù hận rồi.

Đến người từng đứng ở đầu bên kia chiến tuyến với cậu chàng là ba người Nguyễn Phi Khanh cũng không phải nể phục tình huynh đệ của chúng.

Liễu Thăng đẩy cửa vào. Lần này đến, cậu chàng đã bận y giáp chiến khôi chỉnh tề, thương vàng gác sau lưng, chiến bào bay trong tuyết.

“ Mọi người đang đón giao thừa sao? ”

Thấy cảnh đầm ấm, Liễu Thăng bất giác dừng bước chân.

“ Đúng. Ngồi xuống luôn cho vui. ”

Tạng Cẩu nói.

“ Thôi… ở… ở nhà còn đang có người chờ. Huynh qua chúc Tết mọi người một tiếng, rồi đi ngay thôi. ”

Liễu Thăng ấp úng.

Ánh mắt cậu như đang tìm kiếm ai đó.

Nguyễn Phi Khanh cười khà, mặt đỏ ửng như gấc chín. Đoạn dốc cạn chén rượu trong tay, lên tiếng mà giọng nhè nhè như người say:

“ Nói là chào bọn ta… hấc… chi bằng nói là chào… híc… con bé Hằng. ”

Liễu Thăng giật mình một cái, ánh mắt đảo qua hướng khác.

“ Hằng xin nghỉ, ra ngoài chợ rồi. ”

Tạng Cẩu gẩy thêm củi vào ngọn lửa, giọng vẫn chậm rãi.

“ Vậy… vậy à? Nè, Cẩu, Hương. Lì xì cho mấy đứa. Mấy nữa huynh thăm nhà xong, quay lại kinh thành, chúng ta sẽ tỉ võ tiếp. ”

“ Nhất định! Hứa rồi đấy nhé. ”

Tạng Cẩu giơ bàn tay, nói vọng ra, đầu vẫn chúi vào nồi bánh.

Liễu Thăng ấp úng dúi hai gói lụa điều vào tay hai đứa nhóc, đoạn lao ra khỏi phủ viện.

Tiếng ngựa gầm gió bấc vang lên ngoài ngõ.
Nguyễn Phi Khanh thở dài:

“ Tết nhất đến nơi rồi, mà còn phải xuất chinh. Tội nghiệp thằng nhỏ thật. ”

Bốn người còn lại đều im lặng.

Tính cả hai đứa Hương, Cẩu.

Chúng nó từng lang bạt trong chiến trường, nên cũng hiểu được phần nào trách nhiệm của người làm tướng. Đôi khi, thắng ngựa giục cương, cũng vì thân bất do kỷ.

Tạng Cẩu hít vào một hơi, rồi nói:

“ Đợi sau cái Tết này, bọn con sẽ tìm cách thâm nhập vào Tàng Thư Các lần nữa. ”

Bấy lâu nay, mọi người tìm mua cơ man không biết bao nhiêu quyển Tống sử trôi nổi trong dân gian, nhưng không có lấy nổi một trang đề cập đến Dương Không Lộ.

Sau cùng, mọi người mới nghĩ tới Ngự Thư phòng.

Nếu có nơi nào có thể có chút manh mối về thiền sư Không Lộ, thì chỉ có thể là Ngự Thư phòng mà thôi.

Tuy nhiên lần trước nhờ có thiền sư Tuệ Tĩnh dẫn theo, chúng nó mới được vào cùng. Hiện giờ thân cô thế cô, đến hoàng cung còn không thể tuỳ tiện tới lui, nữa là Ngự Thư phòng của hoàng đế.

Trong cung cao thủ như mây, lấy khinh công học chưa đến nơi đến chốn của đám nhỏ, nói là đi đột nhập không bằng bảo là đi tự sát.

Cả tháng nay mọi người cùng nghĩ cách, thế mà cũng chẳng tìm được kế vẹn toàn để nhập cung.

Bất thình lình, Hồ Nguyên Trừng lên tiếng:

“ Sắp tới sẽ có cơ hội, thậm chí đích thân Vĩnh Lạc sẽ mời hai đứa vào Ngự Thư phòng luôn. Chớ có lo quá. Điều hai đứa cần làm bây giờ là trau dồi võ công, đọc sách thánh hiền cho tốt. ”

Tạng Cẩu nghe đến bốn chữ “ đọc sách thánh hiền ” là cổ họng đắng nghoét. Nó rụt cổ lại, hỏi:

“ Thế cháu không đọc có được không? ”

“ Cái gì??? Không là không thế nào??? Có biết sách thánh hiền là nhân sinh, là đạo đức, là tinh hoa của cổ nhân, là lời dạy của tiên hiền, là…v.v… ”

Tạng Cẩu làu bàu:

“ Mấy ông thánh hiền Tàu chỉ giỏi khoe chữ. Sau không nói đơn giản như tục ngữ ca dao ấy? ”

“ Tục ngữ ca dao…? ”Hồ Nguyên Trừng đang định nói ấy chẳng qua là lời của giới nhà nông chân lấm tay bùn, ít học. Nhưng Nguyễn Phi Khanh đã lên tiếng:

“ Kẻ đọc sách cứ nghĩ mình khôn ngoan tài trí, nhưng được mấy người không phải mọt sách ngu đần?? Kẻ đọc sách cứ nghĩ người dân là ngu phu xuẩn phụ, nhưng đầy người mắt còn sáng hơn cái lũ bụng toàn kinh sử trong cung kia. 

Lời dạy của thánh hiền hay, lời các cụ răn cũng chẳng hề kém cạnh. Nhất bên trọng, nhất bên khinh, thì đã là kẻ tầm thường. ”

Tạng Cẩu nghe xong, chợt nhớ lại lời Quận dạy trước đây: “ Đạo học vốn là kẻ biết dạy cho người không biết! ” và “ Chẳng những Trung Hoa, mà Đông Tây gì cũng phải vậy tuốt! ”.

Bất giác nó thấy hổ thẹn.

Hồ Nguyên Trừng thì lại có kiến giải khác.

Chàng nhẩm lại những câu tục nhữ mình biết, rồi ngơ ngác nhận ra, hoá ra cũng sâu xa lắm.

[ Sách thánh hiền thì lời văn hàm súc, ý tứ cao thâm, ngôn từ mạc trắc. Nhưng cũng vì thế mà thâm ảo khó hiểu. Tục ngữ, ca dao, thì tuy lời lẽ thô kệch, nhưng bài học lời răn đã vị tất lại không thâm thuý? Hình ảnh lại gần gũi…

Ai hơn ai kém, đúng là không thể so sánh được. ]

Cứ thế, lửa dưới nồi bánh vẫn bập bùng…

Lại kể chuyện của Lê Hổ…

Thấy quân địch đã loáng thoáng hiện lên ở cuối chân trời, Lê Hổ nghĩ một chốc, rồi hạ lệnh cho quân rút về ngôi làng nằm khuất dưới mặt đông núi Dục Thuý.

Lúc này đang là sáng sớm…

Bãi sông thoáng đãng, xông vào đánh bừa chỉ là đi tìm chết.

Phạm Ngọc Trần nhíu mày, hỏi:

“ Giờ sao đây? Không biết anh thế nào, chứ tôi không có ý định chết ở đây đâu. Tôi còn bao nhiêu chỗ phải đi chơi… ”

Mới nãy, Lê Hổ đã thì thầm vào tai mấy đầu lĩnh, nhưng nhất quyết không chịu tiết lộ cho cô nàng.

“ Rồi sẽ biết. ”

Lê Hổ nhún vai, đoạn kéo Phạm Ngọc Trần cúi rạp hẳn xuống bãi sậy, đề phòng bị địch quân trông thấy.

Cậu lại rẽ cỏ, trỏ về phía bãi đất phía xa, hỏi:

“ Trên miền ngược các cô có chỗ nào như thế không? ”

Phạm Ngọc Trần thấy bên sông, giữa đám lau sậy um tùm, ngoài những mô đất chỗ cao chỗ thấp ra thì chẳng có gì đặc biệt.

“ Cỏ, với đất… rồi sao? ”

“ Chỗ đó là bãi bồi. Đêm qua mới mưa tầm tã một hồi, chỗ đó hẳn là đang ngập tới mắt cá, đất mềm tơi ra thành bùn. Một lát nữa cứ làm như thế… ”

Phạm Ngọc Trần nghe Lê Hổ nói nhỏ vào tai, mà bắt đầu tủm tỉm cười. Chẳng biết hai người họ nói gì với nhau.

Cánh quân phía đông do Lưu Tuấn cầm đầu tấp nập hành quân về phía núi Dục Thuý. Cả một bãi sông rộng lớn cờ sí căng rợp trời, thanh thế to lớn vô cùng.

Lưu Tuấn chính là kẻ dẫn đầu. Y mặc khôi giáp bằng sắt đen bóng lộn, hông đeo bội kiếm tua vàng, trông oai tợn. Gã nện giày lên mặt đất lớp nhớp bùn lầy, gắt gỏng:

“ Cái xứ quỷ quái. ”

Đại Việt sông ngòi kênh rạch phức tạp, ẩm thấp. Hôm qua lại giở trời mưa to một trận trái mùa, thành ra khí hậu đã ẩm lại còn lành lạnh. Cái buốt giá chỉ chầu chực ăn vào xương người ta như mọt khoét gỗ lẩn trong từng cơn gió thật chẳng lấy gì làm dễ chịu. Trong quân ngũ nhà Minh, hễ ai không ở vùng ven biển là thấy không thích ứng, trong người nôn nao ngay.

Nhưng khó chịu nhất vẫn là lũ côn trùng. Nào muỗi, nào dĩn… cái giống ở náu trong các bụi bãi nên háu đói hung hăng tợn. Chúng chỉ cần thấy có hơi người là rúc vào quần áo mà đốt lấy đốt để. Những vết cắn sưng tấy lên, ngứa ngáy khó chịu, song càng gãi càng ngứa. Đã vậy có những người còn bị nhiễm trùng.

Lưu Tuấn mặc giáp gần như kín mít, vải may cũng dày mấy lớp để giảm thiểu sát thương từ tên đạn. Thành ra chẳng những bí, nóng, mà còn chịu chết không gãi nổi. Thành thử, y đi đường cũng không thẳng lưng được, cứ hơi tí là co người một cái vì ngứa.

Càng ngứa ngáy, y lại càng chỉ mong đánh cho xong cái trận này, còn về rửa ráy.

Chương 160: Hồi mười tám (10)

Càng muốn thắng nhanh, lại càng mất kiên nhẫn.

Có câu dục tốc bất đạt là vậy.

Y chờ thêm một lúc. Thời gian cỡ uống hết chén trà, thì quân dọ thám trở về.

Không! Phải nói cho chính xác!

Ấy là chạy trở về!

Cả toán do thám mấy chục người hớt hơ hớt hải, cắm đầu cắm cổ vào mà chạy. Đuổi sát sau lưng họ, khua vó liên hồi một con ngựa...

Lưu Tuấn cả kinh, quát to:

“ Lũ vô dụng! Có con ngựa mà cũng tá hỏa lên là thế nào? ”

“ Không... không phải... Rắn!!!! ”

Tên do thám vừa nói dứt lời, thì đổ gục xuống đất, co quắp run rẩy, ra chiều đau đớn lắm.

Lưu Tuấn mặc dầu hay cằn nhằn kêu ca đâu đâu, nhưng kinh nghiệm sa trường dày dạn. Y chỉ cần nhìn thoáng qua là hiểu, vì sao tên lính do thám mình phái đi lại chết tức tưởi đến thế.

[ Gã ngu này xem chừng là trúng phải nọc rắn, sau đấy lại chạy hộc tốc như vậy, khiến khí huyết lưu thông. Độc khí cũng theo đó mà xâm nhập vào tâm tạng nhanh gấp mấy lần bình thường. Nay nọc rắn công tâm, e là khó mà cứu nổi. ]

Chỉ duy có một điều Lưu Tuấn chẳng cách nào hiểu nổi.

Gã do thám kia y biết khá rõ, là một bộ hạ thân tín của y. Kẻ kia nào có phải loại nhát gan? Y xứng đáng là kẻ gan hùm mật gấu, đội trời đạp đất ở đời. Há có thể vì mấy con rắn nhép mà sợ hãi đến độ vứt cả mạng mà chạy như thế được?

Bên cạnh y, quân Minh nhìn đồng bọn quằn quại đến chết, mà không khỏi hít vào một hơi khí lạnh.

“ Hắn nói... rắn?? ”

Đám lính do thám gục hết một lượt, đều vong mạng do độc rắn thấm vào tim gan. Bấy giờ, đám lính mới phát hiện con ngựa đuổi đằng sau quân do thám của mình có điểm bất thường.

Ngựa nước Nam lùn, dáng xấu, ngoại trừ việc chịu khổ giỏi thì chẳng thể so với ngựa phương bắc. Có thể nói là tầm thường. Thế nhưng, lúc này con ngựa lùn kia lại tung vó phóng như bay, toàn thân bóng nhẫy một thứ mồ hôi đỏ ối, trông chẳng khác nào thứ Hãn Huyết bảo mã của quân Nguyên Mông cả.

Mồ hôi đỏ rỏ xuống đất, lập tức có hương tanh lợm giọng bốc lên. 

Sau đó, cỏ cây dao động liên hồi…

Nói đoạn, từ những bụi cỏ lau, không biết cơ man bao nhiêu con rắn túa ra, hệt như kiến vỡ tổ. Có đám liu điu chỉ to độ gang tay, lại có cả hổ mang vừa đi vừa phun lưỡi phì phì. Cả đám trườn xoèn xoẹt xoèn xoẹt theo sau con ngựa lùn, mắt trợn lên tròn xoe.

Đất Nam lắm rừng núi, nhiều sông ngòi, khí hậu lại ẩm thấp, đúng là chốn thiên đường cho họ hàng nhà rắn.

Ngàn lời vạn chữ khó tỏ bày, chỉ xin mạn phép mượn một bài thơ của cụ, để nói rõ hết cái sự đa dạng của loài rắn.

“ Chẳng phải Liu Điu vẫn giống nhà!

Rắn Đầu biếng học quyết không tha.

Thẹn đèn Hổ Lửa đau lòng mẹ,

Nay thét Mai Gầm rát cổ cha.

Ráo Mép chỉ quen tuồng lếu láo,

Lằn Lưng chẳng khỏi vết roi da.

Từ nay Trâu Lỗ xin siêng học,

Kẻo Hổ Mang danh tiếng thế gia! ” ()

Lưu Tuấn trông thấy rắn, cả kinh, quát:

“ Mau!! Dàn trận! Mau dàn trận!! ”

Quân Minh lập tức kết phương trận ( trận vuông), lưng dán chặt vào nhau không dám hở ra một kẽ nào.

Con ngựa lùn trồm lên thêm một lần cuối, rồi đổ gục xuống ngay trước đống xác người la liệt.

Bầy rắn lớn nhỏ như chỉ chực chờ có thế, lập tức phi vào, trèo lên, cuốn quanh thân xác con ngựa mà xâu xé. Lập tức, mùi máu tanh hoà vào thứ mồ hôi đỏ ối, quện thành một mùi gây hôi khó ngửi.

Quân Minh thấy đám rắn chỉ chăm chăm xơi con ngựa, tưởng mọi chuyện đã yên, bèn lỏng tay đao tay kiếm.

Thế nhưng Lưu Tuấn đã quát lên thất thanh:

“ Cẩn thận! ”
Lời chưa dứt, thì kiếm đã rời khỏi bao, lưỡi kiếm vẽ một dải trăng khuyết, chém rụng đầu con rắn hổ lửa vừa phóng người về phía chân toan cắn một tên lính.

Té ra…

Đám rắn chồm lên người con ngựa là để liếm thứ mồ hôi đỏ lòm kia. Sau khi nuốt vào, chúng lại càng trở nên hung hăng táo tợn, thế nên mới chủ động tấn công con người.

Bởi lẽ thông thường, loài rắn cắn người là do bị hoảng sợ, chứ không phải chúng cố ý.

Lưu Tuấn hiểu rõ điều này, nên vẫn luôn cảnh giác. Có thế mới giữ được một mạng cho thuộc hạ.

Xì! Xì!!!

Lũ rắn phun lưỡi phì phù, máu đồng loại chẳng những không làm chúng sợ hãi, mà trái lại càng khiến chúng điên loạn. Cả đám nhao nhao xông vào trận địa của quân Minh.

Xoẹt! Xoẹt!

May được Lưu Tuấn đề tỉnh, nên quân Minh đã có chuẩn bị sẵn. Đón đầu lũ rắn chẳng phải da thịt, mà là một màn bóng đao ánh kiếm kín kẽ đến độ nước mưa cũng khó mà lọt.

Chỉ nghe những tiếng gai người, vảy cứng tróc bong, lũ rắn đã bị xả cho đầu lìa khỏi cổ. Ấy thế mà đuôi rắn vẫn còn giãy lên mấy cái, nhìn rất nguỵ dị.

Lê Hổ đứng từ xa nhìn, vừa lau mồ hôi vừa than:

“ Trong cái túi đó rốt cục chứa cái gì vậy? ”

Cậu chàng còn nhớ Phạm Ngọc Trần lấy miếng vải con, thấm chút dầu đỏ rồi lau qua mình ngựa. Nói đoạn lấy cái còi câm, để nó phi về phía quân Minh.

Ngựa đổ mồ hôi, tức thì đám rắn chung quanh như bị đánh động, túa cả ra ngoài mà trườn theo chân ngựa, đông nghìn nghịt. Cả bãi cỏ lau chẳng cần gió cũng xao động, giữa từng thân cỏ lúc nhúc toàn rắn là rắn, thấy mà gai người.

“ Anh đoán thử xem… ”

Phạm Ngọc Trần vỗ vào cái túi thổ cẩm, nói.

“ Giờ cô có lấy ngải ra tôi cũng không lấy làm lạ. ”

Lê Hổ thấp giọng, nói nhỏ.

Thuở ấy, nước Nam ta có một truyền thuyết, ấy là chốn rừng thiêng nước độc giấu một cây trầm hương thần. Trầm chẳng ở yên một chỗ, mà suốt năm dài tháng rộng nó chạy khắp đại ngàn. Muốn tìm trầm, phải có ngải, ngậm lấy mới mong tìm được.

“ Xì. Ngậm cái thứ đó, trầm hương chưa thấy, hoá hổ lúc nào cũng chẳng biết. Ai mà thèm! ”

Phạm Ngọc Trần nói.

Người ngậm ngải tìm trầm, nếu ngải tan hết mà chưa thấy trầm, sẽ hoá thành hổ.

Cái chuyện ngậm ngải tìm trầm, con người hoá hổ này trước giờ vẫn bị người ta coi là cổ tích, cùng lắm là cuộc chuyện lúc trà dư tửu hậu của đám vô công rỗi nghề. Nhưng xem chừng, Phạm Ngọc Trần rất tin tưởng chuyện này.
Cô gái miền ngược rốt cuộc là ai??

Lê Hổ nói:

“ Đám rắn bị thuốc của cô kích động, chỉ biết công bừa. Không làm khó được quân tinh nhuệ lâu đâu. Mau! Chúng ta về làng cố thủ. ”

Nói đoạn, cậu kéo Phạm Ngọc Tràn dậy, chạy như bay về phía đông. 

Mặt đông núi Dục Thuý, nơi có ngôi làng toàn những người già dựa vào vách đá cheo leo dốc đứng. Quân Minh sẽ không thể công lên núi, huỷ đại pháo theo hướng đông được.

Lúc ấy Lê Hổ nghĩ đơn giản thế thôi.

Lưu Tuấn một tay hua kiếm gạt đám rắn, nhưng vẫn chú ý tìm kiếm xem ai là hung thủ đứng đằng sau. Bỗng nhiên thấy một đôi nam nữ đứng phắt dậy khỏi bãi lau, rồi cắm đầu cắm cổ chạy theo hướng đông…

Quả nhiên là đáng ngờ.

Y vung kiếm nhanh hơn, lại quát to hạ lệnh:

“ Mau!! Mở đường máu! Đánh về phía đông! ”

Quân Minh được lệnh, hăng hái hơn hẳn, nhưng trước mặt có rắn độc, không phải nói tiến tới là tiến tới được.

Lê Hổ và Phạm Ngọc Trần cũng vì thế mà rút lui được an toàn về đến ngôi làng.

Lúc hai người đến nơi, thì sĩ tốt dưới trướng Lê Hổ đã y theo lời cậu dặn, chuẩn bị xong xuôi đâu đấy cả. 

Nhác thấy bóng cả hai, mọi người mới thoáng dừng tay.

Một trung niên râu rậm đầu hói bước lên hai bước, nói:

“ Tướng quân, chúng tôi đã di dời hàng rào các nhà, ngăn cản đường đi lối lại trong làng. Sau đó lại đào thêm hố bẫy hầm chông rải rác khắp nơi. ”

“ Mái nhà thì sao? ”

Lê Hổ vỗ đao, hỏi. 

“ Làm gần xong rồi. Ngài xem thử xem thế này đã được chưa? ”

Trung niên ấy vừa nói, vừa dâng một cái bát lên.

Phạm Ngọc Trần chỉ thấy trong bát đựng một thứ chất lỏng sanh sáng, màu xanh ngọc rất bắt mắt. Ngửi thử còn thấy cả mùi thơm.

Cô nàng này vốn nhiều thủ đoạn linh tinh. Trong cái túi thổ cẩm, độc dược cũng có mấy loại. Nhìn bát nước xanh là Phạm Ngọc Trần nghĩ ngay đến khả năng Lê Hổ dùng thuốc độc đánh giặc, bèn chặc lưỡi:

“ Sao không bảo tôi sớm? Tự nhiên để chết bao nhiêu rắn độc, phí cả nọc. Cái thứ xanh xanh này chế từ độc gì, giết được bao nhiêu người chứ? Này! Sao lại nhúng tay vào??? ”

Thì ra Lê Hổ đã thọc hai ngón vào bát nước xanh, lại miết hai đốt tay đẫm nước vào nhau mấy cái. Phạm Ngọc Trần tá hoả, bèn chộp lấy cổ tay cậu chàng.

“ Độc?? Cô nói gì thế? Độc nào?? ”

“ Gì chứ?? Không phải chất độc, sao đánh lại quân giặc?? ”

Lê Hổ cười nhạt, nói:

“ Đánh được mới hay chứ. ”

Nửa canh giờ sau…

Toàn thân nhuộm đỏ bởi máu, đế giày ướt đẫm mùi tanh, Lưu Tuấn và đoàn quân của hắn tiến đến trước ngôi làng dưới chân núi Thuý.

Phương bắc nước chảy quanh co, phía nam có đồi cỏ bạt ngàn. Ngôi làng xây dọc theo triền dốc của một quả đồi lớn, chung quanh có luỹ tre mọc thành bãi dày. Phía tây là vách núi Thuý. Thành ra, nếu tiến vào làng từ hướng đông, chỉ có con đường độc đạo đủ cho hai con trâu đi sát nhau.

Lưu Tuấn thầm nghĩ:

[ Đường nhỏ thế này, muốn hành quân qua ắt sẽ phải dãn dài đội quân của mình thành trận trường xà. Như thế sẽ mất ưu thế số đông. Nhưng chặt hết đống tre này lấy lối thì tốn sức quá. Thời gian không còn sớm, trước khi nước triều lên kiểu gì cũng phải đánh thủng được mặt đông của giặc. ] 

Đoạn, y chặc lưỡi, nói:

“ Kệ mẹ nó! quân ta tinh anh thiện chiến, cần quái gì phải sợ!!?? ”

Thế rồi, y cũng mặc kệ, cho quân theo đường độc đạo kéo vào làng.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau