THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 146 - Chương 150

Chương 146: Hồi mười bảy (13)

Bấy giờ tiết trời đã từ hạ chuyển sang thu, tiết trung thu qua chưa được mấy bữa. Bên con đường làng lơ thơ hương lúa mới gặt, bấy giờ chỉ còn gốc rạ. Lá vàng rơi xuống mặt ao, khung cảnh đầy thi vị.

Một đoàn người độ trên dưới năm mươi dẫn theo một trăm con lừa khoẻ, thồ từng bao từng bao lương thực đi dọc theo con đường núi. Thóc mới thu hoạch từ vụ mùa tháng tư, đã đãi sạch trấu, cách một lớp vải vẫn có thể ngửi thấy mùi gạo mới thoang thoảng.

Lê Hổ ngồi trên lưng con la, tay cầm quyển binh thư chăm chú đọc. Nhớ hồi tháng sáu vừa qua quân của nhà Hậu Trần tiến ra chiếm Nghệ An. Sau Trần Ngỗi lại để Đặng Tất dẫn đại binh đánh Tân Bình.

Tân Bình bấy giờ do Phạm Thế Căng quản hạt. Y vốn là hàng tướng theo hàng Trương Phụ, được y giao cho làm tri phủ ở đây. Căng được quyền có thế đâm ra kiêu, nhân lúc Trương Mộc về nước, binh hoang mã loạn bèn chiếm núi An Lại tự phong làm Duệ Vũ đại vương.

Cứ như người ta đồn rằng Giản Định đế đã phái người đến chiêu an, cùng họp sức đánh đuổi quân Minh. Nhưng Thế Căng chẳng những xé thư, còn chém sứ giả. Trần Ngỗi mới cất quân tiến đánh.

Tin đồn này rốt cuộc có bao nhiêu phần là thật, bao nhiêu phần là giả, Lê Hổ không biết. Cậu chàng chỉ biết là sau khi Phạm Thế Căng và cháu bị bắt, quân Hậu Trần đã có một dải lãnh thổ rộng lớn. Nam ở mãi mạn Lệ Thuỷ Quảng Bình bây giờ, phía bắc thì đã rục rịch đánh đến Bình Than, Hàm Tử và ngoại vi Đông Quan.

Tiếng lành theo đó đồn xa, bấy giờ dân Nam mười người thì có năm sáu đã nghe tiếng Trần Ngỗi. Rồi chuyện y bị đuổi giết vì là con cháu họ Trần thế nào, quân Minh lật lọng ra sao cũng dần lan toả trong dân gian.

Dân chúng nhiều nơi vốn đã bất bình vì thuế sưu lao dịch, được nhân sĩ giang hồ kích động, nên nổi dậy quy tụ dưới trướng Giản Định rất đông. Thanh thế nghĩa quân lên nhanh như diều gặp gió.

Bà Thương tuy thấy nghĩa quân thắng liên tiếp mấy trận như chẻ tre, song chưa vội phát binh ủng hộ ra mặt. Bất kể Lê Sát cứ ra ra vào vào cửa phủ đòi xuất chinh mỗi ngày, bà vẫn đợi đến vụ lúa, cho thu hoạch xong xuôi đâu đấy, rồi mới bảo Lê Hổ theo đường núi mang mấy trăm thạch gạo trắng đến ủng hộ nghĩa quân. Còn nghĩa binh ở Lam Sơn thì vẫn án binh bất động.

Lê Sát trong bụng không vui vẻ gì, thấy có cơ hội tìm đến nghĩa quân bèn giơ tay xung phong lãnh trách nhiệm áp tải lương thực.

Bà Thương mới nói:

“ Cậu không phải gia tướng của nhà họ Lê, đi lúc nào mà chẳng được?? ”

Không đánh không quen nhau. Anh hùng biết anh hùng, chỉ sau mấy ngày, Lê Sát đã thấy rất hợp cạ với Đinh Lễ. Mà Lễ thì bảo sao cũng không chịu xuất chinh. Y khuyên không được, bấy lâu nay vẫn bụng bảo dạ tự hỏi chẳng lẽ mình nhìn nhầm?

Lê Sát lại nghĩ:

[ Luận về lược thao võ nghệ mình hơn hẳn, nhưng nội chính thì mấy tháng nay mình đã nhìn thấy nhiều, tự nhận không bằng một góc của bà ta. Liệu có phải bà ta có dụng ý khác? ]

Nghĩ thông suốt, y cũng không hỏi nhiều nữa.

Bà Thương phái Đinh Lễ đi theo hộ tống đoàn lương thực, Lê Sát cũng không nói một câu nào cả.

Trở lại với đoàn binh tải lương…

Lê Hổ ngồi trên con ngựa đốm, điều động mọi người làm việc. Vì tránh tai mắt quân Minh và bè lũ hàng tướng, nên đoàn lừa phải đi trong núi rừng, đường xá gập ghềnh, cây cối lô nhô rất khó đi.

Đinh Lễ đang nằm khểnh, chân vắt chữ ngũ trên lưng Đại Thắng Thần Ngưu thì chợt nhỏm dậy, chép miệng:

“ Xem ra phải mua đường. ”

Lê Hổ còn chưa kịp lên tiếng hỏi, thì đã có tiếng hô hào inh ỏi:

“ Giết!! Giếttttt!! ”

Trong rừng bỗng có một đám người túa ra, đuốc ở tay cháy sáng, rọi lên bộ dáng tức cười của họ. Người nào người nấy mình mặc áo vải, đầu chít khăn, quần thì ống cao ống thấp. Vũ khí trên tay không đồng nhất tí nào. Dao có, rựa có, cuốc thuổng có, gậy gộc có, tre vót nhọn một đầu làm giáo cũng có luôn.
Đinh Lễ cười nhạt, thúc vào bụng trâu một cái. Đại Thắng Thần Ngưu rống lên, lừng lững bước về phía cường đạo. Bước chân của nó chẳng lấy gì làm nhanh, nhưng từng bước từng bước đều nặng đến ngàn cân. Dẫm lên mặt đất, cơ hồ khiến rễ cây xung quanh bật gốc. Đoàn la của Lê Hổ còn phải run rẩy nằm bẹp xuống, nữa là con người.

Thần ngưu hiển uy, đám cường đạo chưa kịp làm nên trò trống gì đã ngã lăn quay cả.

Đinh Lễ lại vung gậy, gõ mạnh một cái xuống khiến nền rừng nổ ra một cái hố sâu bằng quả bưởi.

Một người, một trâu đều triển lộ bản lĩnh, đám người kia buông hết cả vũ khí quỳ mọp xuống đất xin tha.

Những người này không có kinh nghiệm đi cướp, kẻ đần cũng đoán được chắc chắn họ là dân phu phen chạy trốn, hoặc là cùng quẫn rời quê tha hương cầu thực. Nhưng cái thời buổi này, nhà khá khẩm còn chẳng mấy người đủ gạo ăn, đâu có dư tài dư của mà cưu mang người khác? Cùng quẫn, cả bọn mới rủ nhau lên núi làm cướp.

Lê Hổ nghe mọi người kể xong, bèn phát gạo cho ăn, dặn rằng:

“ Sức khoẻ dẻo dai, sao lại tự đánh dân mình như thế? Ở phía nam cách đây không xa có thành Tràng An. Giản Định đế đang tạm đóng ở đấy mấy ngày chỉnh đốn quân ngũ, chờ ngày tấn công ra bắc đánh đuổi giặc. Bây giờ đang là lúc cần người. Chi bằng mọi người dùng sức dài vai rộng đuổi ngoại xâm, chém phản trắc chẳng sảng khoái hơn sao? Nếu các người muốn theo nghĩa quân, ta sẽ dẫn đến gặp. ”

Dân cày bị quân Minh dồn đến nỗi tha hương tứ xứ, đã đến cảnh sơn cùng thuỷ tận, mới chó cùng dứt dậu đi làm cướp. Nay nghe có người dám đứng lên chống giặc, lòng như mở cờ. Một người đầu lĩnh mới đứng ra hỏi:

“ Sau khi đuổi giặc, có về được làng cũ không? ”

Lê Hổ bèn cười:

“ Xua giặc ra ngoài biên ải, thì sẽ thái bình. Lúc đó đi đâu mà không được? ”

Mọi người nghĩ một lúc, rồi đồng thanh:

“ Thế thì đi gia nhập quân của Giản Định đế đi bà con ơi. ”

Mọi người rồng rắn theo đoàn xe tải lương, tìm về đất Tràng An. Đường núi vốn khó đi, giờ có thêm đoàn nạn dân mới gia nhập, mất chừng năm sáu ngày đường mới tới nơi.
Lê Hổ dõi mắt theo dải tường thành quanh co ôm lấy dãy núi xanh rờn, in bóng hình xuống dòng sông Hoàng Long uốn lượn, trong lòng không khỏi nhớ lại chuyện cũ. Tháng mười năm trước, Giản Định xưng đế ở Mô Độ, còn cậu thì đến nơi này du ngoạn, còn gặp được Trần Đĩnh. Vậy mà chớp mắt, gần một năm đã trôi qua.

“ Này! Ai đến đấy? ”

Đi đến dưới chân thành, thì thấy có một tên lính đứng trên chòi canh cầm giáo dài lên tiếng quát. Y lườm Lê Hổ một cái, cằm huớng lên ra chiều hống hách lắm.

Lê Hổ chắp tay, nói:

“ Tôi là Lê Hổ, người Lam Sơn. Xin anh vào báo với bệ hạ một tiếng, rằng có bạn cũ y hẹn đến góp một chút quân lương. ”

“ Vậy thì chờ cho một lát. ”

Tên lính nói vọng xuống, đoạn biến mất khỏi đầu thành.

Đinh Lễ khịt mũi, vỗ vào lưng trâu, nói:

“ Quá vô lễ. Này, tao với mày húc thủng tường thành cho y tức chơi một phen không? ”

Đại Thắng Thần Ngưu kêu ọoooo, đầu hất lên, nhại theo dáng vẻ của tên lính gác. Lê Hổ biết hai đứa này cái gì cũng dám làm, vội vàng xua tay can.

Qua thời gian uống hết chung trà, cổng thành mở toang.

“ Ha ha. Lần trước ở sông Vân không kịp chào từ biệt. Hổ vẫn khỏe chứ? ”

Trần Ngỗi bước từng bước dài về phía cậu, oai nghiêm nhưng vẫn không mất phong độ của kẻ cầm đầu. Y giang rộng hai tay, vỗ vai Lê Hổ mấy cái liền.

“ Nhờ phúc của bệ hạ, Hổ không có bề gì. ”

“ Sao nói thế được? Nếu hôm ấy không có cậu và thuộc hạ liều mạng hộ giá, e là ta không có ngày hôm nay. Mau. Mau vào đây. ”

Giản Định đế dẫn Lê Hổ vào, tiếp nhận hết lương thảo và nạn dân, sau đó phong cho cậu chàng chức Kim Ngô tướng quân. Lê Hổ gật đầu cảm tạ, sau đó lui về nơi ở tạm.

Đinh Lễ bực bội nói:

“ Xem chừng phải ở đây mấy ngày. ”

“ Đúng vậy. Thật là không may. ”

Lê Hổ gật đầu thở dài một tiếng, có cùng ý nghĩ với Lễ.

Cậu vừa được phong tướng, xin về Lam Sơn ngay thì thực là không nể mặt Giản Định đế tí nào.

Huống hồ tin ấy chẳng phải bí mật quân cơ gì, trên đường về Lê Hổ đã nghe người ta bàn tán mãi.

Chương 147: Hồi mười bảy (14)

Minh thành tổ hay tin Trần Ngỗi xưng đế ở Mô Độ, xua binh đánh quân Minh, bèn phong Mộc Thạnh làm chinh di đại tướng quân, đem đại binh từ Vân Nam sang bình định Giao Chỉ.

Đặng Tất hay tin, lập tức cho quân ngày đêm thao binh luyện mã, bó cỏ tích lương chờ quân của Thạnh. Đến nay cũng đã được ngót ba bốn ngày rồi.

“ Mấy vạn binh mã không hề gì cả, đáng sợ là họ Mộc. Hắn là hãn tướng từng đánh bại quân Hồ, kiêu dũng thiện chiến lại lắm mưu, là một đối thủ khó nhằn. ”

Lê Hổ chậm rãi.

Người ngoài có thể không biết, nghĩ Thạnh giống Hồ Đỗ chỉ có sức trâu, đầu óc u tối. Chỉ có người từng ra vào doanh trại quân Minh như Quận Gió mới biết, thực ra sách lược hành quân bảy phần do Mộc Thạnh đề ra. Trương Phụ cũng là tướng giỏi, nhưng lão hơi nhỉnh hơn Thạnh trong chuyện việc đối nhân xử thế, đoán biết nhân tâm.

Thành thử tạo nên hai phong cách đánh trận trái ngược. Mộc Thạnh thường chiếm lấy thế chủ động, khiến đối phương không kịp trở tay. Trương Phụ thì thường ở vào thế phản công. Y tiên liệu trước đường đi nước bước của địch, chuẩn bị sẵn kế sách ứng phó.

Lê Hổ nghĩ thầm:

[ Cũng may ngày trước ở Tây Đô Quận Gió từng nói cho mình bí mật này. ]

Vua trộm cũng dặn, sau này nếu có bậc nhân nghĩa phải đối phó với quân Minh, thì hãy kể bí mật này cho họ nghe.

Sáng hôm sau Lê Hổ đến tìm Trần Ngỗi, kể chuyện này ra, lại bảo y đề phòng cẩn thận. Bấy giờ Đặng Tất lo chăm công nghìn việc, trong điện chỉ còn Nguyễn Cảnh Chân đứng mé hữu của Trần Ngỗi. Số còn lại đều là quan tướng mới chiêu mộ, Lê Hổ chẳng biết một ai.

Nghe cậu kể xong, văn võ bá quan đều chê là chưa hiểu chuyện.

“ Chưa ra sa trường bao giờ, thấy ai mà chả coi là tướng giỏi, hiểm nham… ”

“ Ài, nếu cứ vác đao sẽ thành Quan công, cứ xách kích sẽ thành Lã Bố thì trong thiên hạ còn ai là kẻ tầm thường? ”

Lê Hổ không để tâm tới những tiếng cười nhạo của bọn họ.

Giản Định mới cười, nói:

“ Cậu có điều không biết, thám tử hồi báo thì Thạnh trúng một rìu của Hồ Đỗ, bị chặt đứt một cánh tay khiến chiến lực giảm mạnh. Thế nên ngay cả khi hắn có thành thạo mưu lược như cậu nói cũng không hề gì cả. ”

Nguyễn Cảnh Chân bèn khuyên:

“ Cẩn tắc vô áy náy. Nghĩa quân giờ đã khác xưa, song cũng chớ nên khinh địch. ”

Giản Định bèn xua tay:

“ Đạo quân bắc tiến do con trai của khanh, và con trai của Đặng đại nhân cầm đầu. Lẽ nào khanh không tin tưởng con mình? ”

Nguyễn Cảnh Chân thở dài.

Đặng Dung – con của Đặng Tất và con ông Nguyễn Cảnh Dị đều có thể coi là tướng tài. Nhưng kinh nghiệm còn non, không biết có chống đỡ được tên sói già Mộc Thạnh hay không.

Ba ngày sau…

Quả như y sợ.

Khoái mã truyền tin về, rằng quân Hậu Trần đóng ở Tam Giang và những vùng chung quanh Đông Quan đã bị Mộc Thạnh quét sạch. Tàn binh tứ tán khắp nơi như kiến vỡ tổ, không được mấy người về đến Thanh Nghệ.

“ Thế còn hai vị tướng quân? ”

Trần Ngỗi cũng phải bật nhổm dậy khỏi ghế, sắc mặt lo lắng.

“ Bẩm bệ hạ. Hai vị tướng quân Đặng, Nguyễn vẫn chưa có tung tích gì. Chỉ e… ”

Gã kia ngập ngừng, rồi gúi gằm mặt xuống điện.

“ Đúng! Đúng rồi! Mau… mau cho truyền Hoàng đảo chủ! ”

Bấy giờ Trần Ngỗi mới sực nhớ đến người đã đưa y đến gặp Đặng Tất, Cảnh Chân. Y nghĩ với võ công của vị đảo chủ này, giải cứu hai người Đặng Dung, Cảnh Dị chắc không phải vấn đề.

Thị vệ dạ ran một tiếng, lóc cóc đi ra ngoài.

Trong điện bàn tán lao xao, duy có Nguyễn Cảnh Chân là trầm mặc không nói lấy một lời. Văn võ bá quan thấy y trầm ổn như bức tượng, con trai bặt vô âm tín cũng không hề nao núng, không khỏi vừa nể vừa sợ.

Chỉ có Nguyễn Cảnh Chân là mãi loay hoay với ý nghĩ:

[ Nếu thằng Dị bị bắt thì phải làm sao?? Nếu trận tới chúng lấy nó làm con tin thì phải đánh thế nào để vẹn cả đôi đường? Vạn nhất chỉ có thể chọn một, thì nên bỏ bên nào buông bên nào? ]

Hổ dữ không ăn thịt con, còn con người thì sao???

Than ôi sao mà so sánh cho nổi? Con hổ nó có phải gánh vác trọng trách cứu nước, giúp dân như con người đâu? Con hổ nó chỉ biết đến nó, đâu có giống con người ngoài tính vị kỷ còn có cả tính vị tha? Bản chất đã khác, đành đồng sao cho nổi?

Thế rốt cuộc bên nào nặng? Bên nào nhẹ?? Người ngoài cuộc hẳn sẽ nói: “ vì nghĩa quên thân ”. Nghe thì hay lắm… nhưng phải đến lúc đứng trong hoàn cảnh ấy mới thấy một chữ “ vị tha ” khó như thế nào.

Cuối cùng vẫn phải xem vào một chữ tâm.
Cách đại điện không xa, có ba gian nhà gỗ nằm giữa rừng tre um tùm.

Bấy giờ có một nam một nữ, trông đã có vẻ luống tuổi, ngồi trước hiên nhà. Nam thổi sáo, nữ gảy đàn, có vẻ thanh bình lạ thường.

Tựa vào gốc cây là một trung niên. Mái tóc y chỗ bạc chỗ đen, hai mai tóc thật dài chấm vào hộ vai đầu cá. Ăn diện cái kiểu văn không ra văn, võ chẳng ra võ này, ngoại trừ Hoàng đảo chủ ra thì còn ai nữa?

Đảo chủ nhắm mắt, tai lắng nghe điệu hoà tấu, trên gương mặt khi thì bình thản, lúc thì nhăn lại vẻ sầu đau.

Đôi vợ chồng vẫn đàn sáo như không ngó ngàng đến y.

Lạ thay. Hai người đều không biết võ công, đảo chủ chỉ cần hơi nổi giận, ắt sẽ lấy được mạng cả hai. Nhưng y không hề động thủ.

Hai người cũng chẳng động dung.

Tin tức tựa sét đánh Hoàng đảo chủ truyền tới… với họ cũng như gió thoảng.

Rốt cuộc.

Đảo chủ gầm lên một tiếng, thanh âm hung hãn như sóng thần quất vào bờ đá. Chỉ nghe tạch một tiếng, dây đàn bầu đã đứt lìa, còn ống sáo cũng vỡ toè cả một đầu.

Thế rồi y thẫn thờ cả người, ngồi sụp xuống…

“ Ta thực sự không hiểu. ”

Thấy y cứ mãi lẩm bẩm, người nam bèn tiến tới, kéo dậy.

“ Tấm lòng của hai người dành cho nhau, họ Hoàng này sớm đã hiểu. Nhưng cái ta không hiểu, là sự tin tưởng đó… Mù quáng như vậy ư? ”

Nói rồi nhìn sang phía người nữ.

Câu nói của y không đầu, không cuối, người ngoài chẳng thể hiểu nổi. Y cũng không có ý định để ai, ngoại trừ đôi vợ chồng kia, nghe hiểu.

Người phụ nữ mới đứng dậy, nhẹ giọng:

“ Quả thực, nếu chỉ có mình anh Tất, thiếp đây cũng không dám tin vào chuyện đứa con còn mạng về gặp mẹ nó. Nhưng có anh thì khác. ”

Hoàng đảo chủ cười.

Cười rất thê lương.

Đặng Tất cũng thở dài, khuyên:

“ Anh Hoá. Em nói thật. Với tài năng nhân phẩm của anh, kiếm một cô gái tốt không khó. Sao cứ phải làm khổ mình? ”

Suốt nhiều năm y đã khuyên Hoàng Thiên Hoá – đảo chủ đảo Bạch Long – rất nhiều lần. Nhưng y chẳng hề lung lay.
Hoàng đảo chủ nói:

“ Cô ấy với cậu ra sao, với tôi cũng như vậy. Chẳng lẽ cậu còn không hiểu? ”

Đặng Tất thở dài:

“ Đúng. Em lại nói sai. Dù ngoài kia có mấy trăm, mấy ngàn tài nữ tốt hơn xếp hàng… em cũng không chọn ai khác. ”

Hoàng Thiên Hoá phủi áo đứng dậy, gác gươm lên vai, nói vọng ra sau:

“ Sư muội, đệ muội… hai người cứ yên tâm. Chuyện của thằng nhỏ để đó ta lo. ”

Y không ngoái đầu, thoắt cái đã biến mất nơi hàng rào. Cổng còn chưa kịp đóng, cứ lung la lung lay, cót ca cót két mãi thôi.

Ba người đều hiểu vì sao y không ngoái đầu lại.

Đặng Tất quay sang, vỗ vai vợ, nhủ:

“ Muốn khóc thì cứ khóc đi. ”

Bà Phạm Kim Chi không nín nổi nữa, tiếng nấc ứ nghẹn ở cổ bật ra thành tiếng khóc:

“ Mình ơi. Em cứ có cảm giác chúng ta lợi dụng tình cảm của sư huynh, mấy năm nay chẳng thể nào yên. ”

“ Aizz… Thật không ngờ. Vì một chữ tình, đại sư huynh văn võ toàn tài lại bị đuổi cổ khỏi môn phái. Cũng lại vì chữ tình? kẻ bị trục xuất khỏi sư môn lại là người chưa từng từ bỏ hi vọng tìm kiếm sư phụ suốt hai mươi năm. Ôi… anh Hoá chẳng phải si tình, mà là điên vì tình rồi. ”

Nói rồi Đặng Tất lại nhìn vợ một cái, hỏi khẽ:

“ Nếu năm đó không phải vì lời thề với cha, liệu em có đến với anh Hoá?! ”

Bà Phạm Kim Chi nhắm mắt, từ từ thuật lại chuyện quá khứ.

Năm đó, cha bà, cũng là sư phụ của Hoàng đảo chủ: một trong hai võ lâm chí tôn thời bấy giờ là Hoả Công đã bắt con gái thề rằng không bao giờ được đến với thứ phản đồ Hoàng Thiên Hoá.

Nguyên nhân? Hoàng Thiên Hoá và Phạm Kim Chi từng không giữ lễ, ăn cơm trước kẻng với nhau.

Hoàng đảo chủ vốn là người cao ngạo. Ông ta thề sẽ tự thành một phái, dùng võ công chính mình tự sáng tạo ra đánh bại sư phụ để ông rút lại lời thề, rồi đường đường rước Phạm Kim Chi về làm vợ.

Thế nhưng lời hứa chưa kịp hoàn thành, Hoả Công mất tích. Đến giờ đã hai mươi mấy năm.

Đệ tử trong môn phái tứ tán khắp nơi, ai cũng tự xưng là được trân chuyền của Hoả Công. Thế rồi đánh lẫn nhau, đánh cả với đồ đệ của Băng Bà.

Bản thân Phạm Kim Chi vì tìm cha cũng bị cuốn vào tranh đấu chốn giang hồ, suýt nữa thì mất mạng. Sau cùng mới được Đặng Tất cứu sống, trao thân gửi phận.

Đêm hai người nên vợ nên chồng, Hoàng Thiên Hoá tìm tới, bàn tay đầy máu. Té ra y đã thay sư phụ giết hết lũ lấy danh nghĩa của Hoả Công làm những chuyện thương thiên hại lí.

Thật nực cười. Kẻ bị trục xuất khỏi sư môn, tự thề sẽ đánh bại sư phụ mình, hoá ra lại luôn là người kính trọng ông nhất.

Y chứng kiến tất cả.

Rèm hoa, pháo trúc, mâm cỗ gia tiên… từng thứ từng thứ đều như dao đâm vào lòng, cứa vào tim.

Nổi điên, Hoàng Thiên Hoá bèn cười nhạo. Rằng Đặng Tất có mắt như mù, lấy người đàn bà đã trao thân cho y. Phạm Kim Chi nổi giận bật khóc, gương mặt trắng bệt đi. Hoàng Thiên Hoá như kẻ vô cảm, chẳng thèm nhìn nàng ta lấy một cái.

Lúc ấy Đặng Tất mới lên tiếng:

“ Tôi kính anh là sư huynh của Kim Chi, mới nhịn anh mang đôi tay đầy máu vào tân phòng hô hô hoán hoán không đuổi khách. Giờ thì mời anh cút, chuyện của vợ chồng tôi chẳng cần anh lo? ”

“ Ngươi không để ý? ”

Hoàng Thiên Hoá nhấn từng chữ. Giọng y đã run lên từng cơn.

“ Đặng Tất này chẳng phải thứ hủ Nho! Người tôi cưới là cô ấy, vì chúng tôi hợp bụng hợp dạ, chẳng phải vì vệt máu đào ấy đâu! ”

Phạm Kim Chi tưởng y sẽ nổi xung thiên, bèn đứng ra chắn cho chồng. Nàng ta biết sư huynh vốn là người nóng nảy, cao ngạo. Chuyện hôm nay đối với y mà nói, chẳng khác nào cái tát vào mặt.

Hoàng Thiên Hoá thấy nàng ta che cho Đặng Tất, sát ý tiêu tan, chỉ có ruột gan là quặn đau từng cơn từng cơn một. Y thở dài:

“ Mừng cho em lấy được tấm chồng tử tế. Quà cưới ta sẽ gửi sau. ”

Chuyện cũ kết thúc theo bóng lưng xa dần của Hoàng Thiên Hoá.

Chương 148: Hồi mười bảy (15)

Bà Phạm Kim Chi kể lại mọi chuyện một lần, rồi thở dài:

“ Lời cha dặn chẳng dám không tuân. Huống hồ anh Hoá là người cố chấp, chưa thể tự bắt ông rút lại lời thề sẽ không chịu thành gia thất. Đời người con gái được mấy lần hai mươi kia chứ? Lại nói, đổi lại vị trí của hai người, chắc chắn mình cũng sẽ làm thế thôi. ”

Đặng Tất siết chặt tay.

Tin mà Hoàng Thiên Hoá mang đến chính là: “ Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị đã bị Mộc Thạnh tóm được. Y đang tiến quân tới bến Bô Cô, muốn vượt sông đánh sâu vào Thanh Nghệ. ”

Hay tin, Trần Ngỗi cho kéo quân năm trấn từ Thanh Hoá trải vào Thuận Hoá ra nghênh địch. Sĩ tốt ngồi trên thuyền con đi dọc theo bờ biển, không phải trèo đèo lội suối nên chỉ mấy ngày là đã hội họp với chủ lực ở Tràng An. Số lượng đếm sơ sơ cũng đông đến năm sáu vạn.

Trong đó không thiếu hào kiệt các nơi hưởng ứng.

Nhân sĩ võ lâm các trấn thấy Trương – Mộc lật lọng không chịu thừa nhận Giản Định là tông thất nhà Trần, khăng khăng đổi Đại Việt trở về thành quận huyện như thời bắc thuộc thì tức lắm. Bấy giờ mới thấy hối hận tại sao hồi đó lại phù Minh diệt Hồ.

Nhưng lúc này Thiên Cơ lão đạo đã biến mất, sơn trang Bách Điểu thì đóng chặt cửa không tiếp khách, quần hào càng thêm phẫn uất.

Lại được tin Hoàng đảo chủ đứng ra kêu gọi mọi người giúp hậu Trần đánh Minh trả thù, nên người ta theo đông lắm.

Giản Định đế tự mình xuất chinh, cho Đặng Tất làm chủ soái cầm đầu đại quân, Nguyễn Cảnh Chân thì ở lại giữ đầu não phía nam đề phòng quân Ai Lao, Chiêm Thành thừa cơ làm loạn.

Đặng Tất bèn chỉ lên bản đồ, nói:

“ Trận Bô Cô này muốn thắng được, ắt phải chiếm được địa lợi là núi Dục Thuý. Chốn này có thể bao quát chiến trường mấy chục dặm, hơn nữa đường núi gập ghềnh. Muốn công phá khó hơn lên trời. ”

“ Thế thì phải làm sao? ”

Trần Ngỗi nhíu mày.

Đây quả thực là điều đáng lo.

Nếu để quân Minh chiếm được bờ nam của sông, lấy được núi Dục Thuý, thì doanh trại của họ sẽ được thế nhìn sông dựa núi trong binh pháp. Sau lưng lại còn có thành Cổ Lộng, tiếp ứng được cho nhau. Đồng nghĩa với việc Mộc Thạnh sẽ có thể đánh sâu vào Thanh Nghệ với thế như chẻ tre quét lá, khó bề ngăn cản.

Cũng đồng nghĩa, muốn cản bước Mộc Thạnh, phe Hậu Trần buộc phải chiếm trước tiên cơ, lấy cho kì được núi Dục Thuý.

Nhưng nói thì dễ, làm mới khó.

Đặng Tất lại nói:

“ Mộc Thạnh ắt cũng đã biết chuyện này. Dưới trướng lão từng có một đội thiết kị tinh nhuệ. Tuy đã bị Hồ Nguyên Trừng phá tan, song cũng chứng tỏ Thạnh là kẻ biết dùng kị binh. Lão ta ắt sẽ cho thiết kị dùng chiến mã tìm tới Bô Cô, vượt sông lên núi trước chúng ta. ”

Y vốn là quan cũ của nhà Hồ. Chuyện quân tình cơ mật kháng Minh năm xưa, Đặng Tất cũng có biết.

Trần Ngỗi nghe xong không khỏi trầm mặc:

“ Ngựa quân giặc nhanh, khoẻ hơn ngựa ta một bậc, phải làm sao mới ngăn nổi bọn kị binh này? ”

Đặng Tất thở dài:

“ Đây cũng là chuyện mà thần đang băn khoăn mãi. Cách khả thi nhất là gửi bồ câu nhờ người Ai Lao một chuyến, hứa hẹn nhiều chỗ tốt cho họ. ”

“ Người Ai Lao? Ai biết chúng có phản phúc hay không. Khéo lại nhận lợi lộc của Mộc Thạnh rồi ấy chứ. ”

Lúc bấy giờ lại có người lên tiếng phản bác.

Đặng Tất nhíu mày, chỉ thấy ấy là một gã thư sinh mặt mũi trắng trẻo, lông mày sắc như lưỡi đao, môi mỏng như hai lá liễu.

“ Không biết Mộng Trang có sách hay kế giỏi gì, sao cứ phải bàn lui như thế? ”

Chỉ nghe gã kia nói rất nhẹ, như gió đêm luồn vào xương sống kẻ khác:

“ Muôn tâu, trong quân có vị Kim Ngô tướng quân người Lam Sơn. Y có thể ngăn địch. ”

“ Chuyện này… ”
Trần Ngỗi mở miệng muốn nói gì đó, nhưng đã bị Nguyễn Mộng Trang cắt ngang.

“ Bệ hạ, thần xin lấy đầu mình ra đảm bảo, tiểu tướng ấy sẽ ngăn được cơn nước lửa. ”

Đặng Tất quát:

“ Một cái đầu của nhà ngươi đáng bao nhiêu? Ngộ nhỡ quân Minh đánh phá được Bô Cô, tiến thẳng vào Thanh Nghệ, chiếm phăng Hoá Châu thì sao? Một cái đầu của ngươi đáng bao nhiêu chứ? ”

Thư sinh nọ bèn cười khẩy.

Nét cười của y khiến người ta bất an.

Gió đêm âm u ngoài lều đang thổi.

“ Thế ngài đánh cược với tôi chứ, ngài Đặng Tất? ”

“ Đánh cược thế nào??? ”

Đặng Tất mím môi, gằn.

Nguyễn Mộng Trang thản nhiên tiếp:

“ Rất đơn giản. Ngài gửi thư cho Ai Lao của ngài, ta nhờ tiểu tướng của ta. Nếu như quân Ai Lao cản bước thiết kị, đầu của ta sẽ để lại đây. Ngược bằng nếu tiểu tướng nọ may mắn, còn quân Ai Lao lại phản trắc thì sao? ”

“ Thì đầu của Đặng Tất này xin rơi xuống đất! ”

Đặng Tất rũ cánh tay, nói.

“ Không dám. ”

Nguyễn Mộng Trang cúi đầu, điệu cười trên môi vẫn âm lãnh như cũ.

Thoạt nhìn, điều kiện của y rất có lợi cho Đặng Tất. Vừa phải chiếm trước một bước đến Bô Cô hãn, vừa phải đảm bảo quân Ai Lao sẽ phản bội lúc khẩn yếu. Đúng là đã khó càng thêm khó.

Thế nhưng mọi người đâu có ngờ, tiểu tướng mà Nguyễn Mộng Trang nói đến không phải Lê Hổ mà chính là Đinh Lễ. Cậu có con Đại Thắng Thần Ngưu ngày đi ngàn dặm, thế nên một nửa điều kiện coi như đã thành. Đáng thương cho Đặng Tất, bản thân dẫm một chân vào quan tài mất rồi vẫn không hay biết!

Vì sao Nguyễn Mộng Trang phải đẩy Đặng Tất vào chỗ chết? Làm thế y được gì?Chẳng ai biết.

Đôi khi kẻ hại người khác mà chẳng biết vì lí do gì mới thực sự đáng sợ. Vì khi đó không ai biết phải đề phòng y ra sao.

Kể tiếp chuyện ở Tràng An thì sau khi Nguyễn Mộng Tranh đánh cược với Đặng Tất bèn đích thân đến gặp Lê Hổ, truyền khẩu dụ của Trần Ngỗi. Y đã bàn với Đặng Tất từ trước, muốn làm thế để Đinh Lễ có thể tận tâm tận lực, đánh cược của họ mới có ý nghĩa.

Tất nhiên ai cũng có tự trọng của mình, nhất là người đội trời đạp đất ngư Đặng Tất. Y chẳng nhíu mày lấy một cái, đồng ý luôn, rồi tự mình viết một phong thư gửi cho Ai Lao, hứa hẹn nhiều mắm muối vàng lụa, vũ khí nông cụ.

Trên vùng cao, muối rất quý. Nên lúc trao đổi với người miền ngược, không thể thiếu thứ này được.

Còn Nguyễn Mộng Trang thì đến chỗ Lê Hổ, vái chào tôn cậu chàng là Kim Ngô tướng quân, rồi mới giải thích phân trần cặn kẽ vì sao nghĩa quân phải chiếm cho kì được núi Dục Thuý.

Đinh Lễ nghe xong bèn vỗ bàn:

“ Nếu chuyện chỉ có thế, xin ngài báo lại với bệ hạ cứ yên tâm để ta lo! ”

Nguyễn Mộng Trang ra chiều khúc mắc:

“ Có được không? Thằng nhóc chưa ráo máu đầu thế này thì làm gì được quân địch? Tướng quân xin hãy xuất phát cho mau. ”

Đinh Lễ bực tức trong bụng, nhưng lại thầm nghĩ:

[ Cũng tốt, cứ để cậu lớn lập công. Dù sao mình cũng chả có ý định gia nhập quân Hậu Trần. ]

Lê Hổ tạ từ, rồi nói:

“ Việc quân cấp bách, cậu hãy chở ta cùng đi đến Bô Cô hãn một chuyến. ”

Đinh Lễ nói:

“ Phải xem thế nào. Chỉ hi vọng Mộc Thạnh chủ quan khinh ngựa nước Nam ta. Nếu lão cẩn thận phái cả trăm kị binh, Lễ cũng chỉ đành cưỡi trâu chạy trước. Chức bách nhân địch này để ngài làm đi. ”

Lê Hổ nghe thấy bèn phì cười:

“ Lúc ấy chẳng cần cậu cưỡi, tôi cõng con Đại Thắng dong thẳng về Lam Sơn, cho cậu ở với giặc chơi. ”

Hai người chỉnh trang y giáp, rồi phốc lên lưng Đại Thắng thần ngưu, đi thật nhanh về phía bắc. Dọc đường, hai người thấy từng tốp nạn dân kéo nhau trốn về nam. Kẻ thì hừng hực khí thế, tay gậy tay bừa chỉ chờ hội họp cũng nghĩa quân. Người lại ôm nhau khóc ròng. Chưa đầy một năm, thế mà đã phải tha hương lần nữa. Nếu bảo trong lòng không có ý nghĩ khác, e thực là khó.

Con trâu thần đi nhanh hơn ngựa, sớm hôm sau là núi Dục Thuý đã loáng thoáng hiện ra trước mặt.

Một vùng non xanh nước biếc, rất mực tú lệ, nhưng hai người chẳng còn tâm tư nào mà thưởng ngoạn. Lê Hổ thì thầm lấy làm kinh ngạc vì tốc độ của Đại Thắng thần ngưu, còn Đinh Lễ thì giục trâu chạy nhanh lên núi.

Núi Dục Thuý nằm ở bờ nam con sông lớn mà bây giờ ta vẫn gọi là sông Đáy. Xung quanh chân núi có rừng cây bao bọc, thành thử muốn lên hay xuống núi chỉ có hai con đường mòn, một ở sườn nam, một ở sườn tây. Phía tây núi vắt ngang một dải nước biếc, quanh co uốn khúc, chính là sông Vân.

Đinh Lễ đứng trên đỉnh núi, mày cau lại, cười khổ:

“ Giờ sao?? Tôi bỏ anh, hay anh cõng con Đại Thắng về phục mệnh? ”

Lê Hổ nheo mắt.

Lác đác ở bờ bắc đã có bóng ngựa phi, cuốn tung bụi đất lên mù mịt cả một góc trời. Lê Hổ không có kinh nghiệm trận mạc, nhưng lăn lộn trên giang hồ nhiều, cũng từng thấy cảnh một đàn ngựa hoang trăm con phi từ trên núi xuống.

Thanh thế lần này của quân Minh e còn lớn hơn.

Thế là, cậu quay sang, gõ vào đầu Đinh Lễ một cái, cười mà mặt mếu méo xẹo đi như sắp khóc, than:

“ Cái thứ thổ tả, mồm miệng gì xui thấy ông bà ông vải. ”

Chương 149: Hồi mười bảy (16)

Cãi nhau một hồi, hai người cũng tự biết phải tìm kế phá địch, không cho chúng lên núi. Bàn một lúc, cuối cùng bảo nhau tìm xem trên núi còn hộ tiều phu, thợ săn nào không, để cùng bàn kế phá giặc.

Trước họ xuống phía nam, nơi có phủ viện lúc nhúc hai bên sông, đồng lúa trải dài. Con trâu là đầu cơ nghiệp, thế nên ở phương nam nơi chân cứng đá mềm này, hễ nơi nào có ruộng, chỗ đó có người.

Thế nhưng trang viên bề thế nay vắng tanh vắng ngắt, đến một tiếng chó sủa gà gáy cũng chẳng có nữa là tiếng người. Té ra đây vốn là một nhà phú hộ. Ruộng nương mấy dặm quanh đây đều là của họ. Nhưng nghe tin quân Mộc Thạnh đánh xuống, chắc đã kéo nhau chạy cả.

Hai người thở dài, vốn đã muốn bỏ cuộc, song lại nghĩ:

[ Phú hộ chỉ có ruộng sâu trâu nái, chứ mấy ai chịu chân lấm tay bùn?? Chứng tỏ ắt có người làm công làm rễ, ở đợ chăn trâu sống chung quanh. Mình cứ tìm quanh núi, kiểu gì cũng thấy thôn xóm. ]

Tìm một hồi, mới phát hiện một thôn nhỏ nằm náu dưới chân núi, khuất ở mặt đông. Chốn này chẳng phải hiểm địa, vách núi lởm chởm đá tai mèo dốc đứng, cheo leo, lắm hang lắm hốc. Từ phía này khó lòng tấn công lên núi được, nên đoán chừng quân Minh cũng sẽ bỏ qua.

Lê Hổ và Đinh Lễ vào thôn, thấy toàn là người già ốm yếu không chạy nổi, trong lòng không khỏi thất vọng.

Bấy giờ, lại có tiếng người cười khanh khách vang lên, ngân nga như tiếng suối róc rách dưới thềm lá.

Lê Hổ ngẩng đầu nhìn về phía tiếng cười phát ra, nhưng không thấy lấy một sợi tóc. Chỉ nghe Đinh Lễ quát một tiếng, đoạn nắm đầu trâu giật mạnh.

Đại Thắng thần ngưu rống giận, lồng hẳn người lên.

“ Đừng! Đừng có dẫm! ”

Té ra người kia đã vịn vào sừng trâu, nhảy bật lên tự lúc nào.

Lê Hổ nhìn qua đầu vai Đinh Lễ, chỉ thấy bóng người yểu điệu như tiên nữ từ từ hạ xuống lớp lá cây mục. Váy áo màu tím than, thêu từng hàng từng hàng hoạ tiết được cách điệu rất lạ mắt. Người ngọc khẽ động, hoa văn trên áo cũng như sống dậy khiêu vũ trong cơn mưa lá vàng lá tả.

Cô gái ấy cũng đi chân trần như ngươi Kinh, nhưng cổ tay cổ chân đều đeo lắc bạc, tai xỏ khuyên vàng. Nhìn xiêm áo trang sức, Lê Hổ đoán nàng là người miền ngược, nhưng dân tộc nào thì chịu. Hoa văn trên áo được cách điệu hao hao cái của người Ai Lao cậu vẫn thấy ở Lam Sơn, nhưng không giống hoàn toàn.

Đinh Lễ bèn vỗ cổ thần ngưu, cho nó nhẹ nhàng đặt hai chân trước xuống.

Cô gái nói, tiếng Kinh của cô khá trôi chảy, hai người nghe cũng hiểu được:

“ Những người này không đánh nhau được. Để tôi giúp các anh. ”

Đinh Lễ tỏ vẻ hồ nghi, nói:

“ Địch có đến hai trăm kị binh tinh nhuệ, cô bé nhỏ con như cô thì làm gì được? ”

Cô nàng le lưỡi, vặn lại:

“ Cái ngữ nhãi ranh như cậu lớn hơn được ai? ”

Còn Lê Hổ thì coi như cô gái ấy chẳng tồn tại, chỉ tập trung nghĩ cách phá địch.

Tiếng nhạc ngựa nện lên đá cứng cà rộp, cà rộp từ bốn phía dồn lại càng lúc càng gần. Ánh lửa hừng hực thi nhau phất lên, nhấp nhô nhấp nhô.

Chưa đầy một khắc thì đã có năm tên cưỡi ngựa, mình mặc giáp xông vào làng, vung đao chửi ì xèo, thần tình hung hãn như sắp chém người tới nơi. Người già trong làng sợ hãi ôm lấy nhau ngồi thụp xuống, run lẩy bẩy. Riêng Lê Hổ, Đinh Lễ và cô gái bí ẩn đều là những kẻ cứng cựa, tất nhiên là không sợ. Họ chỉ tiếc mình không biết tiếng Trung, nên chả hiểu đối phương nói gì.

Đinh Lễ thấy đối phương chỉ có năm người, chẳng đủ cho mình xỉa răng nên cứ đứng lì ở đó không nhúc nhích, mặt câng câng lên ra chiều thách thức.

Quả nhiên, tên quan binh nọ quát to, bổ đao thẳng xuống đầu một người già trong làng như để thị uy với Đinh Lễ.

Chỉ thấy cậu ta cười lạnh:

“ Chém người không chớp mắt thế này không biết dưới đao đã có bao nhiêu vong hồn người Nam… loại như mi không đáng sống! ”

Nói rồi động thủ lướt nhanh tới, phát sau mà đến trước, một đấm tống thẳng vào trán con ngựa chiến.

Chỉ nghe rắc một cái, sau đó đầu con ngựa nổ tung, toàn thân cứng đờ ra rồi đổ sập. Tên kị binh còn chưa kịp phản ứng, thì đã thấy cậu tung người lên, tung cước. Chớp mắt thôi ngực hắn đã trúng một đạp, giáp sắt vỡ toác ra, xương sườn gãy không còn cái nào lành lặn, chỉ biết nằm sụi lơ dưới đất.

Đinh Lễ hút sáo một tiếng dài, lại rút cây gậy sắt lao tới đánh. Con Đại Thắng hiểu ý chủ, lập tức rống lên phóng tới.
Bụp.

Sừng trâu nhọn hoắt xuyên thủng bụng ngựa, sức mạnh của trâu thần như dời non lấp bể cơ hồ xé toạc cả con ngựa chiến lưng cao ba thước thành hai mảnh. Chỉ thấy trâu thần lắc cổ, cả người lẫn ngựa cộng lại gần năm trăm cân mà bị nó quăng lên không trung cả năm trượng, chẳng khác nào mớ rẻ rách.

Cô gái nọ thấy Đinh Lễ thân mang thần lực, con trâu trắng lại càng hung hãn vô song thì kinh ngạc lắm, cứ vỗ tay reo lên như để trợ uy.

Nói đoạn nhìn sang, chỉ thấy Lê Hổ vẫn đang trầm ngâm suy nghĩ chẳng ngó ngàng đến cuộc chiến xung quanh, trong lòng thầm lấy làm phục.

[ Ngày xưa Phạm Ngũ Lao vì nghĩ kế phá giặc mà bị giáo đâm vào đùi cũng không biết, xem ra cậu chàng này cũng không tệ. ]

Lúc mọi người còn đang kinh ngạc, Đinh Lễ đã phi vào giữa trận. Cậu khẽ trầm hông vung cây gậy sắt, phang mạnh ngang sang hai bên. Hai tên kị binh bị kình phong quật cho không mở nổi mắt, há mồm không thở nổi, như thể kình phong nhồi âm thanh xuống sâu tận cuống họng.

Bốp! Bốp!

Cả hai văng khỏi mình ngựa, tắt hơi ngay trên không trung.

Hai kẻ còn sống hú lên kinh hoàng, sau đó giục cương ép ngựa quay đầu, vội vội vàng vàng chạy cho nhanh. Đinh Lễ nghiến răng, nói:

“ Không biết ông mày là vua đánh khăng à? ”

Nói đoạn, bấm vào một cái chốt ở đầu gậy, chỉ thấy cây côn sắt chợt rơi ra thành hai đoạn một dài một ngắn, gọi là gà mẹ gà con. Cậu chàng dộng thanh côn xuống thành cái lỗ, trong chơi khăng gọi là lò, rồi gác thanh ngắn xuống, một đầu gà con ghếch lên miệng hố.

Nói rồi, Đinh Lễ vụt mạnh gà mẹ vào đầu kênh lên của con, khiến nó bắn tung lên không, xoay tròn như cái chong chóng. Cậu chàng lại chuyển eo đẩy vai, đánh mạnh một nhát vào đúng đầu của gà con, khiến nó lao vù đi như một mũi tên.

Bụp!

Gà con giáng xuống như sấm chớp, từ phía sau giộng vào lưng kị binh, xuyên thủng cả áo giáp, cắm phập vào cổ ngựa. Cả người lẫn ngựa lung la lung lay, rồi đổ sập.

“ Lại để hắn chạy! Chết! ”

Địn Lễ đang định gọi con Đại Thắng đuổi theo, thì cô gái thần bí đã nói:

“ Chớ lo! ”

Đoạn lấy trong vạt áo ra một cái còi, đưa lên miệng thổi, song kì lạ ở chỗ không có tiếng kêu nào vang lên cả. Mọi người trong làng, bao gồm cả Đinh Lễ, đều thấy ngạc nhiên.

Nhất là Đinh Lễ, cậu chàng chỉ cười khẩy, không thèm nói gì.Nói rồi toan nhảy lên lưng Đại Thắng, muốn truy đuổi tướng địch.

Chỉ có Lê Hổ là giật mình, thoáng lẩm bẩm:

“ Ngự thú thuật?? ”

Loại còi câm này Nguyễn Xí cũng có một cái. Thực ra không phải nó không kêu ra tiếng, “ bị câm ”, mà do âm thanh nó phát ra tai người không tài nào nghe thấy. Nhưng động vật thì khác. Thính giác của chúng nhạy bén, nghe được những thứ con người không thể. Người xưa dựa vào đặc điểm này, tạo ra ngự thú thuật để điều khiển thú dữ trong vô hình.

Chỉ thấy cô gái thổi hai cái, con ngựa của gã kị binh đã đứng sững, sau đó lóc ca lóc cóc đi về phía mọi người, mặc kệ chủ nhân ra sức thúc bụng giật cương cũng không suy xuyển.

Nói rồi, cô gái cất cái còi, nhìn Lê Hổ:

“ Không nhìn ra, cậu này mới là người học rộng hiểu nhiều, ai mà như tên kia? ”

Đinh Lễ xì một tiếng, gác côn lên vai:

“ Ba cái thứ tạp nham, sao có thể so với côn trong tay ta được? ”

Cô gái nọ bèn giơ nắm đấm:

“ Thách ngươi dám đổi trâu đánh với ta đấy. ”

Té ra con Đại Thắng là trâu thần có linh tính, tự chọn chủ. Ngoài người nó nhận làm chủ của nó ra, không ai có thể điều khiển nó, kể cả ngự thú sư.

Lúc hai người vào làng, cô gái nọ đã thử thổi chiếc còi câm, nhưng con trâu chỉ quạt tai khịt mũi ra chiều khinh thường lắm. Thế nên nàng ta mới hiếu kì nhảy ra xem.

Cô gái thấy Lê Hổ cứ mãi trầm tư, bèn mở hàng tranh lấy miếng trầu đã têm sẵn ra, mời:

“ Cậu xơi một miếng đi, biết đâu lại nghĩ ra cách hay. ”

Lê Hổ đón miếng trầu, lại cười:

“ Người miền ngược cũng ăn trầu à? ”

Cô gái nọ chống nạnh, cổ hơi hếch lên, tựa như ra uy mà lại tựa như làm nũng:

“ Đâu phải chỉ có người Kinh mới có văn hiến? ”

Nói là nói thế, nhưng quả thực cách têm trầu cánh phượng này là cô học của người trong làng.

Lê Hổ chậm rãi nhai trầu, bóng lưng một người bất giác hiện lên trong óc. Nói rồi nhìn về phương xa, nơi có dòng sông Vân chảy qua…

“ Thực ra phá địch không khó, nhưng phải nhờ cô giúp cho một tay. ”

“ Không thành vấn đề. ”

Cô gái nọ khảng khái.

Đinh Lễ thì nhíu mày, nói khẽ:

“ Này anh Hổ… anh tính làm thế nào đấy? ”

Té ra lần đầu hội ngộ ở Lam Sơn, Đinh Lễ không hề biết thân phận thật của Hổ, chỉ nghĩ là anh hùng hào kiệt nào đi ngang. Bây giờ tuy đã nhận nhau, bà Thương cũng nói cho hai người biết họ là họ hàng, nhưng Đinh Lễ vẫn nhất quyết không chịu gọi “ chú ” cho đúng vai đúng vế, chỉ gọi là “ anh ”.

Lê Hổ là người thoáng đạt, nên chẳng để tâm lắm.

Chương 150: Hồi mười bảy (17)

Sáng hôm sau…

Đám kị binh phương bắc hội họp nhau bên bờ sông, kiểm lại quân số, phát hiện thiếu năm người.

“ Không phải đám tàn đảng của đám Giản Định giở trò quỷ, thì ắt là lũ dân đen không biết an phận thủ thường rồi. ”

Tên bách phu trưởng kết luận.

Hôm qua những tên này phát hiện một cây cầu phao bắc ngang qua khúc hẹp nhất của sông Vân, cách núi Dục Thuý cỡ năm sáu dặm. Bọn chúng chia nhau xộc vào căn nhà lớn đã bỏ hoang của tên phú hộ hòng kiếm chác, chỉ có năm kẻ tách đoàn đi về chân núi phía đông.

Thấy đám thuộc cấp nhao nhao lên, như chẳng thể chờ được lập công, gã mới nói:

“ Cứ y theo sách lược đã định, bắt đầu qua sông. Nhớ phải cẩn thận. Đám người Nam này có nghề lặn rất thiện nghệ, hết sức đề phòng chúng bất ngờ đánh lén. ”

Đoàn kị binh mấy trăm người tức tốc xuôi nam, chừng thời gian uống cạn chung trà thì đến trước một chiếc cầu vắt ngang qua dòng nước. Phía đầu đối diện là hai khóm tre mọc dày thành cụm che hai bên, chỉ để lại chính giữa một con đường nhỏ vừa đủ hai người đi ngược chiều nhau.

Tên bách hộ trưởng những tưởng sẽ có cả một đạo quân gồm cung tiễn, thuẫn binh hoặc ít nhất cũng phải có dân địa phương đào hào, phá cầu, sau đó lăm lăm cung nỏ nấp trong lùm tre hai bên. Người khác có thể không biết, nhưng hắn đọc qua binh thư, tự nhiên hiểu được tính chiến lược của núi Dục Thuý. Trọng địa như thế, nên Mộc Thạnh mới cử hẳn một trăm kị mã tinh nhuệ đến chiếm lĩnh bằng được.

Tức cười ở chỗ chặn ngang đầu cầu bên kia lại chỉ có độc một cậu nhóc chỉ cỡ mười sáu tay vác gậy sắt, cưỡi trên lưng con trâu trắng.

“ Ố? ”

“ Lũ người Nam này bị điên rồi chăng? ”

“ Còn tưởng Giản Định, Đặng Tất thế nào. Té ra là hai tên ấm đầu. ”

Trông thấy Đinh Lễ đứng cản đường, cả bọn đều cười ầm lên, ra vẻ khinh thường, nhưng trong dạ thì âm thầm cảnh giác.

Cứ chiếu lẽ thường mà nói, một thằng nhóc thì lấy đâu ra lá gan mà đứng trước mấy trăm kị binh kia chứ. Sau lưng nó ắt hẳn có chỗ dựa.

[ Chẳng phải khóm tre đằng kia sau? ]

Tên bách hộ giơ tay, sau đó chặt một cái.

Đó là lệnh bắn tên.

Vút. Vút.

Nhất thời, cả bọn đồng loạt rút nỏ, nhắm vào rừng tre mà bắn. Thứ nỏ cứng ấy lực bắn chẳng coi là mạnh, càng không thể so với mũi tên bắn bởi người Mông Cổ. Song... bắn qua khúc sông chỉ độ mười trượng thì dư sức.

Chúng cố ý không nhắm vào Đinh Lễ, ấy là muốn xem vẻ mặt kinh hoảng của cậu.

Rừng tre rất dày, nhưng cứ mười mũi thì ắt có hai, ba xuyên qua được. Cả bọn lắng tai, chờ đợi. Tiếng thiết tiễn cắm vào lóng tre xanh mướt phầm phập, khiến máu của chúng như sôi lên. Thế rồi thình lình nghe ai hét thất thanh, vang vọng xem chừng đau đớn lắm. Nhưng rồi tiếng kêu lập tức im bặt, như thể miệng người nọ bị bịt lại.

“ Ha ha! ”

Cả lũ chống nạnh cười phá lên.

Tên bách hộ chẳng buồn quát tháo chửi rủa. Hắn không biết tiếng Đại Việt, đối phương cũng chẳng hiểu tiếng Trung. Thế thì mở miệng xuông làm gì, chỉ tổ tốn nước bọt. Với loạt mưa tên vừa rồi, hắn đã thể hiện rất rõ ràng quan điểm của mình.

Chống lại là chết.

Đinh Lễ vẫn gác cây côn lên vai, không nói gì.

Cậu chàng chỉ khẽ nhún vai, chặc lưỡi một cái nể phục khổ nhục kế của Lê Hổ.

Trong rừng tre...

“ Anh... anh bị điên à? ”

Cô gái nọ hoảng hồn, vội vàng lấy đao rạch miệng vết thương ở vai cho Lê Hổ, rút mũi tên ra, rồi mới bôi thuốc và băng bó cầm máu.

Lê Hổ cười, nụ cười méo xẹo vì đau trông còn khó coi hơn là khóc...

“ Nếu không làm cho thật... sao khiến chúng chủ quan? ”

Cô gái nọ mím môi, lấy khăn lau mồ hôi đang túa ra từng cơn cho cậu.Té ra, lúc nãy cậu chàng đã rút mũi tên ở dưới đất ra, cắm phập vào vai mình. Đoạn hét ầm lên vì đau, rồi lại tự bịt mồm mình lại. Đây vốn là kế tung hỏa mù, đánh lừa quân Minh khiến cho chúng chủ quan. Như thế, chúng sẽ nghĩ con bài tẩy của cậu là cánh phục binh không hề tồn tại trong rừng trúc.

Nhưng thực ra...

Là Đinh Lễ.

Nhưng chẳng lẽ để Đinh Lễ đương đầu với hai trăm kị mã lại khả thi ư?

Chỉ thấy Lê Hổ nháy mắt với cô gái.

Nàng ta nhẹ nhàng rút cây còi câm ra, đặt lên miệng.

Chỉ nghe tiếng Đinh Lễ cười vang.

Ba tiếng.

Ha!

Ha!

Ha!

Quân Minh không khỏi ngơ ngác, chẳng hiểu vì sao cậu lại làm thế.

Chẳng phải bọn chúng đã lật tẩy “ mai phục ” của người Nam ư? Tại sao thằng nhóc kia lại cười phá lên, như thể đã nắm chắc thắng lợi trong tay kia chứ?

Đinh Lễ chậm rãi hít vào một hơi dài.

“ Bọn cướp nước chúng bay...

CÚTTTTTT!!!!! ”

Con Đại Thắng thần ngưu cũng ngửa cổ lên, rống một hồi như sấm nổ.

Tiếng người quện cùng tiếng trâu, ầm vang chấn động cả một vùng. Lá tre xào xạc rơi lả tả, đậu xuống mặt nước đục ngầu.

Chiến mã bị thần uy của Đại Thắng doạ, nhao nhao chồm lên như muốn dứt đứt dây cương. Cũng may kị thuật của những người này rất tốt, nên mới ghìm ngựa lại được.
“ Làm đi! ”

Lê Hổ nói khẽ.

Cô gái bèn phồng má, thổi vào cây còi câm bằng hết sức bình sinh. Giai điệu tai người nghe không thấu vang lên lúc cao lúc thấp.

Đám kị binh còn đang vỗ về ngựa yêu để chúng bình tĩnh lại, thì chợt thấy toàn thân chiến mã cứng đờ ra như tượng. Nói đoạn, chúng lại lồng lên lần nữa. Lần này mắt ngựa đỏ quạch, mồm văng nước dãi, bờm ngựa tung bay trong gió hoà vào tiếng vó ngựa khua.

Nói đoạn, bầy ngựa phi thẳng xuống dòng sông đang chảy xiết.

Ngựa là loài sống theo bầy, chăn thả. Trong đám ngựa, luôn có một con đầu đàn. Cái còi câm chỉ đơn giản là giả mạo hiệu lệnh của con ngựa đầu đàn, khiến lũ chiến mã tuân phục.

Ngự thú thuật của cô bé kia, khác với những môn trôi nổi trên giang hồ về bản chất là vậy.

Cũng là nguyên nhân cô ta có thể ra lệnh cho lũ ngựa lạ chưa từng tiếp xúc, điều mà ngự thú sư bình thường tuyệt nhiên không thể làm được.

Chính vì lẽ này, Lê Hổ mới cất công bày ra nhiều trò như thế.

Trước tiên dùng khổ nhục kế khiến đám binh sĩ hạ thấp cảnh giác.

Sau đó dựa vào hung uy của Đinh Lễ và Đại Thắng thần ngưu để làm lũ ngựa hoảng hồn. Chúng là chiến mã, chắc chắn gan dạ cứng cỏi hơn ngựa thường. Cho dù đêm qua cô gái nọ đã kiểm soát được một con trót lọt, nhưng cẩn tắc vô áy náy.

Cuối cùng, là nước!

Mọi thứ diễn ra quá nhanh, đám kị sĩ cơ hồ chỉ vừa mới phóng ra loạt mưa tên đầu tiên, sau đó đón chúng đã là dòng nước chảy xiết.

Ngựa vào nước, chân không chạm đá, bắt đầu vùng vẫy theo bản năng. Đám người trên lưng bị quăng qua quật lại, nước sông lại ồ ạt xối vào mặt khiến không ít kẻ buông cương tuột khỏi yên ngựa.

Đinh Lễ thúc gót vào bụng trâu ra hiệu.

Con Đại Thắng tung mình phi xuống nước.

Kể cũng lạ, con quái ngưu này vừa chạm vào mặt sông, thì lập tức trở nên dũng mãnh khác thường. Nó bì bõm bơi giữa dòng nước xiết mà thoải mái như thể kéo cày trên đất bằng. Đinh Lễ một tay nắm chặt sừng trâu, tay kia cứ vung vẩy thanh côn sắt.

Côn của Đinh Lễ nặng hơn năm chục cân, cứ vụt một phát là nước sông bắn lên tung toé thành cột nước cao cả thước. Mũi côn huơ đến đâu, là người ngã ngựa đổ, xương gãy thịt nát đến đó. Nháy mắt thôi, cả một khúc sông rộng loang đỏ, dòng chảy có xối xả cũng không thể rửa trôi hết trong nháy mắt được.

Đại Thắng thần ngưu ngửi thấy hơi máu, càng hung tợn. Đầu nó thúc trái, đánh phải, giáp trụ dày đến mấy trước cặp sừng của nó cũng yếu ớt như tờ giấy. Không hổ danh thứ quái vật húc chết được cả voi chiến. Đinh Lễ tắm trong dòng nước, tiếng hét la và binh khí khua loẻng xoẻng cuộn trào trong từng cơn sóng đỏ sủi bọt, quất tới quất lui vào thân trâu thần. Cây côn trong tay cậu chàng múa tít, kị binh nhà Minh không ai đỡ nổi một gậy, binh khí đã bị phang gãy rời, mất mạng ngay.

Người kêu la, gào thét dữ dội mấy, cũng chẳng thể át nổi tiếng gầm thét của tự nhiên. Sóng đánh tới tấp, ập cả vào họng vào miệng, khiến phân nữa tiếng la thất thanh chẳng bao giờ thoát ra khỏi cuống họng... Cuối cùng chìm xuống đáy sông, cùng với tử thi lạnh buốt.

Đinh Lễ giết một hơi năm chục lính tinh nhuệ, con Đại Thắng húc chết ba mươi người. Số còn lại không bị nước cuốn trôi, thì cũng bị ngựa chiến của mình đạp chết. Đội kị binh tiên phong Mộc Thạnh phái đi... bị đánh cho không còn manh giáp.

Cũng từ trận chiến đó, chiến thần của đất Lam Sơn chính thức bước lên vũ đài của lịch sử. Cái tên Đinh Lễ khảm sâu một nét vào nội tâm của không chỉ quân Minh, mà còn cả phe Hậu Trần.

* Lời tác giả:

Kính chúc độc giả năm mới vạn sự như ý, bình an hạnh phúc.

Cái Tết đầu tiên của tác giả ở nước người, thôi thì bao nhiêu nhung nhớ quê hương xứ xở đành phải gửi vào trang sách. Thôi thế cũng tốt. Những đoạn tình cảm, suy nghĩ của nhân vật trong truyện lúc phải rời xa cố hương, cũng vì thế mà chân thật thêm được một chút.

Vì nhiều bạn hỏi tác là: “ tại sao lại để Tạng Cẩu theo quân Minh ”, và có nhiều lời nói khá nặng nề. Tác đã đọc, và chỉ xin nói lại một lần nữa:

“ bản thân mình chưa bao giờ thích cái gọi là chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Mình rất tự hào về văn hoá, lịch sử của dân tộc Việt Nam, tự hào mang dòng máu tiên rồng của cha Lạc Long Quân mẹ Âu Cơ. Nhưng mình không muốn vì thế mà hạ thấp dân tộc khác.

Và mình tin rằng… dù là dân hay lính, cuối cùng đều là nạn nhân của chiến tranh. ”

Một lần nữa xin cảm ơn sự kiên nhẫn và ủng hộ của quý độc giả

Dưới đấy là link facebook cá nhân của tác giả. Nếu có bất kì câu hỏi, góp ý đóng góp, xin liên hệ trực tiếp vào inbox của tác để tác giả có thể trả lời các thắc mắc một cách kỹ càng nhất cũng như gửi lời tri ân chân thành nhất đến mọi đóng góp của các bạn.

https://www.facebook.com/profile.php?id=100022919295232&ref=bookmarks

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau