THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 116 - Chương 120

Chương 116: Hồi mười lăm (6)

[ Chẳng lẽ bác có chuyện?? ]

Hai đứa nhóc trông thấy bản vẽ pháo Thần Cơ, lập tức nghĩ đến Hồ Nguyên Trừng. Chúng nó ngồi trong Ngự Thư Phòng, không nghe thấy chuyện Chu Đệ bị ám sát, nên vẫn nghĩ bản vẽ hôm trước Hồ Nguyên Trừng dâng lên vẫn ở trong tay hoàng đế triều Minh.

Âu cũng dễ hiểu. Ngay ngày đầu tiên vào yết kiến Chu Đệ, được dẫn đi tham quan hoàng cung, hai đứa đã thấy cung cấm này canh phòng nghiêm mật đến thế nào. Ăn cắp được thứ quan trọng như bản vẽ pháo Thần Cơ, thật là khó hơn cả lên trời.

Nhưng nay nó lại xuất hiện ở Ngự Thư Phòng, trong tay Lý công công. Thế nên hai đứa lập tức nghĩ đến chuyện tên Lý công công này uy hiếp Hồ Nguyên Trừng, bắt chàng phải nộp bản vẽ cho hắn. Có khi còn bị hắn hại chết rồi không chừng.

Tạng Cẩu lấy trong áo ra một viên bi sắt, thủ sẵn trong tay.

Mấy tháng nay, Nguyễn Phi Khanh vẫn thường thay thầy dạy nó thủ pháp để ném Quỷ Diện Phi Châu, để " thần công không bị thất truyền ". Sau đêm Anh Hùng yến, Tạng Cẩu vẫn thường ỷ vào nội lực thâm hậu hơn người cùng lứa, không mấy khi phóng phi châu.

Đây sẽ là lần đầu tiên. 

Mà Lý công công, hắn cũng không vội thò cổ xuống lấy bản vẽ.

Người bình thường thì có thể nghĩ thứ mới đánh động ván giường là con chuột nào đấy, nhưng hắn không nghĩ vậy. Chính xác hơn, là không cho phép bản thân được có suy nghĩ bất cẩn như thế.

Lý công công cong năm đầu ngón tay, sau đó chộp thẳng xuống ván giường. Liệt kình hung hãn phá tan cả tấm phản. vụn gỗ bắn cả vào khuôn mặt trắng bệt của y.

Vút.

Cốp!

Họ Lý thấy trong vụn gỗ giấu một dị vật, không kịp nghĩ nhiều vội vã nghiêng đầu tránh đi chỗ khác. Song phi châu của Tạng Cẩu vẫn nhanh hơn một bậc, đánh trúng ngay chóp mũi của hắn. Cái mũi của Lý công công bị đụng cho vẹo lệch hẳn sang một bên, hai lỗ mũi đều có máu chảy ra ồ ạt, có khác gì sông Hồng vỡ đê? Lớp da đầy phấn ở chóp mũi bị xé toạc, lộ ra bên dưới một làn da ngăm ngăm.

Kẻ này là Lý công công giả.

Tên Lý công công giả loạng choạng lui lại phía sau, lại đưa tay lấy vạt áo che kín mặt. Có lẽ hắn cũng đã nhận ra mặt nạ da người của mình bị rách, không muốn để ai biết thân phận thật.

Tạng Cẩu đội vết nứt trên ván giường, nhảy ra. Nó sấn nhanh tới chỗ tên thái giám giả, tay phải tống ra một quyền trong võ chó.

Hàm Chó Vó Ngựa.

Chiêu này nhắm ngay vào huyệt Lương Khâu nằm trên gối một chút. Lấy kình lực của thằng nhóc, đánh què chân một người không phải chuyện gì quá khó.

Thằng bé nhỏ người, đứng thẳng cũng chỉ cao đến bụng đối phương. Họ Lý lại đang lấy tay áo lòng thòng lượt thượt che nửa mặt, chẳng khác nào tự đâm mù mắt. Lúc này dù có cúi xuống, y cũng không thấy được hạ bàn của mình.

Nhưng Lý công công cũng không phải hạng vừa, y tự biết hạ bàn là chỗ hớ hênh nhất của mình bây giờ, nên đã có phòng bị trước. Thằng bé vừa ra tay, y đã co ngay chân lên, đạp mạnh ra trước.

Cốp.

Quyền cước giao chiến, kình phong của cả hai đều hung bạo như sóng biển, nay va vào nhau chỉ nghe ầm một tiếng. Tạng Cẩu lui về phía sau ba bước, chân dậm lún cả sàn thành vết.

Đối thủ của nó thì mượn lực đấm, ngả người lao về phía cửa.

" Chạy đâu?? "

Tạng Cẩu hét lên, đoạn bổ nhào theo gắt gao. Mắt nở trợn to, đỏ quạnh.

Người trúng phải một trảo của Lý công công là Phiêu Hương.

Tên thái giám giả cười khẩy, mặt hắn vẫn hướng về phía cửa, thế mà cả người đột nhiên lướt ngược lại như thể một bóng ma. Hắn nhấn ngón chân khẽ một cái, cơ quan trong giày khởi động, làm một lưỡi dao ngắn trượt ra khỏi gót giày. Đoạn, hắn cong eo, gập bụng. Cả người gã như hóa thành một cái đòn bẩy, bẩy cẳng chân của hắn giật ngược lên. Động tác gần giống người ta múa ba lê hay trượt băng nghệ thuật hiện đại.

Song gót giày hắn gắn dao, chân đá móc ngược lên như thế, lưỡi thép nhọn hoắt ắt sẽ xuyên thủng cằm đối thủ.

Nhưng…

Khinh công của Tạng Cẩu được chân truyền của Quận Gió, người lừng danh thiên hạ về sự xuất quỷ nhập thần, đi không ai biết về chẳng ai hay.

Thế nên, thân pháp đối phương có thể quái lạ đấy, nhưng cũng như cái thân pháp cá trạch của Phạm Hách, thiên về tiểu xảo hơn. Thế thì sao mà làm khó được nó?

Tạng Cẩu chỉ hơi giật mình một cái, sau đã dùng Lăng Không Đạp Vân ngay, lướt ngang sang tránh thỏi đòn hiểm của kẻ địch chỉ trong gang tấc. Nếu đối phương là bóng ma quỷ mị, thì nó là điện xẹt giữa bầu không.

Lại nói, tên thái giám giả đang bị nội thương. Nếu không, Tạng Cẩu muốn dùng tốc độ áp đảo hắn, đúng là sẽ khó hơn bội phần.

Cốp! Cốp! Cốp!

Tạng Cẩu vung tay, bắn liên tiếp ba viên phi châu vào hai khoeo chân gã thái giám giả. Bi sắt đúc đặc, nặng đến hai cân ta. Tạng Cẩu dùng thủ pháp đặc thù, lại thêm nội lực mạnh mẽ, uy lực có thể so với đạn súng hỏa mai.

Lý công công bị một thằng ranh con đánh gãy chân.

Thực đúng là chuyện không thể tưởng tượng.

Nhưng ngày hôm nay, vốn dĩ đã là một ngày quái lạ. Các cụ vẫn dạy là họa vô đơn chí phúc bất trùng lai, thế nên một lát nữa có xảy ra thêm vài chuyện khó tin có lẽ cũng không có gì lạ.

Đánh gãy lìa hai chân đối thủ, Tạng Cẩu lại nhảy xổ tới, toan dùng nắm đấm nhỏ bé thụi tan tác hết chân khí hộ thân của y. Song tên thái giám nọ đâu phải tay vừa? Chân bị đánh gãy, nhưng hắn vẫn còn đôi tay.

Tạng Cẩu chỉ thấy hắn dùng chưởng phải vỗ xuống đất một cái, khiến cả người bật tung lên không trung đến gần hai thước. Liền đó tay trái tên thái giám giả đã tung ra, hai ngón tay nhè mắt Tạng Cẩu mà đâm tới. Đấy vốn là long tu chỉ, một chiêu trong Long Hình của Thiếu Lâm tự.

Tốc độ nhanh thì quán tính lớn, lúc này thằng bé đang được đà lao tới trước, chẳng khác nào tự đập mắt mình vào hai ngón tay của đối thủ.

Tình hình nguy ngập, khiến Tạng Cẩu không kịp nghĩ nhiều. Một mặt nó đưa tay lên bảo vệ cặp mắt, mặt khác lại vận hết nội lực bình sinh lên.

" Oẳng!!! "

Nó vẫn chưa quen lấy âm thanh nào khác để dùng chiêu Chó Sủa, thế nên vẫn cứ đem tiếng kêu của cái giống gâu gâu này ra để hạ địch.

Lý công công đột nhiên nghe thằng nhóc này sủa lên một tiếng, chưa kịp nghĩ gì, thì cả người đã bủn rủn tay chân. Chấn động xông lên tận óc, khiến người hắn đơ nhũn ra. 

Bao gồm cả cánh tay.

Bịch.

Lý công công ngã phịch xuống, không áp chế nổi thương thế nữa mà ộc ra một ngụm máu tươi.

Kẹt.

Tuệ Tĩnh thiền sư bước vào.

Quay lại chuyện ở cố đố Hoa Lư.

Trần Đĩnh với Lê Thận lê la tìm một góc, hỏi nhau chuyện liên quan đến sư phụ. Khiếu Hóa tăng vốn là người nay đây mai đó, bản tính ưa tự do, thế nên mặc dù có duyên sư đồ, muốn tìm được ông cũng chẳng phải chuyện dễ dàng gì cho cam.

Không biết có phải do gặp được " sư đệ " không, hay do đã ngà ngà say, mà hôm nay Trần Đĩnh nói đặc biệt nhiều về quá khứ của bản thân, nhiều hơn cả những gì hắn hé môi trong mấy năm nhập ngũ." Năm đấy anh tôi dùi mài kinh sử dưới quê, muốn lên kinh ứng thí. Mẹ tôi lấy hết tiền để dành đưa cho hắn ta, đặng làm lộ phí đi đường. Hết năm này, qua năm khác. Mẹ tôi ở quê đói không dám ăn rét chẳng dám mặc, ốm đau cũng cố chịu cho qua cơn chứ không mời ông lang nào về. Hai mẹ con giật gấu vá vai, cũng coi như đủ sống.

Năm này, qua năm khác. Tôi thì lớn dần, mà bóng thằng anh vẫn biệt tăm. Mẹ tôi thương con, nghĩ chắc hắn thi trượt hết lộ phí không dám về, nên bán cả nhà cả trâu lên Thăng Long tìm. 

Cuối cùng, chúng tôi thấy hắn trong sới đá gà, đang làm công trả bớt nợ nần bị thua dưới móng con mấy thứ gà qué luộc lên chẳng được tí thịt. "

Lê Thận nghe đến đoạn này, mời Đĩnh một chén:

" Mỗ kính anh một chén, coi như cho qua cái chuyện xưa. "

Đĩnh lại tiếp:

" Mẹ nó chứ. Mà nhầm. Thằng ấy anh mình. Khốn nạn thế vẫn chưa hết đâu. Nó trông thấy mẹ, nó ôm chân kêu khóc van lơn ghê gớm lắm. Mẹ thì vẫn cứ nghĩ hắn còn là gã trai quê chân chất, lại thương con, nên thay hắn làm trong sới đá gà để hắn tu tỉnh ăn học chờ kì thi sau. Ấy thế… khốn nạn cái thằng trời đánh thánh vật kia. Nó vẫn cứ lén đá gà sau lưng mẹ. Tiền mẹ làm một, nó nướng vào sới gà mười. "

" Sao anh không nói gì? "

Lê Thận tự tu một ngụm rượu, hỏi.

Trần Đĩnh cúi thấp đầu, tóc lòa xòa che mặt. Hắn lên tiếng, giọng khàn đặc:

" Có. Có nói. Nhưng có ai thèm tin tôi đâu? Trong lòng mẹ, hắn luôn là đứa con ngoan. Anh cũng biết mà. Các cụ lúc nào cũng tin thứ các cụ thích thôi. 

Chẳng mấy, mà mẹ kiệt sức ốm nặng vì cái lòng tin chết bằm ấy.

Đến lúc bà mất rồi, thằng chó đẻ kia nó mới hối. Nhưng tiền nướng vào sới đá gà rồi, chôn mẹ kiểu gì?? Hắn không biết, cũng chả thèm biết. Hắn tự tử. Ha ha. Giờ hắn thì sướng rồi, chả phải lo nghĩ gì. Còn thằng em thì có đến tận hai thi thể phải mai táng. "

Lê Thận chuốc cho Đĩnh một chén nữa.

Rồi hỏi:

" Mỗ đoán sau đó anh gặp thầy, được ông dạy võ nghệ cho đúng không? "

" Cũng may có sư phụ. Chẳng rõ vì sao ông tìm được tôi, mua nhà ở phố Hàng Than cho ở, lại dạy bảo võ nghệ và ban cho thanh Huyết Ẩm này đây. "

Trần Đĩnh nhìn xuống thanh kiếm gãy đặt bên cạnh, trong đầu hồi tưởng lại ký ức trong veo năm nào. Thăng Long thành, dưới bóng cây, một ông sư già béo mập lại đánh ra được những chiêu kiếm tiêu sái đến hút hồn.

Lê Thận thở dài:

" Mỗ biết lí do đấy. "

" Anh biết? "

Trần Đĩnh kinh ngạc nhỏm dậy, tóc mái lòa xòa cũng theo đó mà bị hất cả ra sau vai. 

Lê Thận lim dim mắt, kể:

" Thực ra, chuyện của mỗ cũng na ná như anh vậy. "

Thì ra, trước đây Lê Thận vốn là con trưởng trong một gia đình ngư phủ nghèo, ngày chẳng đủ hai bữa ăn. Lê Thận mồ côi cha từ nhỏ, anh ta và mẹ sống dựa vào nhau ở đạo Đà Giang, ngay sát địa phận châu Ninh Viễn do một tù trưởng Thái là Đèo Cát Hãn cầm đầu. Đèo là kẻ có dã tâm, rất hay dẫn quân xuôi đông đánh chiếm đạo Đà Giang, cướp trâu ngựa của cải về cho người mình dùng. Ông nội và cha của Thận đều chết dưới tay Đèo. Song y là tù trưởng một vùng, nắm trong tay binh mã hung hãn thiện chiến. Một thanh niên chỉ quen cầm lưới với cần câu như Lê Thận, chỉ biết ngày ngày đứng trước bàn thờ gia tiên thở dài bất lực.

Đúng lúc này, Khiếu Hóa Tăng tìm đến nhà, đưa cho anh ta bộ ám khí Trầu Không, lại dạy bảo cho cách dùng. Lê Thận rất biết ơn ân sư, trong thời gian ông sư già ở lại nhà, cả hai mẹ con đều kính trọng ông hết mực.

Nửa tháng trôi qua, Khiếu Hóa Tăng ra về, mặc cho mẹ Lê Thận hết sức giữ lại. Trước khi đi ông chỉ nói với Thận:

" Vật nào về chủ nấy, của thiên lại trả địa. Cái khác duy nhất, có chăng là lão nạp chỉ là một ông sư lang thang già nua béo ú, không được trẻ trung xinh đẹp như người tiên thôi. "

Lê Thận đứng bên bờ sông, nhìn theo con đò trở ông sư già xuôi theo dòng nước, đến tận lúc cái đầu trọc lốc của sư phụ khuất sau những con thác bạc đầu rồi, anh ta mới quay về.

" Nghe u mỗ kể, ám khí Trầu Không vốn là vật của ông nội, hôm thầy u mỗ lấy nhau ông mới đem ra làm quà mừng. Sau đó bẵng đi ít lâu, năm mỗ lên ba cả ông lẫn thầy đều bỏ mạng dưới tay của Đèo Cát Hãn. Ám khí cũng bị mất, chắc là do Đèo cướp về như chiến lợi phẩm. "
Trần Đĩnh nhìn thanh kiếm gãy của mình, lại nhớ đến bóng lưng trong chiếc cà sa rách nát, lòng không khỏi nặng trĩu.

" Cả mỗ, cả anh… hai ta đều chưa xứng với kì vọng của thầy. "

Theo Minh sử kể thì Đèo Cát Hãn dâng biểu tâu với nhà Minh rằng vua quan họ Hồ đã chiếm 7 trại của Đèo, lại còn bắt con gái và giết rể ông ta để khống chế. Trong chiến tranh Đại Ngu - Đại Minh, Đèo Cát Hãn mang 4000 quân góp sức theo Trương Phụ, nay chẵng những được trao trả đủ lãnh địa, quyền hành có phần còn hơn xưa.

Gió càng muộn càng thanh, trăng càng khuya càng sáng.

Lê Thận, Trần Đĩnh uống hai vò rượu nếp nồng, say nhũn cả người, chả còn biết trời đất trăng sao gì nữa. Hai tên mỗi người ôm một bên chân tượng thần Thiên Tôn, lăn đùng ra kéo gỗ vang cả động.

Phạm Ngũ Thư chậm rãi ra ngoài, tiếng ngáy của hai tên ngố đồng môn khiến y chẳng thể chợp mắt. Vừa mới đi vài bước, đã thấy Lê Hổ đang ngồi bần thần trước cửa động. Sương đêm vùng núi đọng cả lên tóc, lên vai áo, song Lê Hổ vẫn không động đậy tí nào. 

Ngũ Thư đã ngồi xuống bên cạnh, nhưng cậu chàng vẫn không nhúc nhích.

" Nghe được hai tên kia nói chuyện với nhau đúng không? "

Lê Hổ lúc này mới ngẩng đầu, mặt hồ phủ lên lớp sương mờ.

Cậu chàng vẫn không nói gì, nhưng Phạm Ngũ Thư đã lờ mờ đoán được chuyện gì đang xảy ra trong đầu cậu. Y thở dài, chậm rãi ôn lại trận thư hùng mười năm trước với Trần Đĩnh ở hồ Linh Lang. Lúc này đây, Phạm Ngũ Thư biết Lê Hổ cũng đang phải trải qua những gì y nghĩ mười năm trước.

" Mười năm trước, đáng ra anh đã có thể giết hắn. "

Phạm Ngũ Thư ngẩng đầu lên mảnh trăng bàng bạc treo trên đầu, lấp ló giữa những cụm mây đen.

" Thế tại sao anh lại không làm? "

Lê Hổ gằn giọng, mắt quắc lên.

Bình thường, Lê Hổ là chủ công, Ngũ Thư là tùy tùng. Song, mười bảy năm trước, khi Lê Học trút hơi thở cuối cùng… chàng đã gửi gắm đứa em bé bỏng cho Ngũ Thư.

Từ bấy đến giờ, Phạm Ngũ Thư vừa là cận vệ, lại vừa là anh trai của cậu chàng. Phải đến mấy năm gần đây Lê Hổ làm lễ thành nhân, hai người mới sửa lại cách xưng hô.

Phạm Ngũ Thư nhìn Lê Hổ:

" Còn cậu? Mới nãy hai tên kia không đề phòng gì, uống say bét nhè. Võ công thấp kém như cậu nghe lén cả hai cũng chả biết, giờ muốn giết Trần Đĩnh không phải chuyện khó đâu. "

" Thì… thì anh cũng nói rồi. Y chẳng hề đề phòng gì mình… giết y… giết y bây giờ quá bỉ ổi. "

Phạm Ngũ Thư cười khẽ, nói:

" Thực ra chuyện đời vốn không phải đơn giản, cái vòng luẩn quẩn oán cừu thù hận cũng sẽ không vì chuyện giết người đền mạng mà chấm dứt được. Cuối cùng, chỉ là cái chuyện hại người chẳng lợi mình. "

" Thế nhưng… Nếu ai cũng nghĩ như thế, trên đời đã chẳng còn cái gọi là giang hồ, cũng không còn cái gọi là chiến tranh xung đột. Mà nhàn cư vi bất thiện, không có xung đột, cuối cùng chỉ còn diệt vong. "

Lê Hổ đứng bật dậy, mắt nhìn thẳng Phạm Ngũ Thư.

Phạm Ngũ Thư rút thanh hùng kiếm ra, lưỡi kiếm đồng đen vuông vức không mũi nhọn lặng lẽ nuốt lấy ánh trăng mờ.

" Không sai. Cái thù hận ở thế gian cũng như men rượu. Ai mà không biết uống vào hại thân, nhưng mấy người có thể cưỡng lại cái cám dỗ ấy? Chung quy trên thế gian, hạng người nào cũng có. Chẳng qua là nhân sâm tất ít, rễ tre ắt nhiều.

Nhưng bởi vậy, cái giá trị của nhân sâm mới càng thêm to lớn. Thư Hùng vốn là một cặp, sắt thép tinh luyện dùng làm Thư kiếm, sắc bén vô cùng. Đồng đen quý giá hơn vạn phần, thánh tổ lại đem đi đúc nên lưỡi kiếm vuông như cái thước. Có lẽ, đó là cái ẩn ý thâm sâu của ngài. "

" Nhưng chẳng phải thứ rễ tre quê mùa kia cũng có giá trị của nó hay sao? "

Lê Hổ nói, tay trỏ về rặng tre xa xa. Thứ thảo mộc kì lạ, đất cằn mấy cũng mọc thành lũy thành rừng được. Cứ hết lớp này, lại đến lớp khác, quật cường chống lại bão táp mưa sa từ năm này qua tháng nọ.

" Không sai. Phù Đổng thiên vương không có bụi tre, có lẽ đã không dẹp nổi giặc. Mà đám tre không có ngài thánh Gióng, cũng chỉ là thứ cỏ cây mọc ven đường, vô hại. "

" Hiếm khi nào anh nói với em nhiều chuyện như hôm nay. "

" Đó là vì chú đã trưởng thành rồi. Hổ ạ. Có những lúc, tha thứ cho một người, mới là việc chỉ kẻ mạnh mới dám làm. Và cũng chỉ những kẻ mạnh nhất mới làm được. "

Phạm Ngũ Thư vỗ lên vai Lê Hổ hai cái, ngáp khẽ, rồi quay vào động.

Cậu chàng bất giác nhớ đến Quận Gió, cái cách ông tung hoành giữa Quần Hùng yến, còn tha chết cho kẻ thù. Nếu ngày ấy Quận chẳng niệm tình xưa, có lẽ sự đã khác.

Nhưng nói đi cũng phải nói lại. Nếu ông quả quyết ra tay hạ thủ, ông có còn là ông? Có còn là cao thủ một mình trấn áp anh hào khắp Kinh Bắc hay không??

Cậu chàng chẳng rõ, thành ra cứ đứng mãi trước cửa động. Ánh mắt bức tượng thiên tôn trong bóng tối lặng lẽ dõi theo bóng lưng người thanh niên. Có lẽ, bốn người này, sẽ là viên đá đầu tiên dựng lên cây cột chống cả bầu trời.

Sáng hôm sau…

Trần Đĩnh ngủ dậy với một lưỡi đao kề ngang cổ.

Chuôi đao đang nằm trong tay một thanh niên, không phải người lạ, song cũng chẳng thân quen gì cho cam.

Y thở dài, nhìn gương mặt quái đản phản chiếu trên lưỡi kiếm, chậm rãi:

" Ta biết ngươi sẽ không tha cho ta đâu. "

" Ngươi đánh giá bản thân mình có quá cao không? "

Lê Hổ hất đầu, mắt nheo lại.

" Đúng là đã hơi tự mãn. "

Trần Đĩnh ngả người lên vách động, tay gối sau đầu.

Y chẳng thèm nhìn vào lưỡi đao của Lê Hổ đến lần thứ hai.

" Còn chưa ra tay sao? Một mạng đổi một mạng, công bằng lắm chứ. "

Trần Đĩnh nhắm mắt lại.

Gương mặt hắn thanh thản lạ thường.

Chương 117: Hồi mười lăm (7)

Lê Hổ cười khẩy.

Lưỡi đao lia một cái.

Đúng lúc này, Lê Thận nằm cách đó không xa lắm cũng mở mắt ngái ngủ.

Đập vào mắt y là cảnh Lê Hổ cứa thanh đao ngang cổ Trần Đĩnh.

Lê Thận không ra tay, chỉ yên lặng cất ám khí trầu không vào sâu trong áo.

Đêm qua, hai người đã thỏa thuận với nhau xong xuôi, rồi mới gục xuống vì cơn say chuếnh choáng. Mạng Trần Đĩnh giao cho hai người Lê Hổ, Ngũ Thư tùy ý xử trí.

[ Trần Đĩnh phải không? Mỗ sẽ nhớ kỹ cái tên này. ]

Lê Thận cúi đầu xuống, mặt ngoảnh đi chỗ khác.

Y thấy bản thân không bằng Trần Đĩnh.

Huyết Kiếm Thiên Công đã không còn quá coi trọng sống chết của bản thân.

Lê Thận nhìn y gối đầu lên tay, thản nhiên trước lưỡi đao, bỗng phát giác một điều. Ở Trần Đĩnh đã có chút nào đó na na Khiếu Hóa Tăng. Không giống hẳn cái sự vô lo, lười biếng của ông, xong đã gần với ông hơn. Ít nhất là gần hơn so với Lê Thận.

Thượt.

Tóc Trần Đĩnh rụng lả tả xuống nền động Thiên Tôn.

Tiếng đao tra vào vỏ vang lên nghe loạt xòa loạt xoạt.

Xen lẫn vào đó là tiếng nói của Lê Hổ.

" Ta nói rồi, ngươi đánh giá chính mình quá cao đấy. Anh Học ta là thầy lang nổi danh, có thể tạo phúc cho dân, cứu hàng trăm hàng ngàn nhân mạng. Còn ngươi? Để ngươi chết lúc này, chẳng phải là nói mạng anh Học ta cũng chỉ bằng cái mạng quèn của nhà ngươi chắc? "

Trần Đĩnh mỉm cười.

Y khuỵu một gối xuống, Huyết Ẩm kiếm dắt vào thắt lưng, dõng dọc nói:

" Tham kiến chủ công. "

Cửa Ngự Thư phòng mở tung.

Thiền sư Tuệ Tĩnh hộc tốc chạy vào, nhìn ngang nhìn dọc một hồi.

Lý công công giả bị đánh cho nằm bẹp dúm dưới sàn. Tạng Cẩu thì vừa đỡ Phiêu Hương ra khỏi cái giường sập tan sập tác. Mặt cô bé con tái trắng, còn mắt thằng nhỏ thì mở to trợn tròn cả lên.

Thiền sư thấy hô hấp của Phiêu Hương đã tán loạn, thì đoán ngay được cô bé bị thương không nhẹ.

" Đặt nó xuống, để ông bắt mạch. "

" Ông ơi Hương yếu lắm rồi. Nó có chết không hả ông?? "

" Tâm bào bị thương tổn, khiến tim bị suy khí. Nhưng may mà bị thương không nặng lắm. Còn cứu được. "

Tâm bào là một màng bảo vệ tim, còn gọi là Thủ Tâm chủ. Vốn là một trong lục phủ của cơ thể người, có tác dụng bảo vệ trái tim khỏi ác khí bệnh khí xâm phạm.

Tuệ Tĩnh thiền sư vừa nói, vừa ghé mấy ngón tay lên lưng Hồ Phiêu Hương. Tạng Cẩu thấy ông dùng ngón út và ngón cái tay phải, không khỏi lấy làm lạ. Nó không hiểu tại sao phải dùng thứ thủ pháp chẳng những kì lạ mà còn chả tự nhiên tí nào như thế.

Song nó không dám hỏi, sợ làm ông phân tâm.

Tuệ Tĩnh thiền sư bắt đầu vận công, truyền nội lực vào cơ thể cô bé con.

Tạng Cẩu không có gì làm, chợt để ý vị trí mấy ngón tay của thiền sư. Nó lờ mờ nhận ra ấy là ba huyệt Tâm Du, Can Du và Đảm Du. Sở dĩ ba huyệt này có tên như vậy là bởi chúng nằm ngay gần tim, gan và mật của con người.

“ Trong lục phủ ngũ tạng, tim thuộc hành hoả, can đởm thuộc mộc. Theo thuyết ngũ hành thì mộc sinh hoả vượng. Lẽ nào ông Tuệ Tĩnh định truyền nội lực cho tim, trước giữ tính mạng của Hương. Sau lại mượn khí ở can đảm bù lại cho tim không? ”

Tạng Cẩu nghiêng đầu, tự ngẫm.

Chuyện lấy khí ở tạng phủ này bù cho tạng khác quả thực là khác thường, khó tin. Thế nhưng, Tạng Cẩu không hề hay biết rằng nó đã đoán đúng.

Qua chừng một khắc, thương thế của cô bé đã ổn định. Tuệ Tĩnh thiền sư thả thõng hai tay, thở dốc từng hồi từng hồi. Hai lần dùng y thuật vô song để cứu người khiến chân khí ông tổn hao nặng nề. Sắc mặt thiền sư tái đi hẳn, trên trán rịn ra những giọt mồ hôi to như hạt đỗ.

Tạng Cẩu đến đỡ ông ngồi xuống, lại dùng chân khí của nó kiểm tra thương thế Phiêu Hương thêm một lần. Dù nó tin tưởng y thuật của thiền sư, nhưng vẫn kiểm tra lại. Làm thế khiến cho bản thân an tâm hơn.

Chợt…Gió thu se se lạnh thổi ngang qua vai áo hai người.

Bất giác mặt trời đã xế bóng từ lúc nào. Trăng lên vằng vặc, sương đêm lả tả rơi nơi thềm gỗ.

Song…

Chẳng ai có tâm trí đâu mà thưởng cảnh.

Cửa đóng thì làm sao có gió lùa vào được?

Đứng tựa vào bậc cửa, chẳng biết tự bao giờ đã có thêm một người. Y ngước đầu, hồ lô đỏ rực dốc nghiêng, có thể ngửi thấy mùi rượu gạo thoang thoảng trong không khí. Y cứ nốc lấy nốc để, rượu trong chén cứ thế vơi dần.

Tạng Cẩu chăm chú nhìn đối phương. Chỉ thấy dáng người y dong dỏng cao, tóc ngả màu hạt dẻ, trên mặt đeo một chiếc mặt nạ quỷ dữ tợn màu đỏ lộ miệng và chóp mũi. Lúc y đứng thẳng người dậy, áo dài màu đỏ rực như máu phủ xuống gần chớm mắt cá.

Song nó không mấy quan tâm đến mấy thứ nó. Nó chỉ chú ý đến hai đặc điểm trên người quái nhân.

Thứ nhất…

Bàn tay còn lại của y đang cầm một bản vẽ, những ngón tay mảnh khảnh lướt trên từng thước giấy.

Bản thiết kế pháo Thần Cơ.

Và thứ hai…

Thanh trường đao quái đản y đeo bên hông. Lưỡi cong như vầng trăng tựa như bảo đao, nhưng lại mảnh mai khác nào thần kiếm? Nó từng trải qua cuộc chiến tranh giữa Đại Ngu - Đại Minh, các loại khí giới bình thường trong mười tám ban võ nghệ nó cũng chẳng còn lạ gì nữa. Song… đây là lần đầu tiên Tạng Cẩu thấy một thanh đao mà lưỡi đao chỉ rộng có hai ngón tay.

Thanh quái đao phản chiếu ánh trăng, rung lên khe khẽ. Ánh thép chạy dọc mép đao cho Tạng Cẩu cảm giác lạnh sống lưng như khi nhìn vào đao Lĩnh Nam.

Quái nhân nọ liếc xéo Lý công công một cái, ngón cái rung tay búng vào cái nút hồ lô rượu, hướng nó vào tên thái giám giả.

Cốp một cái, bị cục gỗ mang nội lực bắn trúng người, Lý công công bừng tỉnh. 

Y thấy gã đeo mặt nạ quỷ, bắt đầu xì xà xì xồ nói một thứ tiếng lạ hoắc. Tuệ Tĩnh thiền sư ở xứ người đã lâu mà nghe cũng không hiểu.

Gã mặt nạ quỷ nghe xong thì cười khẩy, phất bản vẽ pháo Thần Cơ ra trước mặt Lý công công giả.

Tên thái giám giả biến sắc.

Hắn phóng ánh mắt cầu cứu về phía hai ông cháu thiền sư. Miệng hắn mở lớn, nhưng cứ ú ú ớ ớ. Âm thanh như bị thứ gì chẹn cứng lại ở cuống họng. Nói đoạn, ánh mắt hắn trợn lên, rồi bắt đầu dại đi, mất dần tiêu cự. Hô hấp của hắn bắt đầu gấp gáp, đầu tiên là thở hắt ra càng lúc càng nhanh. Cuối cùng là hắt ra một tia cuối cùng. Máu trào thành tia ra khỏi miệng hắn, hòa cùng những tia máu đỏ ối đang chậm rãi thấm qua các kẽ tay chảy xuống tận hai gối, đọng thành vũng.

Bịch.
Lý công công giả gục mặt vào đống máu, tắt hơi.

Lưỡi quái đao trắng như tuyết đầu mùa, không dính lấy một giọt máu nào được gã quái nhân từ từ tra lại vào vỏ đao bằng gỗ.

Cơ hồ chỉ trong một tích tắc mà người đã sấn tới, rút kiếm, cứa đứt cần cổ, thu kiếm.

Gần như không cho đối phương thời gian để phản ứng. 

Tạng Cẩu trợn to mắt, nhìn chằm chằm vào gã đeo mặt nạ quỷ.

Bộ pháp gã vừa sử dụng…

Túy lúy, tiêu diêu như muốn dẫm lên gió, đạp vào mây mà tung mình lên chín tầng trời.

Không thể nhầm lẫn được.

Hắn vừa sử dụng Lăng Không Đạp Vân.

Tên quái nhân liếc sang hai ông cháu, đôi mắt ẩn sau lớp mặt nạ quỷ toát lên ánh nhìn vô cảm, hờ hững như mắt cá chết. Nếu không phải y vừa ra tay giết người nhanh như ánh chớp, Tạng Cẩu thực không thể tưởng tượng, chủ nhân của đôi mắt lười nhác ấy lại là một tên sát nhân khát máu.

Tuệ Tĩnh thiền sư từng trải hơn.

Ông hiểu ánh mắt của tên quái nhân ấy đại biểu cho cái gì.

Trống rỗng…

Sự trống rỗng của một tâm hồn khô héo, chỉ sống lại khi lỗ mũi ngửi thấy mùi nồng nồng tanh tanh và da mặt cảm nhận được cái hơi nóng ẩm ướt của máu tươi. Ánh mắt thẫn thờ, không sâu như hồ nước mà nông như một vũng nước mưa, đến nỗi tưởng như không thứ gì có thể tiến vào. Đó mới là ánh mắt của một kẻ giết người không gớm tay.

Cái nhìn của một tên điên.

Gã nọ thu kiếm vào vỏ gỗ. 

Hắn liếc xéo Tạng Cẩu một cái, sau đó cất tiếng. Tiếng Hoa của hắn nghe hơi là lạ, không giống khẩu âm người Trung Nguyên lắm.

" Không xứng chết dưới Trảm Quỷ. "

Buông một câu với giọng mỉa mai đầy khinh miệt xong, y phất tay áo, dắt thanh quái đao vào thắt lưng rồi bước ra phía cửa. Rất chậm, rất chậm. Hắn nhịp từng bước trên nền nhà, vạt áo loạt xoạt từng tiếng, mà như quét trái tim của người khác lên tận cuống họng.

Một kẻ có thể giết người không ghê tay đã đáng sợ…

Kẻ có thể giết người không ghê tay mà còn tự tin tuyệt đối vào thực lực của mình thì còn ghê gớm hơn bội phần.

Hắn là một con quỷ.

" Nhà ngươi là ai? "

Tạng Cẩu đứng dậy, toan chạy ra phía cửa Ngự Thư Phòng.

Nó muốn biết vì sao tên quái nhân này dùng được thân pháp của thầy nó.

Tuệ Tĩnh thiền sư không kịp ngăn thằng bé lại.

Vụt!

Lưỡi quái đao chém văng cái mũ, phạt đứt cả một đoạn tóc lòa xòa của Tạng Cẩu. Trong cái giây phút sinh tử mảnh như sợi tơ, chính Lăng Không Đạp Vân lại cứu nó một lần nữa.

Gã nọ thấy nó né được, lại dùng chính thân pháp của bản thân, ánh nhìn ẩn dưới mặt nạ quỷ sáng lên vẻ hiếu kì.

" Né được một chiêu, ngươi xứng đáng được biết tên của hai ta. "

Nói rồi, y quay đầu, quái đao gác lên vai, đầu hơi nhếch lên trời:

" Nó tên là Trảm Quỷ, một trong Thiên Hạ Ngũ Kiếm. Còn ta… ta là kẻ đã vứt đi tên tuổi, là vua của Đại Giang sơn, Tửu Thôn Đồng Tử. "

Tạng Cẩu:

" Vô liêm sỉ. Lớn tồng ngồng ra rồi còn tự xưng là đồng tử. "

Chương 118: Hồi mười sáu (1)

Thành Kim Lăng quỷ vương trảm cẩu

Làng Ninh Vân sóng dữ thử vàng

Sau chuyện ở Hoa Lư, Trần Đĩnh quyết định đi theo Lê Hổ, tính cả Lê Thận thì tổng cộng có bốn người. Đĩnh và Ngũ Thư bàn nhau trước dừng lại ở Hoa Lư một thời gian, một là cho ngựa nghỉ ngơi, hai cũng là để thả lỏng một chút.

Trần Đĩnh thì suýt điên giờ mới hồi phục, Ngũ Thư và Lê Hổ lại bị truy sát phải trốn chui trốn nhủi suốt. Rồi lại còn chuyện Giản Định lên ngôi, rồi giải quyết thù xưa oán cũ của Trần Đĩnh. Đến nay mới có dịp được thảnh thơi chút đỉnh, nên cả đám cũng muốn được “ nhàn cư vi bất thiện ” một chút.

Rốt cuộc, trong mấy ngày đó bốn người thăm thú phá phách hết khu thành Tràng An năm xưa. Chiều đói thì xuống mấy nhà thuyền ở bến song Hoàng Long mua gạo mắm muối và rượu về đánh chén. Tiền bạc Lê Hổ mang theo trong người hãy còn nhiều, đủ cho cả bốn ăn uống thả cửa, nên không cần lo lắng chuyện miếng ăn. Chơi chán, tối đến lại mò về động Thiên Tôn ngủ tránh sương tránh gió.

Bốn người du ngoạn Hoa Lư gần nửa tháng, nói chuyện rất hợp ý quên cả trời đất. Mãi đến khi đã lưu dấu chân lên từng viên gạch, mới rủ nhau về.

Tờ mờ sáng…

Đoàn người rồng rắn dắt ngựa xuống bến sông Sào Khê, tìm vào mấy nhà thuyền hỏi xem có đò không. Để đi từ Hoa Lư về Lam Sơn tốt nhất là xuôi theo dòng sông, rồi chuyển qua sông Vân, đến ngã ba sông Vân giao với sông Vạc thì lên bộ đi ngựa tiếp. Đi đường thủy tránh được chốn rừng rú hiểm trở, lại đỡ cái mối nguy gặp phường trộm cướp. Tuy cả bọn không sợ, nhưng dù sao cũng đang thời loạn lạc, tránh được bao nhiêu phiền toái thì hay bấy nhiêu.

Dân chèo đò chốn này hãy còn giữ lại mấy cái bè nứa lớn từ thời Đại Ngu, trước dùng để đưa khách sang sông, hoặc chở nam thanh nữ tú du ngoạn Tràng An kiếm thêm đồng ra đồng vào đắp đổi qua bữa. Giờ đang buổi binh hoang mã loạn, hứng thú đâu mà du ngoạn thưởng cảnh nữa, thế nên mấy cái bè đành vứt xó. Thấy bốn tên thanh niên hỏi mua, chủ bè mừng còn chẳng kịp, dứt khoát bán rẻ quách đi cho rộng nhà rộng cửa.

Lê Hổ dùng bạc đổi hai cái bè lớn, dùng để chở bốn người ba con ngựa. Trần Đĩnh và Ngũ Thư xung phong chèo lái, thoăn thoắt cởi dây chống sào đẩy bè xuôi theo dòng nước.

Lê Thận mang tiếng là ngư phu, nhưng lên bè một cái là lăn ra ngủ say như chết. Trần Đĩnh đi chung một cái bè cùng y, cũng mặc kệ tên đồng môn.

Ngồi trên bè, nhắm mắt lại cảm nhận hơi ẩm mơn man da thịt, nghe tiếng nước róc rách vỗ vào thân nứa trong veo như tiếng sáo ai thổi bên bờ đê. Âu cũng là một loại trải nghiệm mới lạ so với việc cưỡi ngựa rong ruổi.

Gặp dông nước thuận, thế nên bè trôi nửa ngày là đến ngã ba sông Vạc – sông Vân. Bốn người thấy sắc trời đã chuyển sang chiều, bèn ghé bè vào bờ. Phạm Ngũ Thư nghĩ một hồi, bèn chỉ về phía tây, nói:

“ Đằng đó hình như có một ngôi làng cổ, chúng ta đến đó có lẽ sẽ tìm được chỗ nghỉ chân. ”

Bốn người dựa vào võ công của bản thân, dù có ngủ ngoài rừng hoang sông vắng cũng không sợ lắm. Trộm cướp bình thường đâu phải đối thủ của họ? Song nếu tìm được một mái che đầu thì tội gì phải tự bắt mình tắm sương uống gió.

Cách sông không xa có một ngôi làng sống bằng nghề đẽo đá đúc tượng, tên là Ninh Vân.

Bốn người lần mò vào theo hướng tây, xé qua một bãi cỏ cao thì tìm thấy cổng tam quan dẫn vào làng. Ánh nắng tàn lụi buổi hoàng hôn đậu lên mặt đá trắng xanh, bỗng nhiên hóa thành một dải vàng ròng dát khắp cánh cổng. Trời đã sắp tối, ấy thế mà từ cổng làng, cả bốn vẫn có thể nghe thấy âm thanh lục cục của dùi của đẽo hòa lẫn trong cả tiếng bình bịch êm ru của đá vụn rơi xuống nền đất thịt. Khói bếp cuộn xoắn vào những đám mây cuối thu lười nhác, lờ đờ bốc lên nền trời đầu đông thấp lè tè. Có người nói trăng thu là sáng nhất, đặc biệt là trăng cuối thu. Đêm nay, con trăng đặc biệt sáng.

Sân vắng, ánh đèn nhờ nhờ vàng nhạt hắt lên bóng lưng gân guốc của người nghệ nhân già. Hai bàn tay ông cứ thoăn thoắt, đẽo đẽo gọt gọt. Mồ hôi bóng nhẫy tứa ra ướt cả trán, song công cụ trên tay vẫn chẳng chịu dừng lấy một khắc. Chỉ có người ngoài đứng xem là phải ngừng chân, dừng mắt lại trên thứ kiệt tác đang thai nghén. Thậm chí, đến chuyện hít thở cũng phải thư thư lại. Thở chậm thôi, e sợ nếu mình gây tiếng động mạnh quá, người nghệ nhân sẽ bị đánh thức khỏi cơn say đầy thi vị ấy. Lá như cũng không nỡ rơi, gió cũng chẳng muốn thổi nữa. Chỉ có người nghệ nhân là không ngơi tay lấy một chút, các bó cơ trên người cứ lên xuống nhịp nhàng như sóng nước dập dềnh mặt sông Vân.

Giống như thể, công việc này đã hằn sâu vào máu, vào da thịt của người nghệ nhân ấy vậy.

Những công đoạn đẽo, gọt, cắt, mài vốn phức tạp vô cùng, vào bàn tay ông, bỗng trở nên tự nhiên đến lạ. Giống như bản chất nó vốn nên là như vậy, hình dáng đang từ từ rõ nét kia mới là hình hài trời sinh cho tảng đá.

Dần dà, một đóa sen thơm thành hình. Tổng cộng mười tám cánh sen bằng đá ôm lấy một quả đào tiên. Cốt lá mềm mại như sen Long thành, tưởng như có thể vì trĩu năng sương sớm hồ Tây mùa hạ mà rụng xuống bất cứ lúc nào. Mồ hôi người nghệ nhân già rơi lên cánh sen, như phết nên nét bút cuối cùng tạo nên một thiên kiệt tác.

Nháy mắt, giọt mồ hôi hóa thành sương đêm, sen đá biến thành phật liên trong giếng ngọc.

Bấy giờ, người nghệ nhân mới vươn vai, từ từ ngẩng đầu nhìn lên. Thấy bọn Lê Hổ đang đứng sẵn trong sân nhìn thứ mình mới làm, bèn nói:

“ Ấy chết, tôi mải làm quá, các chú đừng trách. Ngồi. Ngồi xuống đây. Đứng đấy mãi làm gì cho đau chân mỏi gối ra? ”

“ Ông không sợ bọn tôi là cái lũ đầu trộm đuôi cướp hay sao? ”Trần Đĩnh cúi đầu, hỏi.

Mặc dù đã che gương mặt bị hủy hoại bằng một lần vải, y vẫn thường thấy tự ti về ngoại hình dị dạng của bản thân.

Ông nghệ nhân già nói:

“ Không. Sợ gì mà sợ? Nếu mấy chú muốn, lúc nãy đã cho tôi bước nốt chân nữa vào quan tài rồi. Với võ nghệ như mấy chú, muốn làm thế lúc nào mà chẳng được, tôi nói có đúng không? ”

“ Ông biết chúng tôi có võ công? ”

Lê Thận hồ nghi.

Hô hấp của nghệ nhân già chẳng khác gì một người bình thường, hình như ông không hề có võ nghệ hay nội lực. Thế thì tại sao lại biết bọn họ là dân giang hồ??

Ông già nhún vai, nói:

“ Có gì khó đâu. Phàm là người học võ, cử chỉ đi đứng nói năng đều có khí độ khác với người thường, tôi nhìn cái là biết ngay. Như đá này vô tri, muốn biết hồn của nó là thứ gì mới là khó. Khó hơn nhìn người nhiều. ”

Bốn người không nén nổi trầm trồ.

Ông nghệ nhân già buộc ngựa vào hàng rào rồi xuống bếp thổi cơm, luộc rau làm mấy món đơn giản, lại lấy hũ cà muối ra. Bốn người ăn bữa cơm đạm bạc với nhau, cà muối giòn rất đưa cơm, mỗi người ăn ba bốn bát liền. Chẳng mấy mà bung cơm to bự đã thấy đáy. Song ông nghệ nhân già cũng chẳng tỏ vẻ gì, lại kiếm mấy củ sắn luộc lên chấm muối.

Phạm Ngũ Thư nấu nước, pha ấm chè xanh lên, định thưởng trăng rồi mới ngủ. Chợt thấy trong buồng của người nghệ nhân già có một cặp câu đối ghi trên giấy điều, nhưng không dán lên tường mà gấp để trong gậm giường.

Y mới ngỏ ý:

“ Cụ cũng thích thơ văn sao? Con cũng biết vài chữ, có thể cho con mượn đôi câu đối kia tham khảo được không? ”
Ông già nghệ nhân nói:

“ Ấy không phải câu đối đâu. Ài… Tôi ước gì mình viết sai còn không được. Thôi anh cứ lấy ra đây vậy. ”

Phạm Ngũ Thư lấy đôi câu đối ra, trải lên bàn cho mọi người cùng xem. Nét bút cứng cáp nhưng phong vận giản dị bình thường, rõ ràng người viết không thạo món thư pháp lắm. Lạc khoản đề ngày mùng hai tháng giêng, năm Khai Đại thứ tư.

Đôi câu đối này viết trước khi quân Minh dẫn Trần Thiêm Bình tràn sang.

Còn nội dung của nó là:

Kỳ La hải khẩu ngâm hồn đoạn,

Cao Vọng sơn đầu khách tứ sầu.

Nghĩa là:

Kỳ La cửa biển hồn thơ dứt,

Cao Vọng đầu non dạ khách buồn.

Lê Hổ ngẫm kỹ nghĩa của hai câu đối, sau đó giật mình. Cao Vọng là nơi vua Hồ Hán Thương – Khai Đại đế - trầm mình tự vẫn. Còn cửa Kỳ La là nơi Hồ Quý Li bị bắt.

Hai câu đối này trông có vẻ đơn giản, thủ pháp không quá đặc sắc, cũng không đối nhau chan chát. Nhưng hóa ra nó lại là lời sấm tiên tri, báo trước sự diệt vong của nước Đại Ngu.

Phạm Ngũ Thư nói:

“ Không ngờ ông lại có tài tiên tri. Bội phục, bội phục. ”

Người nghệ nhân già thở dài, than rằng:

“ Đất có hồn thiêng, đá có phách thần. Triều đại hưng thịnh, suy vong đều do khí số. Mà riêng chuyện khí số triều đại, còn ai rõ hơn đất nước nữa? ”

Nói đoạn, ông đột nhiên chạy ra ngoài sân, lấy dùi với đục đẽo liên tục vào bông sen đá mới tạc. Cả bốn người chẳng rõ đầu cua tai nheo thế nào, xong cũng theo ra ngoài, lấy đuốc soi cho ông.

Người nghệ nhân già khắc nhoáng một cái, đài sen đã có thêm bốn chữ: “ Liên diệp thác đào ”. Ông làm xong đâu đấy, mới ngồi phịch xuống đất, mồ hôi tứa ra như tắm, mặt mũi lúc trắng lúc xanh.

Bốn người kia thấy sự lạ, đang định đỡ ông dậy, thì ông gạt ngay:

“ Không được. Mấy cậu đi nhanh đi, không là không kịp. ”

“ Bác nói gì chúng cháu không hiểu?? ”

Người nghệ nhân già có vẻ gấp gáp lắm rồi, ông thở hổn hển, chòm râu trắng như cước tựa hồ muốn dựng ngược lên.

“ Trời ơi. Tôi nói thì các cậu cứ nghe đi. Mau. Mau chạy đi. Đêm nay chớ có dừng lại ở đâu cả. Mang cả nó theo. Mau! Đi mau! ”

Chương 119: Hồi mười sáu (2)

Ông vừa nói, vừa đẩy cả bốn ra phía cổng.

Trần Đĩnh bĩu môi, nói:

“ Rõ ràng là không muốn cho chúng ta tá túc đêm nay, cứ phải tỏ ra thần thần bí bí. Lại còn câu đối, sấm truyền gì gì đó. Tưởng chúng ta là trẻ con dễ lừa lắm chắc? ”

Phạm Ngũ Thư vỗ vai, khuyên:

“ Thôi, người ta đã thết đãi mình chuyện ăn uống rồi, không nên nói như thế. ”

Lê Thận thì chỉ nhún vai. Đi hay ở đối với y không quan trọng lắm.

Riêng Lê Hổ cứ mải nghĩ đến bốn chữ khắc trên đài sen.

Liên Diệp Thác Đào, tức là lá sen ôm trái đào. Là tả thực, không phải sao? Hay còn có ẩn ý gì khác? Bản thân Lê Hổ cũng không dám chắc, nên cứ trăn trở từ bấy đến giờ.

Cũng vì chuyện này, mà khi mấy người kia khuyên bỏ quách đài sen lại bên đường, Lê Hổ vẫn nhất quyết cõng theo.

Bốn người cứ theo hướng nam, ra khỏi khu làng, tìm đến một cánh rừng rậm.

“ Xem ra đêm nay lấy đất làm giường, lấy lá làm chăn, nghỉ ngơi một đêm cho lại sức trước. Mai hẵng tính đến chuyện trở về Lam Sơn. ”

Cả Trần Đĩnh lẫn Lê Thận đều không phản đối đề nghị của Phạm Ngũ Thư. Chỉ riêng Lê Hổ là nói:

“ Có lẽ nên đi suốt đêm nay. ”

Lê Thận cười:

“ Mỗ còn tưởng cậu là hạng chọc trời khuấy nước, ra lại nhát cáy, sợ mấy chiêu trò mê tín vớ vẩn này hả? ”

Hai người Phạm Ngũ Thư, Trần Đĩnh tuy không nói gì, nhưng ánh mắt của họ chứng tỏ cả hai có cùng nghi vấn với Thận.

Lê Hổ đáp:

“ Có thờ có thiêng, có kiêng có lành mà. Về Thanh Hóa sớm, một là tránh đêm dài lắm mộng. Hai là tôi ra ngoài cũng đã lâu, có lẽ mẹ già ở nhà cũng lo sốt vó lên rồi đấy. ”

Trần Đĩnh mới nhập bọn, không cảm thấy lời nói của Lê Hổ có gì khả nghi. Song Phạm Ngũ Thư thay Lê Học chăm sóc cậu chàng từ nhỏ đến lớn, biết chủ công của mình đang nói dối.

Ngày còn bé tí, Lê Hổ đã theo anh trai lang bạt lên tận kinh thành, ở Thăng Long nửa năm trời không gửi về lấy một lá thư. Thử hỏi lần này thì có gì mà phải lo lắng. Lê Hổ đang lấy cớ, muốn cả bốn nghe theo lời người nghệ nhân đẽo đá. Nhưng vì sao??

Cà rộp! Cà rộp! Cà rộp!…

Bốn người đang phân vân không biết nên đi hay đừng, thì phía sau đột nhiên truyền đến tiếng vó ngựa.

“ Chúng nó chỉ ở quanh đây thôi, tìm mau lên! ”

Lửa bắt đầu bốc lên ngùn ngụt, tiếng la hét quện trong tiếng khóc than bật lên sau lưng cơ hồ muốn át cả tiếng nhạc ngựa nện côm cốp trên mặt đất. Bốn người cùng ngoái đầu nhìn, thì thấy làng Ninh Vân đã ngập trong lưỡi lửa và ánh đao bóng kiếm.

Một toán tàn quân hớt hải chạy lại từ phía sau. Nhìn cách võ trang đơn sơ, giáp không có lấy một mẩu, vũ khí thì cứ cùn vẹt đi là bốn người biết ngay ấy không phải quân Minh, mà là quân dấy nghĩa.

Trời tối, trăng mờ, không nhìn rõ mặt mũi. Song trong mấy tháng gần đây lộ nghĩa quân nào mới khởi binh, lại ở gần Hoa Lư, có lẽ chỉ có nghĩa quân của Trần Ngỗi ở Mô Độ mà thôi.

Lê Hổ trông thấy bóng tàn quân từ đằng xa, bỗng nhiên nghĩ đến chuyện gì đó, thế là giật mình làm đoá sen đá tuột khỏi tay rơi xuống đất.

Người đi đầu tóc rối bù như gà bới, bước đi loạng choạng, vai và chân đều trúng tên sâu đến một tấc. Máu rịn ra thấm đầy kheo chân.“ Mấy người đi trước xin dừng bước! ”

Nhác thấy bóng bốn người họ từ xa, y bèn đưa tay ra, lên tiếng gọi. Tất nhiên là không dám cao giọng lớn tiếng vì sợ truy binh nghe thấy.

“ Nghe giọng thì hình như là Trần Ngỗi. ”

“ Nhật Nam vương? Sao đã đến nông nỗi này rồi? ”

“ Không biết, nhưng cứ chờ xem sao. ”

Bốn người nhìn nhau, rồi quyết định thả chậm bước chân chờ.

Họ cũng muốn biết vì sao mới có nửa tháng trời mà nghĩa binh của Trần Ngỗi đã bị đánh cho thua tan tác đến mức này.

Nhưng trước phải kể tiếp chuyện của Tạng Cẩu đã.

Tửu Thôn Đồng Tử nghe thằng nhóc nói mỉa mình, thì chỉ cười khẩy một cái. Tạng Cẩu có tư cách biết tên hắn, không đồng nghĩa với việc nó đủ tư cách làm hắn động nộ, càng không có nghĩa là nó đủ tư cách chết dưới đao của hắn.

Hắn coi thằng nhãi là không khí, rồi hướng ánh mắt về phía thiền sư Tuệ Tĩnh:

“ Kính chào ngài, đại y thiền sư. ”

“ Quỷ vương, ngươi không ở Đại Giang sơn xứ Phù Tang làm vua làm chúa cho sướng thân ngươi, chạy đến Kim Lăng làm gì? ”

Tuệ Tĩnh thiền sư biết mục đích của Tửu Thôn.

Thứ hắn nhắm vào chính là bức vẽ pháo Thần Cơ và thuyền Cổ Lâu.

Nhưng tại sao hắn lại biết đến chúng??? Chiến tranh giữa Đại Ngu với Đại Minh nổ ra ở trời nam đất Việt, cách đảo quốc Phù Tang có lẽ phải đến cả mấy ngàn dặm đường biển. Cách trở muôn trùng như thế, đáng lẽ gã phải không hay biết gì về Thần Cơ sang pháo mới phải.

Tuệ Tĩnh thiền sư nghĩ ngay đến một khả năng.Trong quân Đại Minh có nội gián, nhưng không phải do Đại Ngu cài vào.

Tửu Thôn khoanh tay, ôm đao vào ngực, chậm rãi nói:

“ Đại y thiền sư nổi danh là y thuật cao minh, có tấm lòng bồ tát. Gặp đúng lúc Đại Giang sơn của ta có quái dịch hoành hành, không biết có thể mời ngài quá bộ một chuyến không? ”

Tuệ Tĩnh đứng dậy. Trước là chỉnh trang lại áo sống tóc tai, rồi mới chậm rãi đáp:

“ Chuyện này là lẽ đương nhiên. Người ta vẫn nói là thà tin là có chứ không tin là không. Phật cũng dạy “ ta không vào địa ngục thì ai vào? ”. Chuyện sang Phù Tang tôi chẳng từ nan.

Tuy nhiên quỷ vương phải biết một điều trước, y thuật của lão gọi là nam dược trị nam nhân. Còn như đối với người xứ khác, lão không biết dùng thuốc, mà phải dùng độc.

Đến lúc về đến Đại Giang sơn của ngài, bệnh không có mà trị, bần tăng sẽ rất là bứt rứt. Khi ấy rất có thể sẽ tìm đến thượng nguồn mấy con suối con lạch trong rừng để mà phát tiết cũng không chừng. ”

Tửu Thôn nghe vậy, không khỏi nhíu mày.

Tuệ Tĩnh lại nói tiếp:

“ Độc của bần tăng chẳng đáng gì, vài năm nước chảy đá mòn là tự sẽ hết. Trong thời gian đó rủi mà tiểu yêu tiểu quỷ dưới trướng ngài trúng phải, tôi sẽ cứu chữa ngay. Tuy nhiên chữa thành ngu si đần độn hay điên điên rồ rồ thì phải tuỳ vào duyên số. Lại nghĩ Đại Giang sơn vốn làm toàn những chuyện tốt đẹp, ắt có trời phật phù hộ. Đại vương chớ lo quá. ”

Đại Giang sơn vốn là tên một ngọn núi hiểm trở ở Phù Tang, nay là đất Nhật Bản. Song chẳng được như núi thánh Phú Sĩ, nó được biết đến là sào huyệt của một trong ba đại yêu quái tà ác khét tiếng trong lịch sử đảo quốc Phù Tang là Tửu Thôn Đồng Tử. Tất nhiên, ấy là truyền thuyết dân gian. Thực tế, trên Đại Giang sơn có một đảng cướp lớn, phát triển đến nay đã vài trăm năm, cơ hồ trở thành lãnh chúa một vùng.

Các đời thiên hoàng Phù Tang bấy giờ vẫn coi nơi này là cái gai trong mắt, nhiều lần cử người tài dẫn quân tới đánh. Ngặt nỗi địa thế Đại Giang Sơn hiểm trở như tường đồng vách sắt, dễ thủ khó công đã đành, đảng cướp phát triển mấy đời vua đã đông tới vài nghìn tên, lại có tổ chức đàng hoàng khác hẳn đám thổ phỉ binh thường.

Còn đầu lĩnh của chúng chính là Tửu Thôn Đồng Tử này đây.

“ Xem ra Đại Giang sơn không có phúc được thiền sư phục vụ rồi. ”

Gã quái nhân chặc lưỡi, đoạn gác đao lên vai, rồi tiếp:

“ Tuy nhiên hôm nay Tửu Thôn này đã tha cho ba người các ngươi được sống, sau này tất nhiên sẽ đến đòi nợ. ”

Lúc này, y mới nhìn Tạng Cẩu.

“ Hi vọng khi đó nhãi ranh nhà ngươi đã có tư cách chết dưới Trảm Quỷ đao. ”

Lời nói ngông cuồng như hãy còn vương lại căn phòng, song bóng người thì đã mất hút ngoài khung cửa từ lúc nào. Trong ánh trăng xa xa lúc mờ khi tỏ, lất phất một tà áo đỏ rực.

“ Cẩu, con dìu Phiêu Hương về phòng nghỉ ngơi trước đi. Chỗ này giường chiếu bị đánh sập cả rồi, không tiện ở lại. ”

Tạng Cẩu chậm rãi đỡ cô bé dậy đi vài bước, mới sực nhớ:

“ Thế còn chuyện của thánh tổ thì sao? Vẫn chưa có manh mối gì cơ mà?? Nay con mà bỏ đi, thì mai đã hết thời hạn ba ngày rồi! Biết bao giờ mới giải được bí mật của chìa khoá Loa Thành?? ”

Thấy nó tuôn một tràng, thiền sư cũng chỉ biết thở dài, im lặng không đáp.

Tuổi trẻ mà. Bỏ ăn bỏ uống, quên ngủ quên nghỉ ba ngày ba đêm để rồi trắng tay, khó chịu lắm chứ.

[ Lẽ nào sức người có hạn, sỏi đá chẳng thể thành cơm? ]

Chương 120: Hồi mười sáu (3)

Tạng Cẩu cứ ngồi chờ, chăm chú nhìn ông thiền sư.

Rốt cuộc, thiền sư Tuệ Tĩnh nói:

“ Con cứ đưa bạn về nghỉ ngơi trước, kẻo vết thương lại chuyển xấu. Còn một đêm nữa, ông sẽ cố một mình. ”

“ Sách nhiều như thế này, làm sao một mình ông đọc hết cho nổi? Để con đưa Hương về, rồi quay lại đây. Thầy con là Quận Gió, con đi nhanh lắm… ”

Tạng Cẩu loay hoay cõng bạn lên, rồi bước về phía cửa.

Thiền sư Tuệ Tĩnh thở dài, đành phải nói thẳng:

“ Đâu có dễ dàng thế? Hôm nay Minh thành tổ bị ám sát hụt, giờ cả hoàng cung đang giới nghiêm, canh phòng rất gắt. Con đi ra khỏi đây có khi còn khó, huống gì là quay trở lại?? ”

“ Nhưng… ”

Tạng Cẩu trộm nghĩ: [ Vua Minh bị ám sát, chắc là để cướp bản vẽ rồi. Chứng tỏ bác Trừng không sao, chỉ có Phiêu Hương là hơi đáng ngại. Nhưng mình cứ vừa đọc vừa dùng nội lực bảo vệ, ắt giữ được tính mạng. Cùng lắm là chữa thêm mấy lần nữa. ]

Nó chưa kịp nói những gì đang nghĩ ra thành lời, thì Tuệ Tĩnh thiền sư đã cắt ngang:

“ Mạng người quan trọng. Có lẽ đây là ý của thánh tổ. Huống hồ con chưa sõi mặt chữ, ở lại cũng không giúp được nhiều. Con đi mau đi. ”

Tạng Cẩu nghe, biết ông có lí, chỉ đành cụp đầu xuống lách mình ra khỏi Ngự Thư phòng.

Với khinh công và nội lực của nó, cõng Phiêu Hương về phòng nghỉ ngơi chắc chắn không thành vấn đề.

Tuệ Tĩnh thiền sư bước ra ngoài, Ngự Thư Phòng vắng tanh vắng ngắt này chẳng mấy nữa sẽ lố nhố không biết bao nhiêu cấm quân, cẩm y vệ.

Chỉ cần tin tức Lý công công giả truyền ra ngoài, Chu Đệ ắt sẽ cho binh mã vây bủa chốn này, e là con kiến cũng không lọt nổi ra ngoài.

Cái xác không hồn còn kia, nhưng bản vẽ chẳng thấy đâu. Tuệ Tĩnh thiền sư e là khó tránh khỏi liên can.

Song…

Ông chậm rãi quay vào, lặng lẽ ngồi xuống bên chồng sách vở.

Sách vở về cuộc bắc tiến của thánh tổ Khổng Lồ - Lý quốc sư Nguyễn Minh Không – chính bản thân Tuệ Tĩnh thiền sư cũng tìm mỏi mắt mấy năm ròng rã, Tống sử Nguyên sử tìm về chất đầy chật cả nhà. Tiếc là không có manh mối gì, thậm chí chẳng biết phải bắt đầu từ đâu.

Bản lưu trữ trong Ngự Thư Phòng, quả như ông nghĩ, được chép đầy đủ cẩn thận hơn những bản lưu truyền trong dân gian nhiều. Song… cái tên Nguyễn Minh Không huyền thoại vẫn như đá chìm đáy biển, kim chui trong bọc. Tìm mãi, tìm mãi đến mòn đôi mắt díp hàng mi, mà vẫn không thấy tăm hơi.

Đêm không đèn, nhưng trăng sáng soi xuống qua cửa sổ, rọi lên vai ông thiền sư già cỗi.

Tuệ Tĩnh thiền sư vừa lần từng dòng chữ, tìm kiếm cái tên Nguyễn Minh Không trong vô vọng, vừa thầm nhủ.

[ Có lẽ cũng nên đi rồi. Xác này đành học Lý Ông Trọng bỏ lại nơi đất khách vậy. ]

Hối hận? Tiếc nuối? Phàm là người, sinh ra đã có những cảm xúc này. Bản thân Tuệ Tĩnh thiền sư cũng không phải là chưa từng hối tiếc, chính trong lúc này ông cũng đang tiếc nuối đây, chỉ là không thừa nhận.

Đời người chỉ cầu không hối hận… lí nào khó đạt thành đến thế ư?

Cốc. Cốc.

Tiếng gõ cửa.

Dòng suy nghĩ của ông thiền sư bị âm thanh bất ngờ ấy cắt ngang. Lòng mang hồ nghi, Tuệ Tĩnh thiền sư đứng dậy, đi ra phía cửa.Cánh cửa được mở hé, thiếu phụ sắc mặt tái xanh tái trắng đã đứng bên ngoài chờ. Cứ nhìn xiêm áo lụa là gấm vóc, trang sức ngọc quý vàng ròng trên thân, lại thêm khí chất đường hoàng trang trọng là đủ thấy thân phận bà ta tôn quý đến mức nào.

“ Thiền sư không nhận ra ta sao? Ta chính là Huệ thục phi. ”

“ Ra là quý phi. Bần tăng thất lễ rồi. ”

Tuệ Tĩnh thiền sư vái chào, không quên khép cửa lại. Mùi tanh nồng của máu và huyết khí không tốt cho người bị thương mới khỏi.

Lúc ấy ông chỉ mải cứu người, thậm chí không có thời gian xem kỹ Huệ Thục phi trông ra làm sao, chỉ biết là vợ của hoàng đế. Huệ Thục phi khẽ nhún mình trả lễ. Chỉ một động tác đơn giản thế thôi cũng khiến bà loạng choạng muốn ngã sõng soài ra đất, thiền sư Tuệ Tĩnh phải dùng tay giữ lại. Ông lại dùng chút chân khí mới hồi phục kiểm tra bắt mạch cho, thấy quả nhiên là thương thế hồi sáng của Huệ Thục phi còn chưa lành hẳn.

Huệ Thục phi nói:

“ Thiền sư là ân nhân của bản cung, bản cung phải hành lễ với ngài mới đủ đáp đền ơn tái tạo. Nhận lễ của ngài thất đức lắm.”

“ Trị bệnh cứu người vốn là trách nhiệm của người học y, quý phi chớ để trong lòng. Huống gì bây giờ ngọc thể còn bất an, xin đừng lễ tạ gì cả. ”

“ Đại sư nói phải, bản cung mà ngã ra đây nữa, lại phải làm phiền đại sư ra tay cứu chữa. Chỉ có chút lòng thành, mong đại sư nhận cho. ”

Huệ Thục phi đáp, đoạn tự mình tháo miếng hương ngọc ở thắt lưng xuống, đưa tặng.

Tuệ Tĩnh thiền sư vốn dĩ muốn từ tạ, chợt phát hiện trên miếng ngọc thơm có khắc một chữ “ Dương ”, thành thử giọng ông gấp gáp hẳn lên:

“ Quý phi họ Dương? ”

“ Đúng vậy. Bản cung vẫn biết đại sư chẳng để tiền tài binh thường vào mắt, thế nên mới kinh tặng miếng ngọc gia bảo này, coi như là vật đi thay người. ”

Tuệ Tĩnh thiền sư hiển nhiên chẳng thể vì miếng ngọc này mà bận lòng. Nếu không, chỉ cần một cái gật đầu chấp thuận ra làm quan của ông, Chu Đệ sẽ ban thưởng gấp trăm gấp ngàn.

Mà Huệ Thục phi, thân là quý phi của hoàng đế, châu báu lụa là có thiếu gì? Nếu đã mang miếng ngọc này kinh tặng, ắt là kỷ vật vô giá. Mà phàm những thứ liên can đến ký ức thân nhân, giá trị không phải tiền bạc có thể đo được.

“ À. Chẳng là họ của quý phi khiến bần tăng nhớ đến một người, có lẽ có thể giúp đỡ bần tăng trị bệnh nan y. ”“ Nếu thế bản cung không phiền đại sư nữa. Hồi cung. ”

Đợi đoàn người đi khỏi, thiền sư Tuệ Tĩnh hăm hở quay trở vào Ngự Thư phòng. Nhìn ông guồng chân, nhịp bước càng lúc càng nhanh, tưởng như tiếc nuối từng giây từng phút… Kể cũng lạ. Nếu như lúc này lưng ông quay về phía cửa Ngự Thư Phòng, thì còn dễ hiểu. Trong phòng còn cái xác của Lý công công giả, mà bản vẽ Thần Cơ sang pháo đã chẳng còn tăm hơi. Thiền sư Tuệ Tĩnh muốn không bị liên quan, e cũng khó. Song bấy giờ thị vệ hãy còn chưa quay lại, nếu ông nhanh chân trốn khỏi cung, có lẽ sẽ tránh được chuyện đầu rơi máu chảy, xác vùi đất khách.

Thiền sư đã ngồi xuống bên chồng sách.

Mắt ông bất giác nhìn về phương nam, ngoài cửa sổ, bóng trăng chếch chéo, dương liễu lất phất trong gió đêm.

Xa, rất xa, xa hơn cả những đám mây…

Là giếng nước đầu làng, là gốc đa cuối xóm, là láng giếng tắt đèn tối lửa, là hàng xóm hôm sớm có nhau.

Là quá khứ xa xăm, là tuổi thơ trong trẻo.

Là quê hương.

Trong một khắc ngắn ngủi ấy, Tuệ Tĩnh thiền sư rốt cuộc cũng phát hiện, thì ra bản thân vẫn còn biết hối hận, biết tiếc nuối.

Kể cũng lạ…

[ Đời người chẳng phải chỉ cầu không hối hận hay sao?? Mình sống một đời này hành y tế thế, cứu người không phải ít, chẳng có gì phải hối tiếc. Cớ sao lúc này vẫn không thể đi nhẹ tựa lông hồng được?? ]

Tuệ Tĩnh thiền sư trầm tư, mắt vẫn lướt theo những dòng chữ trên sách sử kiếm tìm một cái tên.

Chuyện Huệ Thục phi họ Dương khiến ông bất giác nhớ đến chuyện cũ, xảy ra cách đây cũng nửa thế kỷ rồi.

Ông nhớ về truyền kỳ mình vẫn thường hay được người ta kể cho nghe khi còn ở Đại Việt, lênh đênh trên dòng sông Hoàng giang chốn cố đô Hoa Lư, dưới bóng râm của những lớp tường thành Tràng An.

Thế rồi…

Cũng nhanh như lúc ông phát hiện ra thứ mình đang kiếm tìm, đáp án cho câu hỏi trong đầu bỗng hiện ra ngay trước mắt.

“ Không hối không oán, chữ “ không ” ấy phải chăng cũng là một dạng chấp nhất đấy ư? Người ta sinh ra biết yêu biết hận, biết hối biết tiếc âu cũng là lẽ thường tình? Thế thì vị tất phải chối bỏ chúng? Chung quy cái thứ tình cảm này, là sóng dữ đánh chìm thuyền to, hay nước lành đẩy bè con đến bờ cực lạc… cuối cùng vẫn phải do bản thân mình.

Chấp nhận mới thực sự là buông bỏ, chẳng phải vậy hay sao? ”

Thiền sư lẩm bẩm thật khẽ, thở hắt ra một hơi, lưng tựa lên dải trăng in vào cửa sổ. Lúc này trông ông chẳng còn cái vẻ phờ phạc vì mất sức hồi nãy, mà sáng láng tự nhiên lắm. Da xanh mặt tái, cũng không thắng được cái thần thái trong đôi mắt đang sáng trong như trăng rằm, sâu thẳm như chứa cả thiên hà.

Có lẽ…

Xét cho cùng, lời nói: “ Đời này chỉ cầu không hối hận ”, chẳng qua là một câu sáo rỗng.

Kẻ dũng cảm nhất không phải kẻ không sợ gì, mà là kẻ biết chấp nhận nỗi sợ như một phần tất yếu của bản thân, đối mặt và biết vượt qua nó.

Sợ hãi và tiếc nuối, có lẽ thực tế cũng chẳng khác nhau là mấy.

Bang!!

Cửa Ngự Thư Phòng bị đánh mở toang.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau