THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 151 - Chương 155

Chương 151: Hồi mười tám (1)

Phủ Tần Hoài khói sương kín đất

Dục Thuý Sơn liệt hoả phần thiên

Trước kể đến đoạn Tạng Cẩu quậy phá tưng bừng ở Lại gia trang, trấn áp quần hào một mẻ, lại ra tay đánh chết người đàn bà cay độc. Bấy giờ ba người bọn nó đứng bên bờ sông Tần Hoài chờ đò, Tạng Cẩu thò tay xuống dòng nước mát lạnh để rửa trôi hết những vết máu còn dính lại.

Hồ Phiêu Hương đứng giữa hai người, lúc thì ngó bên trái khi thì nhìn sang phải, nhất thời bối rối không biết phải làm sao, chỉ đành mong ông lái đò quay lại bờ bên này thật nhanh mà thôi.

Tạng Cẩu vẫn đặt tay dưới dòng sông. Hững hờ trôi con nước lạnh căm căm, vuốt ve da thịt nó. 

Nó không ngẩng đầu, cũng không nhìn cô gái họ Trương lấy một cái.

Trong thâm tâm nó cứ tự hỏi mãi: nó làm thế là đúng hay sai?

Đò cập bến…

Người ta lọc cọc xuống thuyền, rồi lại tất bật hoà vào dòng người xuôi ngược. Ba người bọn họ đứng đứng ngồi ngồi bên bờ bãi, chẳng khác nào ba hòn đá bên dòng sông… Dòng người chảy cuồn cuộn. Dòng sông cũng vận động theo cái chu kì hàng năm của nó. Chỉ có ba người là lặng im, đứng bên lề cái sự chuyển động ấy, cùng ông lái đò.

Ông lái lấy chão buộc đò, rồi nằm khểnh ra, chân vắt chữ ngũ. Thường thường cứ phải đủ khách, ông mới chống sào chở đò sang bên kia.

Có kẻ đến sớm, đợi đến trưa mới sang nổi.

Có người tới muộn, đành phải chờ chuyến sau.

Lại có những kẻ may mắn, đến vào cái lúc vừa đủ số.

Đò với người, có lẽ cũng là duyên.

Tạng Cẩu và Phiêu Hương muốn cô gái hàng rong cùng về biệt phủ Chu Đệ cấp cho mấy người Nguyên Trừng. Nhưng cô nàng chỉ từ tạ, rồi lặng lẽ về căn nhà bỏ hoang của ông bà, nằm khuất dưới thanh lâu.

“ Này, mình bám theo chị ấy đi. ”

Tạng Cẩu chợt lên tiếng.

Trước là nó sợ cô gái kia nghĩ quẩn.

Sau cũng muốn tìm về căn nhà nọ, bái tế thầy.

Hồ Phiêu Hương không chần chừ dù chỉ một chút, đồng tình ngay. Thực ra cô bé cũng đang có ý này, nhưng đã để Tạng Cẩu nói trước.

Hai đứa đều giỏi khinh công, có thể lẳng lặng theo sát cô gái hàng rong mà người ta không hay biết gì.

Trong căn nhà vốn có một cái cây to.

Cô gái họ Trương lặng lẽ cởi bỏ áo loan mũ phượng, dập đầu mấy cái liền. Căn nhà bỏ hoang, nhưng chỉ có một lớp bụi mỏng đóng tại hiên cửa, đủ thấy vẫn có người lui tới quét tước dọn dẹp.

Trong ba người, duy chỉ có Tạng Cẩu biết…

Người vẫn thường tới đây quét dọn, lấy tò he cắm xuống đất chính là thầy nó – Quận Gió – người từng làm đao phủ.

Tạng Cẩu thở dài…

Càng tìm hiểu nó càng thấy mọi chuyện phức tạp thêm.

Cô nàng họ Trương dập đầu xong, lại khấn:

“ Cha mẹ. Bất hiếu có ba, vô hậu là nặng nhất. Họ Trương nhà mình chỉ còn mình con, đành phải nuốt nhục muối mặt sống tiếp. Hôm nay đến đây cầu xin, dưới suối vàng hai người linh thiêng tha cho nghĩa mẫu một lần. Bà ấy dù cay nghiệt, bạc nghĩa đến mấy cũng có công ơn nuôi dưỡng con bấy lâu. ”

Khấn xong lại dập đầu bái lạy.

Phiêu Hương kéo áo Tạng Cẩu:

“ Về thôi. ”

“ Ừ. ”

Hai đứa nhóc lặng lẽ thối lui.

Cô gái họ Trương thì trở về căn nhà nơi mình được nuôi lớn, lần vào buồng mẹ nuôi lấy con dao kỷ vật. Nàng ta không hề hay biết ba mươi năm trước, mẹ nàng lúc còn là một đứa trẻ đã vứt con dao này xuống đất, tha cho một tên đao phủ hai tay ướt máu.

Cuối cùng, đồ đệ của tên đao phủ này, đã thay thầy trả món nợ với dòng họ nàng.

Tạng Cẩu và Phiêu Hương dắt nhau về phủ.

Trong sảnh chính, hai cha con Hồ Quý Li đang chờ sẵn, sắc mặt nghiêm nghị. Đặc biệt là Hồ Nguyên Trừng.

Chúng nó làm náo loạn đám cưới, hạ nhục mệnh quan triều đình, còn ra tay giết người. Chuyện tày đình như thế không truyền đi khắp nơi mới là lạ.

Hai người lớn chỉ nhìn chúng.
Thực tình họ cũng thấy khó giải quyết.

Nếu như phạt nặng hai đứa, thì không ổn. Thấy chuyện bất bình rút đao tương trợ vốn là biểu hiện của tính hiệp nghĩa. Ngộ nhỡ chúng sợ, sau này thấy ác làm ngơ, cũng chẳng khác nào tiếp tay cho đảng gian cả.

Song cái chuyện lạm sát cũng chẳng phải chuyện gì tốt lành.

Cuối cùng, Hồ Nguyên Trừng mới lên tiếng:

“ Đáng lẽ hai đứa nên dạy cho bà ta một bài học là được rồi. Chú phạt cả hai ở trong nhà luyện công, một tháng tới không được đi đâu. ”

Hai đứa nhóc vâng dạ, rồi lủi thủi lui về hậu viện.

Trong nhà trừ cô bé Thanh Hằng ra không có người hầu kẻ hạ, thế nên hai đứa nhóc định cứ xuống bếp tự lo chuyện cơm nước trước, rồi mới hỏi kỹ chuyện hồi sáng.

Đột nhiên Lí Bân chạy đến, rồi Thanh Hằng vốn như người câm từ Cao Vọng đến giờ lại đột nhiên mở miệng nói chuyện, quả thực khiến người ta tò mò.

Bữa cơm vốn là nơi người Việt quây quần.

Chẳng rõ vì sao, có những chuyện bình thường rất khó mở lời, lúc ngồi bên mâm cơm nói ra lại rất dễ.

Nhà bếp có sẵn bàn ghế, vốn dùng cho hạ nhân trong nhà ăn uống. Mâm trên là để cho chủ. Hai đứa nhóc trong nhà vốn chẳng có kẻ hầu người hạ gì, nên ăn luôn dưới bếp cho tiện.

Hồ Phiêu Hương không nói. Không phải không muốn, mà là không biết phải bắt đầu mở lời như thế nào.

Tạng Cẩu cũng im lặng, chỉ cúi gằm đầu và cơm một lúc…

Nhưng cứ mấy miếng là nó lại nhè ra, như thể nuốt không trôi.

Thế rồi bất giác nó lên tiếng:

“ Này. Hương thấy tớ làm thế là đúng hay sai? ”

Tạng Cẩu muốn nói về một chưởng hồi nãy.

Là đúng hay sai?

Bà mẹ nuôi chết là đáng đời ư?

Hồ Phiêu Hương gác đũa, thở dài:

“ Tớ đoán tớ nghĩ gì không quan trọng, quan trọng là phía Cẩu. ”

Sắc mặt Tạng Cẩu sa sầm:

“ Chắc vậy. Nhưng… tớ nghĩ gì thực sự có quan trọng không? ”

Hồ Phiêu Hương biết nó muốn nói gì, cũng hiểu tại sao thằng nhỏ lại úp úp mở mở.Tính ra cô bé, lẫn Tạng Cẩu, đều là người ngoài. Ai đúng ai sai, ai nên sống ai phải chết, chúng nó lấy quyền gì ra mà quyết định? Tạng Cẩu nghĩ bà ta sai, bà ta đáng chết, nhưng Trương thị thì sao? Nàng ta có nghĩ thế không?

Trong chuyện đó, không phải Trương thị nghĩ gì mới quan trọng hay sao?

Tạng Cẩu đã nghĩ rất nhiều.

Nhất là từ khi nó về căn nhà hoang, nơi thầy nó được tha mạng năm nào, nó cứ mãi trăn trở.

Nếu phải so sánh…

Lúc đó Quận Gió còn đáng chết gấp năm, gấp bảy bà mẹ. Thế nhưng sau đó, ông trở thành một quái hiệp, dành cả cuộc đời để cứu nhân độ thế.

Tạng Cẩu cứ nghĩ mãi.

Liệu nếu lúc ấy nó nương tay, thì bà mẹ có thể giống như thầy – người nó vẫn hết mực kính trọng hay không?

Hồ Phiêu Hương thở dài, rồi gác đũa.

“ Cẩu. Có phải cậu muốn biết cảm nhận của tớ khi đó, lúc vung đao chém cậu phải không? ”

Lần đầu gặp ở Muộn Hải, cô bé đã vung đao muốn chém chết Tạng Cẩu. Nếu không phải Quận Gió ra tay can thiệp, thì giờ thằng nhỏ đã thành hồn ma bóng quế vất vưởng chốn lạch nước cầu mương nào rồi.

Tạng Cẩu nhìn sang chỗ khác, cố gắng tránh né ánh mắt của Hồ Phiêu Hương. Cứ mỗi lần nó nhìn vào đó, đôi mắt của cô bé trong veo, phản chiếu nó rõ mồn một.

Cạch.

Đao Lĩnh Nam đặt lên bàn.

Nước đồng đen bóng, đặc quánh như đúc ra từ trời đêm ba mươi Tết.

Hồ Phiêu Hương duỗi ngón tay trỏ, lướt nhẹ lên mặt đao như chuồn chuồn lướt nước. Nói đoạn, cô bé chậm rãi:

“ Thực ra lúc đó tớ chẳng nghĩ nhiều như Cẩu bây giờ đâu. Khi đó cậu theo quân Minh, tớ là công chúa của Đại Ngu, thành thử… lúc ấy cậu là người xấu. ”

Nghe kể, mà Tạng Cẩu nhớ lại chuyện cũ.

Lúc ấy nó không biết Mạc Thuý nhận lệnh Trương Phụ, bám theo quân Minh chỉ mong được sống. Bây giờ ngẫm lại, chẳng khác nào cùng hội cùng thuyền với kẻ thù phá làng đốt xóm. Đôi tay nó siết chặt, răng nghiến lại cố nén xung động vung tay đánh xuống mặt bàn.

Phiêu Hương thấy nó lại giở tật cả nghĩ tự trách, bèn tiếp:

“ Thực ra, bảo tớ xuống tay chém Cẩu, thì dễ thôi. Lúc đang nóng đầu thì xoẹt một cái là xong. Nhưng cái khó là sau đó, sẽ đối mặt với nó như thế nào. ”

Tạng Cẩu nhìn chăm chăm vào lòng bàn tay, thở hắt ra:

“ Đúng vậy. ”

Lửa giận bốc cao, chưởng phong áp xuống. Thế là đã xong rồi.

Hồ Phiêu Hương nhún vai:

“ Thế nên, cậu bảo tớ phải khuyên bảo cậu nên làm thế nào, thì tớ chịu. Vì tớ cũng chỉ là con nhóc tì vắt mũi chưa sạch, chín tuổi đầu. Nhưng, có một điều tớ chắc chắn. Ấy là ánh mắt của cậu vẫn chưa trở nên giống với cái nhìn của tên Tửu Thôn đâu. ”

“ Hy vọng là thế. ”

Tạng Cẩu đáp, không để ý rằng Hồ Phiêu Hương đã dùng khinh công lướt tới ngay cạnh nó. Cô bé thò hai bàn tay, tóm lấy má thằng nhóc, véo lấy véo để.

“ Thôi nào, làm gì mà thở dài thườn thượt như ông cụ non thế? Cẩu phải nhớ mình mới có tám tuổi thôi đấy. ”

“ Auuuuu… ả ớ a… ”

Tạng Cẩu khua tay loạn xạ, giãy lên đành đạch, nhưng không hề vận công. Nó đã dần quen với việc khống chế được chân khí trong người, thu phóng đã phần nào tự nhiên.

Hồ Phiêu Hương cười khúc khích, lấy tay vỗ má Tạng Cẩu hai cái, rồi mới chịu buông.

Tạng Cẩu vỗ trán đánh bốp một cái:

“ Thôi đúng rồi! Cậu còn giận tớ chuyện ở ngự thư phòng đúng không? Cùng lắm tớ cho cậu trả đũa. Đây! Truyền chân khí đi, tớ mà phản kháng thì không phải Tạng Cẩu. ”

“ Truyền cái đầu nhà cậu!!!! Cậu là con chó hay con dê??? ”

Hồ Phiêu Hương đỏ chín cả má, tung cước gạt phăng cái ghế của Tạng Cẩu, khiến nó ngã dúi dụi.

Chương 152: Hồi mười tám (2)

Tạng Cẩu cũng chẳng vừa. Nó vỗ hai chưởng xuống đất, mượn phản chấn đứng thẳng người dậy.

Lúc cô bé Thanh Hằng vào bếp, thì chỗ đó đã trở thành một mớ hỗn độn. Đầu Tạng Cẩu dính bết cả trứng với nước, còn má Phiêu Hương thì trắng bệch những bột.

Cô bé bèn cười, bảo:

“ Cô lớn, cậu lớn thích vần nhau thì vào buồng riêng mà làm. Cớ sao lại làm dưới này? Nhỡ ai thấy thì sao? ”

Sau câu nói ấy trong bếp còn xảy ra bao nhiêu chuyện rùm beng, thì chỉ có ba đứa nhóc biết với nhau. Song có thể chắc chắn một điều, Hồ Phiêu Hương đã tung cú đá cuối cùng đặt dấu chấm hết cho tất cả lùm xùm.

Còn cô bé đá vào đâu mà khiến Tạng Cẩu nằm co ro một góc nhà? Đấy lại là một chuyện chỉ có ba đứa chúng nó biết với nhau.

Thì ra…

Hôm ấy Lại Bố Y cho người đến bắt cô gái họ Trương, phá tanh bành cả đại sảnh. Trong nhà chỉ có Thanh Hằng chạy ra ngăn cản, làm sao chống nổi lũ gia đinh sức dài vai rộng?

Đến khi cô bé được lay tỉnh, thì phát hiện chỗ da thịt tím tái vì máu bầm đã khỏi hẳn, cái lưỡi vốn bị liệt bấy lâu cũng đột nhiên bình thường lại. Lúc bật ra được âm thanh, bản thân cô cũng chẳng ngờ nổi.

Tạng Cẩu, Phiêu Hương nhìn nhau…

Mặt đứa nào đứa nấy nhăn nhó như khỉ ăn ớt.

“ Lẽ nào là hắn?? ”

Mới nhắc thôi, mà hình ảnh Lý Bân lúc nào cũng nhìn đời bằng con mắt chán trường và cái giọng than thở treo thường trực trên miệng hiện lên trong óc bọn nó.

“ Không thể nào. Tên đó lúc nào cũng ra cái vẻ than trời trách đất, làm như mình là nhân tài sinh chẳng hợp thời như Lí Nam Đế, Mai Hắc Đế không bằng. ”

Tạng Cẩu cũng gật đầu.

Hiển nhiên nó cũng chẳng có cảm tình gì với cái tên Lý Bân ấy cả.

Thầy nó vẫn dạy, muốn giỏi thứ gì, trước hết phải biết nhận mình còn kém. Bằng không, trong đầu lúc nào cũng đinh ninh mình đã giỏi, vô hình trung khiến người ta mất đi động lực phấn đấu. Chung quy thành tựu sẽ có hạn.

Mà Lý Bân, chẳng hiểu vì sao, lúc nào nó cũng có cảm giác y coi thường hết mọi người, ai cũng nhìn bằng nửa con mắt.

Hồ Phiêu Hương nhìn Tạng Cẩu, rồi rỉ tai:

“ Mình cứ đến hỏi y một chuyến, biết đâu lại tìm hiểu được cái gì. ”

Thằng bé đáp:

“ Mấy ngày nay, hết chuyện bí ẩn này lại nối tiếp chuyện kì lạ kia. Tớ cứ có cảm giác mình đang chơi trò giải đố với ông trưởng làng, cứ đáp được một câu là lại ra một câu khó hơn vậy. ”

Biết thằng nhóc này đã nhớ nhanh, lại còn nhớ dai, nên cô bé cũng chỉ đành kéo tay nó chạy. Hi vọng, một lát nữa tra hỏi Lý Bân sẽ biết thêm được gì đó khiến Tạng Cẩu thôi nghĩ linh tinh.

Hai đứa băng qua đại sảnh từ lâu đã lịm ánh đèn, đến phòng chứa củi.

Trước đó ít lâu…

Hồ Nguyên Trừng nhìn bóng cây đèn, ngọn lửa lay lắt chiếu lên gương mặt. Nay chàng trông đã góc cạnh, có nét gì đó phảng phất như gió mưa, lại na ná bụi đường. Da dẻ đã không còn trắng bóc như trứng gà, song nét nho nhã thư sinh thì không giảm bớt.

“ Thiền sư quả thực là rồng ẩn trong mây, cọp vờn giữa núi. Mới đó đã đi khuất rồi. ”

Hồ Quý Li nói:

“ Bài thuốc giải độc thiền sư để lại, mai con và ta ra ngoài thị tập mua dược liệu về sắc cho con bé. Khổ thân. Tí tuổi đầu… ai lại nỡ dùng Ngũ Tuyệt độc lên người nó chứ? ”

“ Cha… Ngũ Tuyệt độc này đáng sợ lắm sao? Có phải dùng ngũ độc rắn bò cạp rết cóc nhện để bào chế? ”Hồ Nguyên Trừng không khỏi thấy tò mò.

Rốt cuộc là thứ độc gì, mà đến Tuệ Tĩnh thiền sư cũng phải nói: Trong thiên hạ chỉ có một người giải được, đến ông cũng không hoá giải nổi hoàn toàn độc lực.

Hồ Quý Li trầm giọng:

“ Cha cũng chỉ nghe người ta rỉ tai nhau lúc đi chinh chiến. Sở dĩ gọi là ngũ tuyệt, vì nó tuân theo nguyên tắc vật cực tất phản. Năm nguyên liệu của nó là linh chi, nhân sâm ở đất Nam ta, hà thủ ô, tuyết liên trên dãy Ngũ Lĩnh nay thuộc Đại Minh và mật gấu rừng Chiêm Thành. Đấy đều là vật đại bổ, nhưng bào chế bằng phương pháp độc môn, sẽ thành kịch độc đáng sợ. 

Trước tiên, đôi mắt sẽ dần dần không phân biệt được màu sắc.

Sau đó, cái lưỡi không biết thế nào là đắng cay mặn ngọt, rồi câm luôn.

Thứ ba, mũi ngửi không ra thơm thối.

Thứ tư, xuất hiện tiếng lạ văng vẳng bên tai.

Cuối cùng, da mất hết cảm giác nóng lạnh ngứa ngáy. Độc này không giết người, nhưng thử hỏi một người mà ngũ giác đều rối loạn, sống được bao lâu?? Chỉ sợ sau một hai tháng, là mất hết thú vui trên đời chẳng thiết sống nữa. ”

Hồ Nguyên Trừng ho khan, giọng đã nghe nghèn nghẹt. Xem chừng vẫn chưa dám tin vào điều mình vừa nghe.

“ Không giết người ta, mà khiến người ta không muốn sống. Không cần tra tấn thể xác, lại hành hạ tâm can. Thứ độc này đúng là ác ôn. ”

Chàng lại nhớ đến lúc gặp nhau lần đầu, cô bé Thanh Hằng không phân biệt được màu chiến bào của mình. Đến khi tái ngộ, thì đã hoá câm.

Bà già kia muốn cô bé theo chàng sang đất bắc, phải chăng là nuôi một tia hi vọng mong manh mọi người sẽ gặp được Tuệ Tĩnh thiền sư, cháu bà ta sẽ được ông ra tay cứu chữa?

Lúc hai đứa nhóc tìm đến chỗ họ Lại tính sổ, Lý Bân đã toan chuồn thẳng. Nào ngờ mới ra đến cửa, đã gặp ngay hai cha con Hồ Nguyên Trừng về nhà.

Hai người họ thấy bọn nhóc hành xử khác lạ, nên sinh nghi.

Lý Bân thấy người đến, chột dạ, bèn giở ngay ngón đấm bốc mèo cào chẳng hiểu học ở đâu ra. Kết quả của việc múa rìu qua mắt thợ đã quá rõ ràng.

Hồ Quý Li tống cho một đấm, làm y nổ cả đom đóm mắt, lăn đùng ngã ngửa ra xỉu. Thế nên giờ mới bị nhốt trong phòng củi.Tạng Cẩu nhìn Phiêu Hương một cái, rồi mới đẩy khẽ cánh cửa, vào phòng.

Thiếu vắng ánh đèn dầu khiến phòng chứa củi càng thêm lạnh lẽo và trống trải. Trên đống rơm gần đó, Lý Bân đang nằm co ro, run cầm cập vì rét. Có thể thấy từng đầu ngón tay đang tím tái lại, hơi thở hoá khói tràn ra khỏi khoé miệng.

Tạng Cẩu bước đến, vỗ một cái vào đầu vai Lý Bân. Y vốn chỉ ngủ được chập chà chập chờn vì rét, nay bị vỗ một cái liền bừng tỉnh. Thấy thằng bé, lập tức nhớ lại chuyện hồi chiều nó in đầu quyền xuống sàn, thế là hoảng hồn lên ba chân bốn cẳng bò lóp ngóp ra góc nhà. 

Tạng Cẩu thấy y như vậy, không khỏi nghĩ tới việc ngày trước thầy nó cải trang thành Lý Bân đến thử thách ba đứa, trong lòng lẫn lộn niềm vui nỗi buồn.

Hồ Phiêu Hương thì che miệng cười, nụ cười bị giấu đi bởi bàn tay ấy vẫn thường khiến Tạng Cẩu nổi hết da gà da vịt lên.

Bình

“ Lý đại nhân, ngài vẫn khoẻ đấy chứ? ”

“ Ý… ý mày là gì? ”

Lý Bân đáp, lắp bắp. Trông y có vẻ chột dạ.

Y có điều gì không muốn người ta biết ư?

Tạng Cẩu nghĩ thầm. Nhưng nó không chõ mũi vào. Người ta vẫn nói con gái nhạy cảm, cảm tính hơn trong hai giới. Thế nhưng giữa hai đứa, nó lại là đứa hay hành động theo cảm xúc hơn. Đến lạ…

Hồ Phiêu Hương nhún vai:

“ Còn phải hỏi sao, hả ngài tướng quân? Ba tên thích khách bay khỏi điện Thái Hoà bằng một thứ kì quặc. Chà. Hình như ngài đây cũng có sở thích chế tạo những thứ tương tự phải không? ”

Quả vậy…

Ở trong cung mấy ngày, nhưng chúng nó nghe được không ít tiếng xấu của Lý Bân. Nào là làm cái thứ nước hoa gì đó, khiến cung nữ nổi mẩn ngứa ngáy khắp người. Nào là làm ra cái xà phòng, nghe đâu đun từ mỡ, mùi hôi khắm khú không ngửi nổi.

Thế nên, Hồ Phiêu Hương đoán ngay, cái thứ dù lượn kia cũng là thành quả của hắn.

Mà sự thực cũng gần giống thế…

Có một hôm, “ Lý công công ” giả tìm đến chỗ Lý Bân, lân la làm quen. Trước là lão tỏ ra coi trọng những sáng chế của gã, chép miệng tỏ vẻ đáng tiếc cho một nhân tài sinh nhầm thời. Rượu được mấy tuần, lão lại kể lể phận làm thái giám cả đời phải ru rú trong cung, chỉ ước rằng giá có một ngày được như cánh chim, bay lượn tự do một lúc thôi cũng mãn nguyện.

Lý Bân tuy là nhiều tính xấu, nhưng cũng được cái nghĩa khí. Thành ra bèn vẽ cho Lý công công một bản vẽ “ dù lượn ”.

Tất nhiên, khi Lý công công giả đưa bản vẽ đó cho bọn Tửu Thôn, Hổ Hùng Quỷ lập tức phát hiện thứ này căn bản quá sơ sài, hầu như chỉ là một gợi ý. Nếu dựng theo đúng bản vẽ, căn bản là đống rác.

Song hắn cũng chỉ cần đúng một cái gợi ý rất nhỏ đó.

Cuối cùng dù lượn thành hình, tam quỷ vào cung hành thích không thành, đoạn tung mình bay khỏi hoàng cung trước ánh mắt ngỡ ngàng của nhiều người.

Mà Lý Bân, hay tin Lý công công hành thích Vĩnh Lạc thì chân tay rã rời ra vì sợ. Thám thính một ngày thì nghe tin thích khách dám lên thẳng điện Thái Hoà, hành thích Chu Đệ thêm một lần, rồi dùng chính phát minh “ của gã ” để đào thoát.

Lý Bân càng nghe càng hãi, vội vội vàng vàng tìm cách lẩn khỏi kinh thành lánh nạn, rồi mới báo cho thân nhân ở quê nhà. 

Đúng lúc đi ngang qua phủ đệ đổ nát của đám Hồ Nguyên Trừng thì gặp vệ binh túa ra sục sạo thích khách. Có tật giật mình, y bèn chui bừa vào cái phủ đệ không gài cửa nẻo để náu mình một lúc.

Lý Bân thấy Tạng Cẩu bẻ tay rôm rốp, thì khai rằng:

“ Ta đi ngang qua đây, thấy chỗ này như vừa bị cướp, bèn đi vào xem có ai thương tích gì không để còn tri hô người ta cứu giúp. Nào ngờ bị kẻ nào đấy ra tay ám toán, bất tỉnh nhân sự. Lúc vừa tỉnh lại thì bị tên quái thai nhà ngươi, chưa kịp đi thì lại gặp hay cha con nhà kia! Đấy! Chuyện chỉ có như vậy thôi! ”

Chương 153: Hồi mười tám (3)

Thì ra sau khi đóng màn kịch chém đầu, tranh thủ lúc cả bốn còn ở trong cung, thiền sư Tuệ Tĩnh đã lần về biệt phủ, áp chế chất độc, lại chữa trị cả thương thế bên ngoài cho cô bé Hằng. Thiền sư không biết chuyện hai đứa nhóc giấu mẹ con cô hàng rong trong nhà, chỉ đoán phủ viện gặp cướp nên mới bị đập phá tan hoang như vậy.

Thầy Tuệ Tĩnh bấm đốt tay tính giờ, biết bốn người cũng sắp về đến, bèn ẩn mình trong tối bảo vệ cô bé Thanh Hằng.

Sau đó, Lý Bân chạy đến, khiến ông tưởng rằng đám người xấu kia quay lại, bèn ra tay trấn áp. Thiền sư vốn là người hành y, tính tình ôn hậu, nên chỉ đánh Lý Bân bất tỉnh.

Chờ một lúc, thì nhác thấy bóng hai cha con Hồ Quý Li đằng xa. Thiền sư bèn để lại phương thuốc áp chế độc lực của độc Ngũ Tuyệt, rồi đi mất.

Tất nhiên, bọn Tạng Cẩu thì chưa biết chuyện Chu Đệ chỉ vờ chém thiền sư, thực ra thầy Tuệ Tĩnh vẫn chưa chết. Thành thử, hai đứa có thông minh cách mấy, cũng chỉ đoán được là có cao thủ âm thầm giúp đỡ, chứ không cách nào liên hệ nhân vật thần bí kia với ông thiền sư già hiền hậu.

Rủ nhau ra khỏi phòng chứa củi, hai đứa nhóc ngóc đầu lên nhìn vầng trăng đang khuất dần sau những áng mây.

Hồ Phiêu Hương trông thấy Tạng Cẩu rõ ràng đang có tâm trạng gì, bèn bảo:

“ Sao nào, lại nghĩ đến chuyện gì nữa? ”

Tạng Cẩu đáp, nhưng giống như tự nói cho mình nghe thì đúng hơn:

“ Té ra phương bắc này cũng có anh hùng, cũng có hiệp nghĩa. ”

Sau khi trấn áp quần hào ở nhà họ Lại, không thể không nói nó đã hơi có chút coi thường võ lâm phương bắc.

Hồ Phiêu Hương thì lại thở dài, tự trách bản thân.

Nếu không phải hai đứa nó giấu chuyện Trương thị với hai người Hồ Nguyên Trừng, tự mãn cho rằng tự chúng có thể giải quyết ổn thoả, thì chắc sự thể đã khác.

Nếu không phải có cao nhân âm thầm giúp đỡ trong chỗ tối, thì có lẽ cô bé Thanh Hằng đã phải trả giá cho sự bất cẩn của hai đứa nó.

Hồ Phiêu Hương vỗ vai Tạng Cẩu, nói:

“ Chúng ta vẫn còn phải học nhiều. ”

Hai chúng nó thường chê đứa còn lại là cụ non…

Nhưng lại chẳng đứa nào nhận ra, bản thân mình cũng không thể suy nghĩ giống một đứa trẻ cùng tuổi được nữa.

Chiến tranh bắt những đứa trẻ trưởng thành bằng cách này hay cách khác.

Điều ấy là xấu, là tốt? Lại tuỳ ở mỗi người…

Đông sang…

Tuyết rơi lắc rắc như muối, đậu lên mái nhà thành một lớp dày trắng phau. Trong vườn cây cối trơ trọi, đám cỏ mọc bên lối đi lạnh cứng lại, đội lên lớp tuyết mới phủ, xanh xanh trắng trắng cả một góc sân.

“ Tiếp chiêu!! ”

Hồ Phiêu Hương hét lên, sau đó nhảy vụt xuống, tay nắm cục tuyết ném mạnh về phía trước. Trời lạnh, khiến hai má cô bé hồng ửng lên.

Tạng Cẩu hụp người né, tay vươn ra chộp nắm tuyết dưới đất, rồi quăng ngược lại. Cục tuyết nén chặt bay đi với thế công sét đánh.

Phiêu Hương nhón gót, nghiêng người một cái. Vạt váy quét lên mặt tuyết một cái, còn cục tuyết của Tạng Cẩu thì rơi cái bộp lên thân cây.

“ Chú ơi, chú không chơi nữa à? ”

Cô bé Thanh Hằng bưng khay trà, nghiêng đầu hỏi.

Từ sau chuyện hành thích, Lý Bân quyết định ở lại chỗ này với tư cách tân khách của Hồ Nguyên Trừng. Ít nhất mặt ngoài thì là thế. Y vẫn âm thầm nghe ngóng động thái của Chu Đệ từ bấy đến giờ.

Lý Bân ưỡn thẳng ngực, dùng giọng nghiêm túc nói:

“ Ba cái trò ném tuyết chỉ đám trẻ con mới ham. Người lớn là phải chơi cái này, vừa tôi rèn sức sáng tạo, vừa luyện sức chịu đựng. Mau! Kiếm hai cái cành cây lại đây, người tuyết mới có tay được. ”

Chẳng là hôm trước tuyết xuống nhiều, Lý Bân mới bày cho hai đứa nhóc trò ném tuyết, bụng bảo dạ: [ Võ công chúng mày có thể giỏi đấy, nhưng làm sao biết ngón này? ]

Hồ Nguyên Trừng định can, thì Hồ Quý Li lại lên tiếng:

“ Càng tốt. Cho hai đứa nó vừa chơi, vừa luyện khinh công luôn. ”

Thế là chỉ cần không đến nửa khắc, hai đứa quỷ sứ đã vờn y như mèo vờn chuột, quay y như trẻ quay dế. Còn lúc chúng nó bắt đầu “ luyện ám khí ” thì Lý Bân mới biết thế nào là khổ. Y cơ hồ biến thành cái bia cho chúng nó ném, mà ức ở chỗ là chẳng trả đũa nổi cái nào.

Khinh công của cả hai đều hơn y chẳng biết bao nhiêu lần. Y đụng vào chéo áo của chúng được mới lạ.

Sau hai hôm, Lý Bân đâm dỗi, quay ra xây người tuyết.

Hồ Nguyên Trừng vừa thưởng trà, vừa đánh cờ cùng cha. Nhất thời cũng bắt đầu thích ứng với cuộc sống nhàn nhã. Cuộc cờ bao giờ dứt, tuần trà khi nào thôi? Chẳng ai biết rõ.

Cũng chẳng muốn để tâm đến.

“ Chu Đệ đáng lẽ có thể kéo quân xông thẳng vào Ngự Thư phòng, tóm gọn cả đám Tạng Cẩu và thiền sư Tuệ Tĩnh, thu lại bản vẽ thuyền Cổ Lâu và pháo Thần Cơ. ”
Hồ Quý Li đi một nước cờ.

Quân đen của ông rời rạc, tán loạn khắp bàn, rõ ràng chẳng thành một thế cụ thể nào. Nếu không phải Hồ Nguyên Trừng vẫn biết kì nghệ của cha, chàng sẽ nghĩ mình đang đấu cờ với một người dùng luật chơi Ô Ăn Quan để thả quân.

Hồ Nguyên Trừng đáp:

“ Con biết. ”

Cuộc chiến ở Đại Việt…

Lại thêm những gì mắt thấy tai nghe trên điện Thái Hoà khiến chàng hiểu rất rõ.

Ném cao thủ võ lâm lên chiến trường chả khác nào bắt chó trèo cây, cho mèo gáy sáng.

Tác dụng lớn nhất của họ là làm kì binh, tức là đi ám sát.

Lại nói…

Cẩm Y Vệ chẳng lẽ lại thiếu cao thủ ư???

Thế thì vì cớ gì, Chu Đệ lại cố tình để mất hai bản vẽ vào tay người Mông Cổ và Bồng Lai???

Đáp án thực ra rất đơn giản.

Bản thân Hồ Nguyên Trừng cũng biết…

Song chàng không nói. Hồ Quý Li cũng chẳng ép con mình. Cả hai đều hiểu, đến lúc Hồ Nguyên Trừng tìm ra cách đối mặt với vấn đề, tự chàng sẽ lên tiếng. Trước giờ vẫn thế. Mấy chục năm qua vẫn vậy.

“ Đúng. Con hiểu là tốt. ”

Hồ Quý Li đi một nước sau cùng.

Con cờ đặt vào, như vẽ mắt cho rồng. Lập tức, đống cờ lẻ tẻ tan tác trở nên mạch lạc và rành rọt, vây chặt lấy quân trắng của Hồ Nguyên Trừng.

Con cờ trên tay rơi xuống đất…

Chàng đã thua.

Hồ Nguyên Trừng thở dài, đặt quân cờ trên tay xuống bàn nghe cách một cái.

Hồ Quý Li lại nói:

“ Chuyện trong thiên hạ cũng như bàn cờ hai ta mới chơi vậy. Có những lúc, những thứ tưởng như rời rạc và đơn giản nhất lại là nhát dao trí mạng nhất… 

Quá đơn giản đến nỗi, khiến người đời chẳng thể nhìn ra chúng chỉ là từng nét, từng nét vẽ của một bức họa lớn.

Có những lúc...Người ta phải nhận ra cặp long nhãn trước cả khi con rồng mở mắt. ”

Hồ Nguyên Trừng thở dài:

“ Quả vậy. Trước đây, chúng ta đi những thế cờ phức tạp, nước nọ nối nước kia. Nhưng phức tạp cũng có nghĩa là cồng kềnh. Cồng kềnh, thì sẽ lộ sơ hở. 

Đơn giản chưa chắc đã là ngu dốt.

Phức tạp không hẳn đã là thông minh. 

Đấu với người ngây ngô, dễ nhất là dùng nước cờ phức tạp để thủ thắng. Đánh với kẻ cao cờ, lại phải như cuộc cờ của cha, phải vậy không? ”

Họ đang nói về cuộc cờ?

Hay nói về chuyện gì khác nữa?? 

Chỉ có họ biết với nhau mà thôi.

“ Mọi người đều ở nhà cả? Tốt quá. ”

Liễu Thăng đẩy cửa, bước vào trong sân.

Tuyết rắc lên giáp vai ánh bạc, đậu xuống mũi đoản thương gác sau lưng. Tuyết lạnh, thép càng lạnh, chỉ có lòng người là ấm áp.

Lý Bân nhác thấy bóng cậu chàng, kêu khẽ một tiếng, sau đó núp vội sau đống tuyết mới đùn lên, chưa kịp đắp thành hình người.

Bép!!

Liễu Thăng đưa tay, gạt một cái. Cục tuyết lạnh cóng bị đánh văng xuống đám cỏ, vỡ tan. Từng nhánh cỏ cứng còng vì rét, bỗng run bắn lên một cái, hệt như người ốm trở cơn ho.

“ Này!! ”

“ Tiếp chiêu! ”

Hai đứa nhóc gom tuyết lên, đoạn dùng khinh công lướt nhẹ, khiến cho Liễu Thăng lọt vào khoảng trống ở giữa hai chúng nó.

Liễu Thăng giật mình.

Vị trí ấy chẳng khác nào đứng giữa hai chiến hào đối lập, cung binh nỗ binh của song phương đều đã giương cung căng nỏ.

Vèo! Vèo!

Cậu chàng chỉ kịp gỡ thương, thì hai cục tuyết đã thi nhau phóng ngang mặt.

Pọc. Pọc.

Liễu Thăng dậm chân, tuyết mỏng bắn vụt lên ngang tầm eo. Nói đoạn, tay phải vung ngược thương đâm lên, tay trái xoè thành chưởng vỗ ra. Cả hai cục tuyết đều bị đánh rụng.

Tạng Cẩu đã phi thân tới, tay trái tống ra một chiêu Hàm Chó Vó Ngựa ngay vào mặt Liễu Thăng.

Cốp!!

Liễu Thăng dốc đoản thương, đỡ được cú đánh của thằng nhóc. Nơi nắm đấm giao với cán thương, kình lực thổi quét, đẩy Liễu Thăng dạt về sau gần một thước. Gót chân mài lên lớp tuyết tạo thành hai cái rãnh nông.

Đúng lúc này, Hồ Phiêu Hương nhảy tới một bước, tung chân hất lớp tuyết vào Tạng Cẩu. Tuyết lạnh đập vào mặt, khiến thằng bé tạm thời không mở nổi mắt.

Liễu Thăng đột nhiên xốc ngược ngọn thương, đốc thương vụt từ dưới hất lên, nhắm vào huyệt Phong Thị ở đùi Phiêu Hương.

Hồ Phiêu Hương vung đao, gạt vào thân thương. Lực đạo cương mãnh trên thương của Liễu Thăng bị nhu kình hoá giải, đuôi thương bị dẫn sang bên phải nửa xích.

Đuôi thương hướng về phía Tạng Cẩu.

Liễu Thăng chỉ thấy cán thương hơi trùng xuống, mũi thương ngóc lên phản chiếu sự bất ngờ thoáng qua khoé mắt.

Tạng Cẩu đạp vào đốc thương, tung mình lên không. Hai tay nó vung mạnh, mấy hòn sỏi dưới đất thi nhau rải xuống đầu hai người còn lại. Lần này nó không dùng nội lực, những hòn đá phóng đi với lực đạo rất bình thường.

Hồ Phiêu Hương không kịp tránh, bèn rút đao ra múa tròn, gạt hết đá Tạng Cẩu rải xuống đầu mình. Xong xuôi, lưỡi đao lại dứ ra chém thêm hai nhát về phía Liễu Thăng.

Liễu Thăng gạt hết đá vụn, lại xốc thương đâm sang tiếp đao, gối nhướn lên theo đà lao về phía Tạng Cẩu.

Ba đứa nó cứ đánh qua đánh lại như thế ngót một canh giờ mới ngừng. Trừ Tạng Cẩu có nội lực cao nhất, hai đứa nhóc kia đều mệt lả.

Chương 154: Hồi mười tám (4)

Bấy giờ chúng ngồi dưới gốc cây nghỉ ngơi, cô bé Thanh Hằng đã bưng một cái khay đến, nói:

“ Mời cô cậu dùng trà. ”

“ À… à… cám ơn… ”

Liễu Thăng đưa tay đón chén trà, ngón tay hai người đụng nhau một chút. Thế là cậu chàng lúng ta lúng túng suýt nữa thì đổ úp cái chén xuống tuyết. 

“ Cậu này lạ. Thương nặng thế còn cầm được, mà có chén trà con con cũng lóng nga lóng ngóng. ”

Liễu Thăng cúi đầu, song vẫn cứ lấm lét nhìn Thanh Hằng. Hai đứa nhóc ở phía xa được mẻ cười to, bò lăn kềnh cả ra đất.

Hồ Nguyên Trừng lắc đầu, nói:

“ Cha xem kìa. Mấy đứa nhóc này giờ lớn nhanh thật đấy. ”

Hồ Quý Li gật gù.

Không hiểu vì sao, kể từ khi sang Tàu, Hồ Nguyên Trừng thấy cha mình thanh thản hẳn. Có lẽ, là do không còn bị hai chữ “ đế hoàng ” đè nặng trên đầu nữa.

Một cái bóng bất ngờ xuất hiện ngay trong sân, tóm lấy đầu vai Tạng Cẩu, sau đó nhảy phốc ra ngoài.

Mọi người ai nấy võ công cũng chỉ tầm tầm, duy có Hồ Quý Li là kịp phản ứng lại. Ông phi thân lên đầu tường, song quyền tống ra nhắm ngay vào các đại huyệt sau lưng đối phương. Kình lực nặng như núi đè sóng vỗ.

Chỉ thấy người nọ xoay đầu, mớ tóc bạc trắng xổ tung xơ xác như rễ tre phủ xuống che một nửa tấm mặt nạ. Y không nói không rằng, bàn tay xoay chuyển, vỗ một chưởng vào đầu quyền của Hồ Quý Li.

Xoạt! Xoạt!

Tức thì, ống tay áo bằng vải của Hồ Quý Li bị xé toạc, trên cánh tay xuất hiện những vết chém dài như bị đao cứa. Ông mất đà rơi xuống chân tường, còn cái bóng đã biến mất khỏi tầm mắt của mọi người.

“ Ông ơi! Cẩu! ”

Hồ Phiêu Hương chạy vội đến, chỉ thấy Hồ Quý Li đưa tay ra ngăn lại. Máu đỏ nhỏ xuống tuyết từng giọt, từng giọt.

Mất một chốc điều hoà khí huyết, ông mới lên tiếng nổi:

“ Kẻ này có võ công cực cao, đi theo chỉ chịu chết. ”

“ Nhưng… ”

Hồ Phiêu Hương định nói gì đó, môi run run nhưng không mở lời được.

Tạng Cẩu hẳn đã bị chân khí của đối phương xuyên phá huyệt Kiên Tỉnh, phong toả huyệt đạo toàn thân.

Cứ theo lẽ thường mà nghĩ, thì hiện tại thằng nhóc ấy phải như ngọn đèn trước gió, lành ít dữ nhiều.

Nhưng khi bình tĩnh rồi, Hồ Phiêu Hương lại nghĩ:

[ Không đúng. Tạng Cẩu có cái gì mà người kia phải bắt? Nó tứ cố vô thân, trên người chẳng có gì đáng giá. Võ công kẻ ấy so với thầy không biết thế nào, nhưng ắt cũng là tông sư một phái. Những người như thế có cái cao ngạo và phong phạm của họ, chẳng làm những chuyện trộm cướp võ công của một thằng nhóc đâu. 

Tạm thời không biết kẻ đó bắt Cẩu đi làm gì, nhưng có thể chắc chắn một điều nó sẽ không bị nguy hiểm gì. ]

Đến đoạn này thì cô bé thở ra một hơi dài, đoạn quay sang chỗ Hồ Quý Li.

“ Ông! Ông dạy thêm võ công cho con đi ông! ”

Hồ Quý Li nói:

“ Rồi. Đợi thương thế ông lành hẳn, ông sẽ dạy cho. ”

Phiêu Hương hướng ánh mắt ra phía ngoài khoảng tường bao bọc mảnh sân nhỏ, ánh mắt lộ vẻ khẩn trương.

Thành thử, cô bé bỏ qua một tia bối rối thoáng hiện nơi đáy mắt Hồ Quý Li.

Lại nói về nhóm Lê Hổ…

Sau khi đánh bật quân tiên phong của nhà Minh, ba người đã chiếm được đỉnh núi Dục Thuý. Bây giờ chỉ cần chờ đại quân Hậu Trần kéo tới, là hoàn thành nhiệm vụ.
Cô nàng có tài ngự thú tự xưng là Phạm Ngọc Trần, người vùng núi phía tây mới xuống miền xuôi được dăm bữa nửa tháng. Chứng kiến Đinh Lễ đại phát thần uy, chỉ cần một cây côn một con trâu thôi mà giết lính Minh như giết gà, cô nàng không khỏi ngưỡng mộ. Cả ngày trời bám theo Đinh Lễ, hỏi hết chuyện này đến chuyện kia.

Cậu chàng đau đầu nhức óc mãi, song không cách nào dứt được cô nàng ra, lại không thể lên tiếng đuổi đi.

Số là hôm qua, Phạm Ngọc Trần đã nói:

“ Tôi sẽ giúp mọi người với một điều kiện. Ấy là sau khi phá được giặc rồi, thì phải dẫn tôi theo. ”

Lê Hổ nghĩ thầm:

[ Chắc cô nàng muốn đi chơi, nhưng không rành đường đi lối lại, mới bám theo bọn ta. Chết thật. Không có ngự thú thuật của cô nàng, khó mà phá được giặc. Thôi đành đáp ứng rồi đến đâu thì đến… ]

Chủ công đã đồng ý, điều kiện lại chẳng phải cái gì to tát, cũng không vi phạm đến nhân nghĩa. Thành ra Đinh Lễ thân là gia tướng chỉ có đường chịu trận.

Con Đại Thắng đứng cạnh bụi tre, đầu lúc la lúc lắc, hông uốn éo, luôn mồm ò ọ trêu ngươi chủ. Lê Hổ nhìn con trâu “ ngu như bò ”, mà chỉ biết nhún vai cười khổ không ngớt.

“ Này, Đại Thắng, bao giờ mày thành tinh? ”

Cậu chàng đấm vào vai con trâu, biết cú đánh của mình chẳng hề gì so với da dày thịt chắc của nó.

Con trâu cong đuôi, ọ một tiếng dài.

Kị binh tiên phong của nhà Hậu Trần hoả tốc đến núi Dục Thuý vào chiều hôm đó.

Ba người Lê Hổ xuống đón đoàn tiên phong, lại thuật lại chiến sự với vị đầu lĩnh. Nghe ba người kể xong đâu đấy, y bèn bĩu môi:

“ Chỉ ba người các ngươi? Đánh tan hai trăm kị binh của Mộc Thạnh? ”

Những kị binh còn lại cũng cười phá lên, chê rằng ba người nọ nói khoác không biết ngượng mồm.

“ Thiếu niên ham công tiếc lợi, quả thật là rặt một đám thùng rỗng kêu to! ”

Rốt cuộc, vị đầu lãnh cũng buông một câu, kèm theo cái nhìn khinh khỉnh.

“ Nhà ngươi mới là đồ thùng rỗng kêu to! ”

Phạm Ngọc Trần nhao lên, nói thật lớn.

Đinh Lễ thì từ từ gõ côn vào vai, chậm rãi:“ Thùng nó rỗng hay đầy, phải đánh cho nó kêu thì mới biết. ”

“ À… thằng này láo! ”

Đám kị binh trợn mắt quát, khí giới lăm lăm trên tay.

Tên đầu lĩnh giơ tay, ngăn thuộc hạ của mình. Nói rồi, y hé mắt nhìn Lê Hổ, nói nhỏ:

“ Quản thuộc hạ cho tốt vào, cậu Kim Ngô tướng quân ạ. Biết câu chó sủa là chó không cắn rồi đấy. ”

Đoạn thúc ngựa, phi lên triền núi.

Lê Hổ đánh mắt, ra dấu cho Đinh Lễ ngưng tay. Bằng không với tính khí của Lễ, con ngựa kia không ăn một côn ngang giò mới là lạ.

Đinh Lễ nói:

“ Chủ công, cậu việc gì phải ngăn tôi? Cái đám tiểu nhân nhìn người bằng nửa con mắt này cứ phải dạy cho một bài học, không lại rác hàng ngũ nghĩa quân. ”

“ Đúng vậy! Đồ nhát gan! ”

Phạm Ngọc Trần gật đầu tỏ ý đồng tình, lại le lưỡi hòng trêu tức Lê Hổ.

Lê Hổ nói:

“ Ba người đánh tan hai trăm quân, người ta tin mới là lạ. Cứ chờ Đặng đại nhân đến đây rồi tính tiếp. ”

Còn một điều mà cậu ta không nói.

Trong hàng ngũ quân Trần Ngỗi, không mấy người biết cậu từng cứu Giản Định đế. Lê Hổ áp tải quân lương tới rồi được phong chức ban tước, người ngoài nhìn vào, ắt nghĩ cái danh tướng quân của cậu là do mua bán mà có.

Cậu chàng biết điều này, nên cũng hiểu vì sao tên đầu lĩnh kia gây sự với mình.

Thời gian thấm thoát…

Lúc Giản Định và Đặng Tất dẫn đại binh đến chân núi Dục Thuý, bóng cờ quân Minh đã phấp phới ở bờ sông đối diện. 

Đinh Lễ dắt con Đại Thắng đi dọc triền núi, lẳng lặng quan sát ghi nhớ cách song phương dựng luỹ đào hào, bố binh hạ trại. 

Bên Hậu Trần chiếm được địa lợi, là phe phòng thủ. Các chiến luỹ đóng dọc theo hai bên bờ sông, nối liền với các rặng tre thành một dải tường thành tự nhiên. Cọc nhọn được đóng ở các phần cạn, đặc biệt là ngã ba sông Vân – Đáy.

Hai quân đều cử một bộ phận ra quấy rối lẫn nhau, thành thử việc xây đắp cũng không lấy làm thuận lợi cho lắm.

Bờ bắc bến Bô Cô…

Mộc Thạnh nhấc một tay đặt lên bả vai, ống tay áo bay phần phật trong cơn gió thổi ngang mặt sông. Mỗi lần trái gió trở trời, vết thương ở mỏm vai cụt lủn lại nhức nhối.

Cánh diều sáo đã bay cao, xác Hồ Đỗ cũng đã vào đất. Song cũng như đám cỏ dại – thứ thảo mộc cứng đầu nhất – người An Nam lại đứng dậy một lần nữa… ở bên kia chiến tuyến.

Lão bước nhanh mấy bước, nhặt cây cung lên, ngón tay gõ lên thân gỗ cong cong. Đoạn dời xuống đoạn dây căng cứng, gảy một cái, như muốn tấu một bản đàn hoà vào ngọn gió trên sông.

Cờ bay phần phật, sóng gầm từng hồi từng hồi. Mộc Thạnh nhặt cây siêu đao của mình, gác lên vai. Ống tên ở eo giờ chỉ là một vật trang trí, không hơn không kém.

Nói rồi như nhớ ra chuyện gì đó, lão lại rảo chân bước về phía hậu phương.

Phía bắc quân doanh có một dãy xe tù.

Lúc nhúc trong xe ngồi mấy chục người, ai nấy mặc áo tù rách rưới, tóc mái xổ xuống che kín nửa khuông mặt. Cổ ai cũng đeo gông nặng, chân ai cũng có cùm cứng.

Ấy đúng là tù binh quân Minh bắt được ở hai trận Tam Giang và Đông Quan.

Thấy Mộc Thạnh đến, lính gác đều hơi cúi đầu chào lão một cái. Duy chỉ có một người vẫn chưa nhận ra sự xuất hiện của Thạnh, cũng như cái im lặng đến bất bình thường của quân doanh. Y hãy còn đang tính xem, một chốc nên xử trí đám người trong xe ra làm sao.

Chương 155: Hồi mười tám (5)

“ Này! Lữ Nghị! ”

“ Ai?? Á! Mộc đại nhân! Tiểu nhân thất lễ. ”

Lữ Nghị cúi thấp đầu, tay vẫn nắm chặt chiếc roi da bò. 

Mộc Thạnh cau mày. 

Người làm tướng, phải có khí độ của người làm tướng, mới có thể phục chúng.

Gần một năm trước Lữ Nghị để người Nam cứu được Trần Ngỗi, vẫn cho đấy là nhục. Danh dự, tôn nghiêm đánh mất hôm ấy, đáng lẽ phải đường đường chính chính tìm lại trên chiến trường. Thế nhưng hôm nay y trút giận lên tù binh, chỉ thể hiện bụng dạ bản thân hẹp hòi.

Song…

Mộc Thạnh không thể làm gì được.

Hai quân giao chiến, sĩ khí làm đầu. Mà muốn sĩ khí bốc cháy rừng rực, theo lão không có cách nào tốt hơn thù hận. Thành ra, lão vẫn cứ nhắc đi nhắc lại mối hoạ nam bang trước ba quân. Mộc Thạnh vẽ ra một tương lai, lúc con rồng phương nam bay cao, cắn ngược lại trung thổ một cái. Lão lại nhấn vào cái chết thảm thương mà thân nhân của các sĩ tốt sẽ phải nếm trải nếu chuyện ấy xảy ra.

Khi người ta sợ cái gì, người ta tấn công tiêu diệt nó. Ấy vốn là tâm lí bình thường của loài người. Suốt chiều dài lịch sử tồn tại của nhân loại, không biết đã có bao nhiêu cuộc chiến đã nổ ra vì nguyên nhân này.

Người ta nói…

Bóp nát hiểm hoạ từ trong trứng nước.

Thế là, toàn quân người nào người nấy đều ít nhiều có ý muốn tiêu diệt quân “ phản loạn ” phương Nam.

Mà trong quân ngũ, chỉ có Lữ Nghị căm giận quân Đại Việt nhất. Giờ mà Mộc Thạnh ngăn y lại, khác gì dội nước vào than ấm? Chưa ra trận đã tự dập tắt sĩ khí của quân mình trước, 

Thành thử… 

Mộc Thạnh chỉ có thể hỏi:

“ Đám Nam man này cứng cỏi lắm hay sao? ”

Lữ Nghị đáp. Mắt hắn sáng rỡ. Rực lên một tia khát máu và bệnh hoạn. Cái nhìn của đao phủ.

“ Bẩm tướng quân, quả thực chúng không vừa. Mạt tướng thiết nghĩ sẽ thử đốt vài ngón tay của chúng, xem có cạy nổi họng chúng hay không. ”

Nói rồi hắn nhìn đống giẻ nhúng đẫm dầu để trên bàn, cười sặc sụa.

Mộc Thạnh nói:

“ Lữ Nghị tướng quân, phải bảo trọng thân thể. Trận chiến với quân của Trần Ngỗi đang tới gần, đừng quá phí tâm phí sức vào đám tù nhân này. ”

“ Trận chiến ấy sao thiếu phần mạt tướng được??? Tướng quân yên tâm, mạt tướng nhất định sẽ lấy đầu Giản Định, Đặng Tất về như Quan thánh chém Nhan Lương, Văn Xú vậy. ”

Lữ Nghị cười gằn.

Hẳn nhiên, hắn vờ như không hiểu lời nhắc khéo của Thạnh.

Kẻ “ lương thiện ” như hắn sao có thể giết những tù nhân này được kia chứ?

Mộc Thạnh rảo bước đi.

Lúc Lữ Nghị nhắc đến chữ “ tay ”, mỏm vai cụt của lão lại nhói lên. Một chút hoa lửa tàn nhẫn âm ỉ cháy trong đáy mắt.

Đêm đã rón rén về tới, ôm lấy doanh trại của song phương từ lúc nào. Đuốc hồng rực, thi nhau mọc lên như giá đỗ sau mưa, lấm chấm lấm chấm khắp cả một khúc sông. Bến đò Bô Cô bình thường vắng hơi người, nay lại sinh động hẳn lên.

Mai kia cái nhiệt náo nọ hẳn sẽ chỉ còn tiếng kiếm khua tên bắn hoà trong giọng người thét gào đau đớn. Nhưng chí ít, đêm nay, bóng tối đã quên mang anh bạn tĩnh lặng theo cùng.

Tiếng rên la văng vẳng, tiếng xèo xèo của thịt da cháy trụi cứ chìm dần, chìm dần theo những con sóng vỗ vào hai bên bãi bồi.

Mưa rơi tháng chạp.

Không khí lạnh, quện trong nước mắt rả rích rơi lên vết thương hãy còn đang co quắp từng cơn từng cơn, hệt như dao chém kim đâm.

Phía nam doanh trại…

Trăng mờ náu sau biển mây đen xì. Sấm ì oàng phía xa xa cuối chân trời. Chớp loé, rọi sáng hai bóng người đang đứng đối diện nhau.

Ánh mắt hiện lên dưới màn mưa, sắc bén và quyết liệt. Hai thanh bảo kiếm lăm lăm trên tay, ánh chớp sáng loà cũng bị nước đồng đen tuyền nuốt lấy.

Hoàng Thiên Hoá thu gươm sát má, mũi gươm trỏ về phía đối thủ. Mọi thứ… từ thủ pháp, đến bộ pháp của y đều rất cổ quái. Gươm Xích Ngô đón mưa, kêu lên những tiếng tinh tang.

Đối thủ của y lừ lừ ngóc đầu dậy…

Mái tóc ướt nhẹp dán chặt vào gò má gầy guộc, phủ lên đôi mắt đỏ quặc lên vì sát ý.

Chớp loé!
Gương mặt tiều tuỵ của Hoàng Phúc xuất hiện.

So với lần trước ở sông Vân, lão gầy rộc đi không ít. Xương hai bên gò má nhô ra, lộ rõ hẳn dưới làn da sần sùi những vết nhăn. Y già đi. Già đi trông thấy.

Hoàng Thiên Hoá trầm giọng:

“ Bại tướng, muốn phục thù phỏng? ”

Hoàng Phúc không đáp.

Y chỉ tuốt kiếm ra, tay phải nắm hờ lấy chuôi kiếm thủ thế.

Mũi kiếm đen bóng trỏ xuống đất, lóc tóc lóc tóc tiếng từng hạt mưa nhỏ xuống nền cỏ.

[ Chả lẽ nào là nó? ]

Hoàng Thiên Hoá nghĩ thầm, nói đoạn tung mình đến trước mặt Hoàng Phúc, nhứ một chiêu gươm.

Ấy là đòn Phi Ngư Xuất Hải.

Phi ngư, hay gọi dân dã là cá chuồn, là loại cá biển kì lạ. Nó có cặp vây ngực rất khoẻ, khi gặp kẻ thù, nó sẽ bay vọt lên khỏi mặt biển để trốn chạy.

Chiêu Phi Ngư Xuất Hải phảng theo cách loài cá chuồn bất thình lình bay vọt khỏi mặt nước. Đường kiếm đâm ra bất ngờ hiểm hóc, nhanh như điện xẹt. Thoạt nhìn tưởng chừng ấy là sát chiêu nguy hiểm trùng trùng, nhưng thực ra lại là cách lấy lui làm tiến dùng trước cướp sau.

Cao thủ đối chiêu, thường sẽ dạo quanh đối thủ trước, chờ khi kẻ địch lộ sơ hở sẽ ra tay tức khắc. Nói ngắn gọn, chẳng ngoài bốn chữ: hậu phát chế nhân.

Nhưng Phi Ngư Xuất Hải vốn là chiêu thức dùng để phá vỡ thế quân bình hai hổ vờn nhau ấy. Nói cách khác, là đòn sinh ra để đấu với cao thủ.

Nó không chỉ là đòn đánh nhứ, mà còn là một chiêu sinh ra để dụ địch phản kích. Xuất thủ, cũng như con rắn phóng người ra mổ, ắt sẽ để lộ sơ hở.

Hoàng Phúc dựng kiếm.

Kiếm pháp của y cũng lăng lệ, cũng ác liệt như ngón ưng trảo của y!

Oooooonnnggggggg.

Hai thanh thần khí va chạm, khiến tiếng kêu thanh thoát bật lên giữa sấm nổ ì oàng. Trong khoảnh khắc, từng hạt mưa xung quanh như cũng rung lên theo tiếng thần binh gào thét.

Hoàng Phúc chủ động lấy kiếm đụng gươm, Hoàng Thiên Hoá không thể không đón chiêu. Lưỡi kiếm của tên Hoàng Phúc cứ đuổi sát, dí cứng lấy Xích Ngô. Thành thử, bao nhiêu biến số còn chưa thi triển của Phi Ngư Xuất Hải bị chặn đứng hết cả!

Phi Ngư Xuất Hải đã cao, nhưng lần này Hoàng Phúc lại còn cao tay hơn một bực. Chỉ mới ra tay, mà đã cướp được thế chủ động.

Hoàng Thiên Hoá rung tay, gươm Xích Ngô vẽ một đường bán nguyệt, đặng đẩy lui kiếm của Hoàng Phúc. Đồng thời, bàn tay phải cũng chém ra một chiêu: Thị Huyết Hung Sa.

Thị huyết, tức là khát máu. Còn sa là con cá mập.

Chỉ thấy thủ đao của Hoàng Thiên Hoá như hoá thành cái miệng há rộng tua tủa răng của loài cá mập. Y liên tiếp vạch ngang, cứa dọc, vồ trái, táp phải. Trong bán kính ba bốn xích chỉ toàn thấy thủ đao tung hoành, tưởng như không gì cản nổi.Hoàng Phúc cũng buộc phải phân tâm lưỡng dụng, tay phải ngự kiếm, tay trái thì đổi sang ưng trảo công đánh lại Hoàng Thiên Hoá.

Hai bên giao chiến đã đến hồi kịch liệt, người nào người nấy cố gắng tranh thủ từng mẩu lợi thế dù là nhỏ bé nhất. 

Chưởng gạt trảo, kiếm bạt gươm, âm thanh thâm trầm của quyền chưởng tranh đấu hoà lẫn vào tiếng va chạm lảnh lót của hai thanh thần binh. Đám cỏ mọc phân cách hai người, không hứng được nổi một giọt mưa.

Mưa rơi…

Hai cao thủ đấu dưới màn mưa cũng đã ngót một ngàn chiêu.

Lần này cả hai đều đã biết đại khái võ lực của nhau, ra tay hoàn toàn không lưu thủ, càng không có chuyện khinh địch. Có bao nhiêu độc chiêu, tuyệt kỹ cũng đã giở ra gần hết, chẳng ai dám giấu nghề. Thế nhưng, song phương cứ gặp chiêu chiết chiêu, gặp thức phá thức, mãi đến tận bây giờ cũng không phân được thắng phụ.

Ooonggg!

Đồng đen ngân nga.

Hai cao thủ lần nữa lao vào nhau!

Lần này…

Cả hai đều quyết định dùng cái chiêu chịu đấm ăn xôi, những tưởng kết thúc thế cuộc bình thủ.

Gươm Xích Ngô dùng hàng răng cưa lách vào tà áo, cứa trúng bả vai của Hoàng Phúc. Nhưng cùng lúc, ưng trảo của Phúc cũng vạch trúng được be sườn của Hoàng Thiên Hoá.

Song phương cùng kêu một tiếng, loạng choạng lui mấy bước.

Mưa rơi lóc tóc…

Hoàng Phúc mặc kệ bả vai đẫm máu, kéo lê thanh kiếm tiến từng bước nặng nề về phía Hoàng Thiên Hoá. Miệng vết thương ở vai hứng nước mưa lạnh buốt, khó chịu vô cùng… nhưng lão dường như không cảm thấy gì.

Trong lòng, Hoàng Phúc bấy giờ chỉ một mực muốn lấy lại danh dự…

Hoàng Thiên Hoá hít sâu một hơi, vẩy thanh Xích Ngô vào màn mưa một cái.

“ Sao?? Chưa dùng đến phục binh ư?? ”

Hoàng Phúc trầm ngâm nhìn đối thủ.

Rồi…

Lão mấp máy mép. Chòm ria đẫm nước mưa khẽ chuyển động lên lên xuống xuống:

“ Ta thừa nhận. Ta không thắng nổi ngươi. Ít nhất, với tư cách là người học võ, không thắng được. Nhưng ta là tướng, và nơi đây là chiến trường. ”

Gió lặng.

Sấm cũng không nổ nữa.

Thành thử, Hoàng Thiên Hoá có thể nghe rõ từng tiếng tành tạch của dây cung căng cứng chỉ chực quất vào không khí.

Hoàng Thiên Hoá thở dài, nói:

“ Đúng! Lần này ngươi đã thắng. Ta và ngươi cũng coi như là đối thủ cân sức cân tài. Trước lúc lâm chung chỉ xin ngươi giữ cho được toàn thây, mặt mũi nghiêm chỉnh xuống suối vàng nhận tổ nhận tông vậy. ”

Hoàng Phúc nói:

“ Được! Nể võ công của ngươi, ta chấp thuận. ”

Đây là chiến trường.

Hôm nay Hoàng Thiên Hoá đến doanh trại cứu tù binh, thì đã là chuyện giữa hai quân giao tranh chứ chẳng còn là tranh chấp ân oán giang hồ nữa. Thành thử, Hoàng Phúc cũng phải lấy cương vị là tướng mà đối đãi.

Đấu với Hoàng Thiên Hoá ngàn chiêu, là để giải đáp khúc mắc trong lòng. Cũng có thể coi đấy là màn đấu tướng trước khi hai quân túa vào tàn sát lẫn nhau.

Nói đoạn...

Tiếng dây cung đập vào không khí, gãy gọn như tiếng sấm.

Mũi tên sáng lóa rời dây xé rách màn mưa, đâm thủng giáp ngực, cắm xuyên vào ngực trái Hoàng Thiên Hóa.

Người ngã xuống, gươm Xích Ngô văng vào dòng nước sông Vân lạnh căm căm. Trước ngực, đuôi mũi tên vẫn rung rinh mãi không dứt, hệt như quả chuông nguyện hồn lắt lay theo cơn gió âm u. Hoàng Thiên Hóa ôm chặt lấy vết thương, máu đỏ rỉ ra qua từng kẻ tay. Y mấp máy môi, như thể muốn nói điều gì, nhưng chỉ có hơi thở lắt lay thoát ra chứ không thành tiếng. Một lúc sau, thì đồng tử dãn hẳn, người cũng thở hắt ra một hơi dài...

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau