THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 111 - Chương 115

Chương 111: Hồi mười lăm (1)

Hồi mười lăm

Tại cố đô Ngũ Thư giải oán

Nơi cung cấm Tuệ Tĩnh ra tay

Nhắc lại chuyện hai người Lê Thận, Lê Hổ đến Hoa Lư, bất ngờ gặp được Trần Đĩnh.

Lê Hổ múa hổ đầu đao, hai mắt long lên sòng sọc như muốn giết người. Nói đoạn, cậu nhảy vút sang một bước, đưa tay khảm một đao ngang mặt Trần Đĩnh.

Đao nhận xé gió nghe phần phật, kình lực dồn lên đầu lưỡi đao cương liệt mười phần.

Đao này Lê Hổ bổ ra, hoàn toàn không giữ lại nửa phần công lực hộ thân. Hoặc là kẻ thù chết, hoặc là cậu ta vong.

Đao hạ bất lưu nhân.

Quái nhân từ từ ngẩng gương mặt chằng chịt sẹo ngang sẹo dọc, trong ánh mắt mù mịt vẻ ngơ ngác. Mái tóc nhuốm sương phủ xuống đôi vai rạm nắng, con sói cô độc sống không quá khứ chẳng tính danh suốt chín tháng qua bỗng ngẩng đầu hú dài.

Hai tiếng Trần Đĩnh như chọc vào vết thương cũ của nó.

“ Xuân! Xuân ơi!! Aaaaaaaa! ”

Trần Đĩnh gào lên.

Hắn vung kiếm lên toan đâm ra trước, với một cách liều lĩnh và điên loạn, giống như chẳng thiết mạng sống.

Hai con dã thú hung hăng lao vào nhau trong cơn say máu cuồng điên, lí trí bị thù hận che mờ.

Đao chém, kiếm đâm, tiếng thép rít gào chói tai bật lên khô không khốc. Bụi đất tung mịt mù, kình phong tạt ào ạt như hoà cùng điệu múa cuồng điên của kim loại.

Trần Đĩnh bị khảm trúng một đao ngay vai, nhiệt huyết tứa ra tung toé. Lưỡi đao nhuộm màu máu nóng, phản chiếu ánh dương lập loè đỏ rực lên. Nhưng họ Trần cũng biến chiêu như chớp, thọc cho Lê Hổ một nhát nặng ngay phần eo. Đòn phản công chớp nhoáng, lưỡi kiếm sắc lẻm tiện đứt da đâm toác thịt, máu đào nhuộm ướt đầm đìa cả một bên ống quần.

Hai người cứ đổ lộn vào nhau mà đánh, hai đầu vai chỉ cách nhau vừa tầm hai cánh tay. Chẳng ai thèm trở ngược binh khí về phòng thủ, bởi quay mũi kiếm đầu đao mà lui bước là chết.

Lê Thận đứng ngoài quan sát, phát hiện chiêu số của Trần Đĩnh mặc dù chẳng thành chương thành pháp, song nội lực hùng hậu hàm súc, biến hoá lại tinh kì. Còn Lê Hổ chỉ biết đâm đầu vào khảm, theo cái kiểu chịu đấm ăn xôi. Nhưng trong lúc này, ấy lại là đấu pháp tốt nhất.

Nội lực Lê Hổ thua kém, chiêu số cũng bình bình không lấy gì làm tinh diệu. Nếu như đánh nhau công bình, cậu có mười cái mạng cũng phải chết chín.

Thế nên cậu đánh liều dùng đấu pháp liều mạng, một đao đổi một kiếm. Thế nhưng thần trí Trần Đĩnh đang hỗn loạn, hầu như là đánh theo bản năng, thế nên đấu pháp chịu đấm ăn xôi của Lê Hổ khiến hắn cũng phải ăn trái đắng.

Lê Thận nghĩ thầm:

[ Hai người này có oán cừu không cạn với nhau, có lẽ mình không nên can thiệp vào. ]

Mới nghĩ đến đây Trần Đĩnh bỗng ngửa đầu gầm lên một tiếng, chân điểm hai phát bật nhanh về phía sau. Khoảng cách giữa y với Lê Hổ bị dãn ra trong nháy mắt.

Lê Hổ nghiến răng, dẫu biết khinh công yếu hơn, vẫn nghênh đao đuổi theo. Thù sâu như biển, nay kẻ thủ ác đứng ngay trước mặt, bỏ qua thì phải chờ đến bao giờ.

Lê Thận nheo mắt, chợt thấy vai Trần Đĩnh hơi máy động, gươm trong tay nhẹ nhàng xoay nghiêng một chút. Mặt gươm hướng về phía Lê Hổ. Biết có chuyện chẳng lành, y hô to:

“ Hồi mã thương! Đừng đuổi. ”

Nhưng đã quá muộn.

Trần Đĩnh tung mình, xoay tròn một vòng ngay giữa bán không. Lưỡi kiếm trong tay y bất thần vạch ra, hoạ nên giữa nền trời một vầng trăng khuyết.

Ánh kiếm vằng vặc, ma mị và huyễn lệ loáng lên trước mặt, khiến Lê Hổ ngây cả người.

Trong đời mình, cậu chưa bao giờ được thấy một bóng kiếm nào mê hoặc đến thế. Ánh mắt chẳng hiểu vì sao không thể du di khỏi mũi kiếm càng lúc càng hiện rõ dù chỉ một khoảng bằng nửa cái móng tay.

Rồi lưỡi sắc nhọt hoắt vẩy đến ngang mặt, nước thép lạnh toát khiến giọt mồ hôi đọng nơi chóp mũi cậu run lên rời hững hờ đậu lên mũi kiếm. Tóc trên đầu loạt xoạt run lên vì gió thoảng, một hơi sợi rụng xuống lưới kiếm. Không một âm thanh, sợi tóc nhẹ nhàng lìa làm hai đoạn.

Kengggg!!!

Tiếng động giòn tan, khô khốc vang lên đẩy bật Lê Hổ khỏi vòng mị hoặc của chiêu kiếm hoa lệ. Lúc này đây cậu mới thấy lưng mình ướt đẫm, lạnh toát. Hai chân cậu bắt đầu nhũn ra như cọng bún, vô lực ngã quỵ xuống.


Máu nguội lại, đầu lạnh đi, cậu mới thấy lằn ranh sinh tử kia còn mảnh hơn sợi tóc bị chém đứt.

Mũi kiếm bị vật nặng đánh trúng, lui về sau nửa xích.

Nếu không, đầu Lê Hổ e là đã bị chẻ làm hai nửa, như cách người ta bổ một quả dưa hấu.

Leng keng.
Quả cau sắt rơi lên nền đá rêu phong, lăn xuống đụng vào đầu ngón chân của Trần Đĩnh.

Lê Hổ biết Lê Thận vừa mới phát chiêu cứu mạng mình, không khỏi thở phào. Lúc này tim đập binh binh như muốn nhảy khỏi lồng ngực, khiến cậu ú ớ chẳng nói nổi tiếng nào.

Lê Thận không nói không rằng, quắc mắt nhìn về phía Trần Đĩnh:

“ Chiêu này là bóng trăng Tây Hồ. Anh với Khiếu Hoá Tăng có quan hệ gì!!!??? ”

“ Trầu sát nhân. Cau đả huyệt. Độc trắng, máu đỏ. Ám khí trầu không à. Té ra là đồng môn. ”

Trần Đĩnh cất tiếng.

Thanh âm hắn khàn đặc, nghe như nghẹt lại một nửa ở cổ họng.

“ Sao lại đến nông nỗi này? ”

Lê Thận thở dài.

Chuyện hôm nay, xem ra y không quản không được.

Một bên là bằng hữu bạn bè như chim liền cánh cây liền cành, một bên là đồng môn chung thầy khác nào gà cùng một mẹ.

Y vực Lê Hổ dậy, nói khẽ vào tai cậu.

“ Nể mặt mỗ, tạm thời đừng có chém giết đấu đá gì vội. Oán cừu ân nghĩa gì để ba mặt một lời rồi sau giải quyết. ”

Lê Hổ thở dài, tra đao vào vỏ, tự hiểu rằng mình có cố cũng không đấu nổi kẻ thù. Nếu không phải vừa nãy có Lê Thận ra tay tương trợ, cậu đã hồn lìa khỏi xác từ lâu rồi.

Trần Đĩnh thấy vậy, cũng cất kiếm đi. Song biểu cảm hãy còn vương chút mê mang, như người ta hay thất hồn lạc phách sau một giấc mơ dài chân thật.

Lê Hổ nói:

“ Gần đây có động Thiên Tôn, vốn là nơi Đinh Tiên Hoàng hạ lễ cầu đảo trước khi dẹp yên mười hai sứ quân. Không bằng ta vào đấy ngồi một lúc. ”

Lê Thận nhìn Trần Đĩnh một cái, gật đầu ra hiệu có thể tin tưởng Lê Hổ.

Ba người bấy giờ mới rồng rắn kéo nhau vào động.

Cổng vào động Thiên Tôn cũng có đặt tam quan như bao ngôi chùa, ngôi đền đất Việt khác.

Bên cạnh cổng tam quan có một cây sấu già.

Lê Hổ hằm hằm đi tới, lấy đao đào gốc sấu lên.

Bên dưới, cạnh bộ rễ sần sùi chắc khoẻ chôn hai hũ rượu đế, còn có cái tên dân dã là quốc lủi.Ba người kiếm một chỗ bằng phẳng mà ngồi xuống. Nền động mát rượi còn hơn cả sập gụ, phản quý trong nhà bá hộ đón lấy da thịt ba người.

Lê Hổ khui nắp, rồi ba người cứ thế dốc ngược hũ rượu mà tu. Rượu mạnh cay cay, nhưng đồng thời lại có vị ngọt thơm nồng lan toả trong khoang miệng và từng tấc lưỡi.

Rượu qua vài chén, lưỡi cũng trơn hơn.

Lúc này Lê Thận mới hỏi Trần Đĩnh:

“ Rốt cuộc là có chuyện gì? Sao lại ra nông nỗi này? ”

Trần Đĩnh cúi đầu, nhìn hũ rượu đã vơi một nửa, lòng ngổn ngang như trăm mối tơ vò. Y chẳng thà quên đi, quên hết thảy, để dòng ký ức hoà vào rượu trôi xuống bụng.

Như thế sẽ không thắt vào tim y nữa.

Thấy tâm trạng y nặng nề như thế, Lê Thận cũng không tiện nói gì.

Mất một lúc sau, khi hai người Lê Hổ bắt đầu hết kiên nhẫn, y mới è è lên tiếng:

“ Chuyện là như vậy. ”

Trở lại nửa năm trước.

Trần Đĩnh chém đầu Hồ Đỗ xong, như hoá điên hoá dại chạy khỏi Hàm Tử quan. Y lại vô thức lấy tay tự cào nát khuôn mặt trông chẳng còn ra hình thù, những tưởng dùng đau đớn trên thân mình xoa dịu đi cảm giác tội lỗi cào xé tâm can. Mỗi lần dậm bước làm nảy bật lên một ký ức, mỗi lần máu tứa ra trào dâng một kỷ niệm. Hối hận và tuyệt vọng. Y như người đi trong hang tối tựa hũ nút, những mong tìm được ánh sáng nơi cuối đường hầm.

Trần Đĩnh cứ cắm đầu đi không ngừng, lúc nào rã rời chân tay mới vơ đại cái gì trên cây dưới suối mà ăn. Vết thương trên mặt dãi nắng núi nhuốm sương rừng bắt đầu nhiễm trùng, thối um lên càng khiến y chẳng dám ra gặp ai.

Trần Đĩnh đi mấy ngày không nghỉ, hai mắt đỏ quạu lên vì thiếu ngủ mới đến thành Thăng Long. Bấy giờ Thăng Long đã là đất của quân Minh, canh phòng cẩn mật.

Nhưng Trần Đĩnh ăn mặc rách rưới, tóc tai rối bù, thân thể hôi hám khắm khú chẳng khác gì nạn dân. Chiến hoả mới yên, nạn dân lóc nhóc từng đàn từng lũ. Y trà trộn vào một đám, thuận lợi vào thành.

Thăng Long thành vẫn là nơi rồng cuộn hổ chầu địa linh nhân kiệt. Thế nhưng bầu trời trên cao nay đã thấp xuống. Thành thử, Trần Đĩnh về lại quê nhà, trong lòng cứ thấy nao nao khác lạ.

Long thành vẫn còn đó, nhưng trời trên cao kia đã đổi thay. Mà cũng có lẽ là người đã đổi thay.

Y lần về nhà cũ, căn nhà lá lụp xụp ở phố hàng Than nơi y từng sống một năm với vợ và cô con gái mới sinh.

Hàng rào trước nhà đã bị ai đạp gãy, xắn đứt cả những dây mồng tơi nơi hắn từng đổ gục trong vũng máu và cơn say thất bại đầy nhục nhã.

Trần Đĩnh bước tới trước, nâng từng cọng mồng tơi dập nát lên. Ký ức theo đó trôi về quá khứ, về ngày trung thu của mười năm trước.

Đêm trăng rằm, hồ Linh Lang, Huyết Kiếm Thiên Công dạ chiến Long Thành kiếm khách.

Nhớ lại thời thanh niên đầy nhiệt huyết, Trần Đĩnh bất giác cười. Lạ lắm thay. Khi đó hắn từng coi thảm bại ở hồ Linh Lang là nỗi ô nhục lớn nhất cuộc đời mình, hễ nhớ lại chuyện cũ là mặt đen như bôi nhọ trát tro.

Nhưng bấy giờ, chẳng rõ vì sao hồi tưởng lại, hắn lại bất giác thấy tò mò lạ. Không hiểu đối thủ cũ của mình bây giờ ra sao, liệu có còn giống như lúc đại chiến năm đó hay không.

Rồi, Trần Đĩnh lại quỳ xuống bên dàn mướp.

Vai áo hứng lấy cơn mưa của mười lăm năm trước, tai nghe văng vẳng tiếng gót sen ai lưu ngoài hẻm vắng. Trước mắt Trần Đĩnh hiện lên một bóng người nằm gục ngay trên hàng mồng tơi vấy máu, nhuộm đỏ gần nửa hàng rào nứa dưới thân.

Bóng ô che phủ trên đầu, cái ô của hồi ức xa xưa được cầm bởi bàn tay của giai nhân mười năm trước.

Ánh đèn lồng rọi lên hai khuôn mặt, một khuôn mặt đầy bùn tanh đất bẩn của Trần Đĩnh, soi rõ cái nhục nhã cuộn trào trong đôi mắt. Và một cái khác cũng của hắn, nhưng là hắn của mười lăm năm sau, tả tơi và biến dạng. Gương mặt bị rạch nát nở nụ cười ngây ngô, si ngốc.

Chẳng biết tự bao giờ, Huyết Kiếm Thiên Công nổi danh một vùng, Trần Đĩnh tướng quân lãnh quân Thiên Dực chiến thắng trận Thiên Mạc… lại hoá thành gã thanh niên ngây ngô xốc nổi năm nào.

Trần Đĩnh thở dài, nhắm mắt rồi mở ra. Tràng cảnh trong hồi ức xa xôi tan thành lớp bụi nơi mũi giày.

Ngay bước đầu tiên vào sân trước, một mùi hương là lạ mà quen quen đã ập tới. Giản dị, mộc mạc thôi, nhưng cũng không kém phần đầy mê hoặc. Thứ hương thơm đầy nghịch lí ấy phả vào mặt, cuốn lấy từng tấc da thớ thịt, quện vào linh hồn Trần Đĩnh như nồi bánh đúc dân gian.

Mùi vị của nhà, của quê giang tay đón chào người con xa xứ.

{ Chú thích nhỏ 1: hồi tám tác giả có viết nhầm một đoạn, chỗ ở chính xác nhất của vợ chồng Trần Đĩnh là Hàng Than. Nay đính chính lại cho đúng

Chú thích nhỏ 2: tác giả đang vướng một chỗ cần phải lột tả được khí thế của bậc đế vương, mãi mà chưa ưng, nên thời gian tới tốc độ viết sẽ giảm đi nhiều. Cho đến khi tác giả gỡ được đoạn này, thì hồi mười lăm mới được đăng hoàn chỉnh

Kính bút }

Chương 112: Hồi mười lăm (2)

Trần Đĩnh lại đi thêm vài bước nữa, căn nhà tranh vách đất của hai vợ chồng hắn năm nào đã ở ngay trước mặt.

Nhìn căn nhà xiêu xiêu vẹo vẹo do vắng bóng người chồng, y chỉ biết thở dài, khẽ gọi tên vợ mình:

“ Xuân… cực cho mình quá… ”

Trần Đĩnh không quản khó khăn chạy về Thăng Long, âu cũng chỉ vì gặp lại hiền thê một lần.

Một người là nàng đào hát năm xưa nổi tiếng đất Tây Hồ, một kẻ là Huyết Kiếm Thiên Công lừng danh thành Thăng Long. Nhưng chẳng mấy ai biết, hai con người có thể coi là có danh tiếng không nhỏ ấy, lại từng có một đoạn thời gian chung sống trong ngôi nhà lụp xụp này. 

Trần Đĩnh đưa tay toan đẩy cửa buồng vợ, song lại nghĩ:

[ Mình bôn ba suốt mấy ngày nay, chắc chắn là lôi thôi lếch thếch, nhếch nha nhếch nhác. Xuân thế nào cũng nói cho một trận cho xem. ]

Đoạn y lấy tay vuốt lại tóc, cố ép cho cái thứ bù xù trên đầu vào nếp. Lại chỉnh trang lại y phục, kéo lại gấu áo gấu quần cho nó phẳng phiu. Thế là mấy chỗ rách trên quần, trên áo được dịp mở toang miệng, cái lạnh se se đầu thu lướt qua da thịt.

Cơ hồ nín thở, Trần Đĩnh mở cửa buồng.

“ Mình ơi, anh… ”

Nửa câu sau bị hắn nuốt vào bụng, vĩnh viễn.

Lúc này, trên xà nhà vắt một sợi dây.

Trên sợi dây treo lủng lẳng một cái thây người.

Áo màu tím than, quần nâu sồng còn hơi dính bùn đất. Mái tóc ngắn đến vai, lởm chà lởm chởm như bị ai cầm dao cố tình cắt mất. Mái tóc xanh tựa hàng liễu bên hồ năm nào hãy còn vương đầy trên nền đất.

Trần Đĩnh ngơ ngác.

Y đạp lên mái tóc rũ tung rũ toé, đỡ cái thây người xuống. Hôi hám, khai khắm mấy hắn cũng chẳng còn thiết nữa.

Hắn cơ hồ chẳng thiết gì nữa.

Hắn đưa tay, nâng cằm hiền thê. Gương mặt trái xoan của nàng ngước lên, lộ ra hai gò má toàn những vết rạch vết chém.

Ai đó đã huỷ đi diện mạo của nàng, biến gương mặt mĩ nhân trở thành một quả trám nhăn nheo.

Trần Đĩnh run rẩy đưa mấy ngón tay ra, khẽ đụng lên khuôn mặt đã biến dạng của ái thê.

“ Ahhhhhhhhh ”

Trái tim vỡ thành tiếng khóc, Trần Đĩnh ngửa cổ lên, nước mắt chảy xuôi xuống con tim đã vụn, tung thành muôn mảnh thuỷ tinh trên đôi môi tím tái.

Xoạt.

Huyết Ẩm kiếm trượt ra khỏi tay áo, nằm gọn trong bàn tay hắn.

Thanh kiếm hắn đã vứt đi ở Hàm Tử, sau khi nó nhuốm máu Hồ Đỗ. Chẳng biết vì sao, vào một đêm không trăng, nó lại trở về trong lòng hắn. Ngay cả khi đã gãy, mẻ.

Trần Đĩnh nghĩ nó là kiếm ma kiếm quỷ, quyết bám theo hắn không buông như loài vắt rừng đỉa ruộng.

Song, hắn vẫn ôm kiếm lên đường.

Một kẻ chẳng còn ra hình ra thù, cũng xứng với thanh quỷ kiếm ấy lắm.

Giờ…

Hắn còn xứng với một người nữa.

Nắm bàn tay đang lạnh dần của vợ, Trần Đĩnh run rẩy kéo những ngón tay cứng đờ lên mặt mình. Năm ngón thon như lá lúa chạm lên khuôn mặt sần sùi lởm chởm những sẹo lồi sẹo lõm.

Trần Đĩnh mới thủ thỉ:

“ Mình ơi. Mở mắt ra. Xem tôi xứng với mình không… ”

Nói đoạn, y từ từ kề lưỡi kiếm lên cổ mình, má áp vào má vợ.

Choang!

Vút!!

Bát sứ đụng lên nền đất vỡ tung toé. Mảnh sành văng cả vào chỗ hắn ngồi.

Nửa thanh Huyết Ẩm theo tay người bay vèo ra, nhắm ngay trái tim của kẻ đứng sau lưng hắn. Bất luận là ai.

Phập!

Huyết Ẩm găm vào vách tường, lút đến tận cán.

Nơi đầu mũi kiếm còn vương lại mấy sợi tóc đen nhánh.

Trần Đĩnh lúc này mới quay đầu lại nhìn. Hắn vừa ném thanh kiếm ra theo bản năng.

“ Aaaa! U! U ơi u. ”

Ngồi trên mặt đất, đang tức tốc bổ nhào vào chỗ hắn và vợ là một cô bé chỉ khoảng sáu tuổi.

Trần Đĩnh thấy vương trên gương mặt non nớt kia vẻ xinh đẹp của vợ mình.

Con hắn đã lớn rồi.Lúc hắn tòng quân ra trận, con nhóc còn đang nằm nôi.

“ C… co… ”

Trần Đĩnh muốn gọi con ơi, nhưng không sao lên tiếng cho nổi. Hắn còn chẳng biết tên con nó. Hôm ấy từ pháp trường thoát chết, về thăm nhà đúng một hôm, vợ chồng gặp nhau mừng mừng tủi tủi. Hắn quên béng mất cả đặt tên con.

Bịch.

Hai nắm tay bé xíu đẩy vào ngực hắn, với hết sức bình sinh. Thấy hắn vẫn ì ra không lay động, cô bé con lại xô cả người vào lòng chỉ mong đẩy ngã hắn.

Vẫn không có tác dụng.

Sau đó, là hai nắm đấm nhỏ thụi liên tục vào ngực, vào mặt hắn.

“ Đồ quái vật, ông làm gì u của tôi hả? Mặt u tôi làm sao thế này?

A!! Tôi biết rồi. Ông xấu xí, nên biến u tôi thành người xấu xí như ông đúng không? Ông ác lắm! Ác lắm! Trả u tôi đây. Trả đây cho tôi. ”

Trần Đĩnh cứ đần cả ra.

Não hắn ngừng lại không nghĩ được cái gì nữa.

Mỗi cú đấm, mỗi câu nói vô hại kia như xuyên vào trái tim, cứa vào linh hồn hắn.

Hắn còn lại gì nữa??

“ Con… con ơi… ”

“ Ai là con ông?? ”

Bốp!!

Cô bé con giang tay, tát thật mạnh vào má Trần Đĩnh một cái. Sợ đau con, hắn không dám vận công hộ thể, làm má sưng đỏ cả lên.

Má hắn sưng lên, sẹo lồi sẹo lõm trên mặt lại bắt đầu phập phồng trông đến là đáng sợ. Cô bé trông cảnh này, mặt tái hẳn đi, song vẫn cứng cỏi quát:

“ Ai là con ông?? U tôi kể thầy là đấng anh hùng bảo vệ bờ cõi. Ông nhìn lại ông xem? Anh hùng?? Tôi thấy ông giống yêu quái hơn! ”

Trần Đĩnh nghe con nhỏ đay nghiến, từng câu từng chữ đều như dìm hắn xuống đáy sâu địa ngục một lần.

Hắn ngơ ngác đứng dậy, toàn thân run lên bần bật như người ốm lâu ngày. Muốn đi một bước mà hắn cũng loạng choà loạng choạng thiếu chút nữa thì ngã.

Khuôn mặt bị rạch nát lúc thì đỏ tấy lên, lúc lại xám ngắt đi. Sẹo lồi sẹo lõm dâng lên hạ xuống cùng cơ mặt, như thể vô vàn con đỉa đang hô hấp dưới da mặt, trông thật đáng sợ.

Hắn rút nửa thanh Huyết Ẩm ra, soi mặt mình lên lưỡi kiếm. Hiện lên là gương mặt xấu xí và kinh tởm của một kẻ bò ra từ chiến trường.

“ Ahhhhhhh!!! ”

Trần Đĩnh quỳ gục xuống đất, rống lên một tiếng. Tiếng gầm của hắn chứa đầy nỗi đau đoạn trường, khiến người xung quanh giật cả mình.

Cô bé con nọ đang ngồi bên xác u cũng giật mình ngẩng đầu.
Không hiểu vì sao, khi thấy quái nhân kia đau khổ như thế, cô bé lại thấy cảm động.

[ Không. Nó hại u mình thế này, mình ghét nó còn không kịp. ]

“ A dì đà Phật. Việc gì phải khổ thế? ”

Trần Đĩnh ngẩng đầu, trong màn hơi nước mờ mờ, xuất hiện một nhà sư mũm mĩm ăn mặc rách rưới.

“ Th… thầy ơi…?? Phải… thầy không? ”

Khiếu Hoá Tăng xuất hiện ở căn nhà lụp xụp phố Hàng Than.

Lê Trừng đột nhiên xen vào:

“ Thầy đang ở Thăng Long?? ”

Trần Đĩnh nói:

“ Ngoại trừ thầy, còn có một người khác. ”

Khiếu Hoá Tăng đưa tay chụp lấy đầu vai Trần Đĩnh, nội lực cương mãnh vô song của ông sư ăn xin bất ngờ chuyển thành vòng xoáy nhu hoà, giúp hắn điều hoà khí huyết đang chạy loạn.

Theo đó, Trần Đĩnh cũng bình tĩnh lại được ít nhiều, bèn vội vội vàng vàng quệt tay áo lên mặt.

Khiếu Hoá chưa kịp nói gì, sau lưng ông đã có tiếng ai sang sảng bật lên:

“ Thằng này thế mà ngố. Trước mặt thầy mày còn cố tỏ ra kiên cường với ai?? ”

Trần Đĩnh nhoài ra, nhìn sau lưng thầy.

Đứng tựa ở cửa là một trung niên cỡ tứ tuần. Tóc mai ở hai bên thái dương rất dài, bạc trắng như cước, vắt ngang qua vành tai. Hàm râu quai nón cũng đã bị thời gian nhuộm thành nửa trắng nửa đen.

Y vận một bộ quan phục may theo kiểu triều Trần, hai vai đeo thủ kiên giáp chạm trổ thành đầu cá đao hung dữ nhe nanh ngậm lấy vai, bụng bận phúc giáp đầu rồng. Cái kiểu ăn mặc văn chả ra văn võ không ra võ này, đúng là hiếm thấy.

Nhưng thứ khiến Trần Đĩnh chú ý là thanh gươm quái lạ y gác trên vai.

Gươm dài ba xích, sống gươm không thẳng tắp mà uốn lượn như sóng, mũi nhọn chẻ làm hai ngạnh sắc lẻm, đỏ lòm như máu. Đặc biệt, là thay cho lưỡi sắc thông thường thì gươm này lại có hai hàng đinh nhọn xếp khít nhau không khác gì răng lược.

“ Gươm Xích Ngô? ”

Lê Thận nghe Trần Đĩnh miêu tả, lập tức nhớ đến gươm báu trấn áp quần hùng ở hội Chí Tôn mười tám năm trước.

“ Đúng. Là gươm Xích Ngô của đảo chủ đảo Bạch Long. ”

Trần Đĩnh uống thêm một ngụm rượu, mặt y đã nóng bừng lên. Đống sẹo lại bắt đầu phập phồng, trông đến là rợn người.

Lê Hổ hỏi:

“ Còn chuyện cô bé thì sao?? ”

Trần Đĩnh gạt phắt tay, nói:

“ Còn sao nữa?? Nó không muốn nhận thầy nó, thì đành giao cho thầy của thầy nó chăm sóc hộ thôi. ”

“ Sau đó anh chôn vợ, chạy đến tận đây?? ”

Lê Hổ hỏi, đồng thời ra dấu cản Lê Thận lại.

Trần Đĩnh trước lúc gặp con tuy không thể nói là tỉnh táo hoàn toàn, nhưng so với lúc nãy ở trước đền hai vị tiên đế có thể nói là đỡ hơn nhiều.

Y chịu bao nhiêu đả kích sau chuyện ở nhà cũ, có trời mới biết. Mà y đã cố tình chuyển sang đảo chủ đảo Bạch Long là muốn tránh phải nhắc cố sự đau thương, chẳng lẽ bắt y nhớ lại?

Trần Đĩnh gật đầu, cạn nốt giọt rượu cuối cùng trong hũ. Nói đoạn, y quăng mạnh hũ đất vào tường đánh choảng một cái.

“ Lê Hổ. Năm đó ngộ sát anh trai cậu, đúng là tôi. Nay Đĩnh này đã nhớ lại hết chuyện cũ. Ân oán năm xưa cũng nên kết thúc. ”

Trần Đĩnh nói rồi, xoạt một cái, Huyết Ẩm kiếm đã nằm trong tay. Y đưa ngang kiếm lên cần cổ, toan cứa mạnh một nhát cho đi đời luôn.

Lê Thận ngồi cạnh toan phóng ám khí lên cản lại, nhưng Cau Đồng còn chưa xuất ra, thì ngoài cửa động đã có tiếng cười vang.

“ Huyết Kiếm Thiên Công đấy à? Còn nhớ chuyện ở hồ Linh Lang mười năm trước không?? ”

Tay Trần Đĩnh ngừng lại.

Ngữ khí đã trầm ổn trưởng thành hơn, nhưng cái ngạo khí mười năm trước vẫn chưa hề thay đổi.

Chủ nhân của tiếng nói ấy y vẫn còn nhớ như in.

Đầu gối lên cột đình nhuốm màu cổ kính, chân đạp lên bậc đá xanh phủ kín rêu phong. Sau lưng cõng hạp gỗ dài, tóc bay trong gió đêm, mắt nhắm hờ…

Không ánh mắt nào sắc hơn kiếm của hắn.

Long Thành kiếm khách Phạm Lục Bình.

Chương 113: Hồi mười lăm (3)

“ Phạm Lục Bình?? ”

“ Lục Bình là tên cũ rồi, nay tên ta là Phạm Ngũ Thư. ”

Lê Hổ lúc này mới ngoái đầu nhìn sang.

Phạm Ngũ Thư đã đứng trước cửa động Thiên Tôn, thắt lưng cắm thanh Hùng kiếm.

Y thản nhiên bước vào động, cước bộ vững vàng, hô hấp bình thản, đầu tóc xiêm y đều gọn gàng sạch sẽ. Trông y như văn nhân vừa tản bộ ở vườn nhà, chứ không phải vừa bị một trong bốn Tinh của sơn trang Bách Điểu truy sát.

Trần Đĩnh trông thấy dáng vẻ khí định thần nhàn của đối thủ cũ, lại ngẫm đến dáng vẻ hiện tại của bản thân, lòng không khỏi thấy chán nản.

Hắn lại nhớ đến chuyện mình ra tay chặt đầu Hồ Xạ lẫn Hồ Đỗ, không khỏi thấy hổ thẹn.

Phạm Ngũ Thư đến chỗ ba người, ngồi xuống. Y nhìn sang mé Huyết Kiếm Thiên Công, thấy đối thủ năm xưa đang cúi gằm mặt, bèn cười khẩy:

“ Thế nào?? Mối nhục mười năm trước còn nhịn được, lời hẹn tái đấu còn chưa thành, sao đã vội tìm cái chết?? ”

“ Lần này Đĩnh nợ ngươi không chỉ một, mà là ba cái mạng. ”

Trần Đĩnh lắc đầu tự giễu, vai hơi máy động. Lúc này, hai người Lê Hổ Lê Thận mới sực nhớ Huyết Ẩm kiếm trong tay y vẫn kề nơi cổ.

Phạm Ngũ Thư vừa đến nơi, hai người không hiểu vì sao lại có cảm giác yên tâm.

“ Hoá ra Huyết Kiếm Thiên Công nhà ngươi là thằng hèn sao??? Nếu thế thì hồi đó để nhà ngươi sống đến lúc này, đúng là uổng phí mười năm cơm gạo. ”

Trần Đĩnh quắc mắt lên, nhìn chòng chọc vào một Phạm Ngũ Thư đang thản nhiên mở nắp hũ rượu thứ hai.

Y quát:

“ Im miệng! Nhà ngươi thì hiểu cái gì? Nhà ngươi chẳng biết một cái gì hết! Ta… hai vị tướng quân… còn có… ”

“ Không phải sao?? Trần Đĩnh, ngươi tưởng một cái mạng quèn của kẻ sống dở chết dở như nhà ngươi đáng bằng hai mạng của nghĩa huynh ta ư? Ha, nực cười! ”

Phạm Ngũ Thư nhổ toẹt một bãi nước bọt, quát:

“ Chết?? Anh hùng lắm chắc? Rõ ràng là cái thứ hèn yếu, có nợ không dám trả, mới phải chọn cách yếu hèn đó để trốn tránh. ”

Nói đoạn, rút phắt thanh Hùng kiếm đen nhánh ra vứt thẳng sang cho Trần Đĩnh.

“ Kiếm đấy, danh kiếm của Khổng Lồ đấy. Có giỏi thì cầm lấy dùng nó mà tự kết liễu đi. Xuống dưới đó rồi chớ nói Ngũ Thư này không nể tình đối thủ cũ. ”

Trần Đĩnh run rẩy chộp lấy chuôi kiếm.

Đồng đen toả ra hơi lạnh kì ảo.

Nước đồng đen nhánh như muốn nuốt cả linh hồn ánh mắt hắn vào.

Mười năm trước…

Huyết Ẩm đã bị chém gãy một lần.

Đúng là bị chính thanh quái kiếm đen thui, lưỡi vuông như cái thước này phạt đứt.

Lê Hổ không nói không rằng.

Lê Thận cũng không tiện ngăn nữa.

Ân oán của người khác, y xen vào đã là không phải. Huống hồ hiện giờ tự Trần Đĩnh muốn vung kiếm tự xử, chẳng ai bắt buộc ép uổng hết.

Trần Đĩnh vung kiếm.

Lưỡi kiếm đen sì dừng ngay ở cần cổ, cách yết hầu y chỉ một khoảng bằng sợi tóc. Thậm chí da cổ Trần Đĩnh đã rách ra một chút, máu đã bắt đầu tứa ra thành tia.

Khoảng cách nửa sợi tóc bỗng hoá thành lạch trời, lưỡi kiếm đồng đen cũng không thể tiến thêm.

Chỉ vì một câu nói.

“ Ừ, cứ chết đi. Ta thì chả sao đâu, nhưng nàng Đồng Xuân thì chưa chắc. ”

Trần Đĩnh buông thõng tay, Hùng kiếm rơi xuống nền động đánh keng một cái.

Y giống như người mất hồn mỗi khi nhắc đến nàng Đồng Xuân, nhắc đến vợ mình.

Dưới cơn mưa dội xuống của Trung Thu mười năm trước, bàn tay giai nhân nhẹ nhàng vỗ lên mặt hắn.

Tiếng thì thào nhỏ như muỗi kêu, mùi hương thơm ngát hoa sen truyền đến choán đầy lỗ tai hắn.

“ Thiếp vẫn hay trộm nghĩ, một ngày sẽ có một đấng anh hùng tâm phúc tương tri, đường đường chính chính đến cưới thiếp về nhà, sính lễ chỉ buồng cau xấp trầu cũng được. Nhưng phận con đào thằng kép còn hèn mọn hơn đám thường dân, nên thiếp nào dám trèo cao? ”

Nàng trao thân cho hắn ngay đêm đó.

Sau khi hắn đã làm quá nhiều chuyện có lỗi với nàng.

[ Đúng. Mình mà chết bây giờ tội mình gây ra ai gánh?? Con gái mình ư?? Sao mình dám gặp lại Xuân, lại anh Đỗ anh Xạ?? Không! Không được!! ]

Trần Đĩnh nhặt Hùng kiếm lên, trả lại cho Ngũ Thư.

Y vái đối thủ cũ của mình một cái, điều trước đây y chưa bao giờ tưởng tượng ra mình sẽ làm.

Ngũ Thư nhận kiếm, nói: 

“ Ở hồ Linh Lang ngươi nợ ta một mạng, tại cửa Hàm Tử lại nợ thêm hai cái đầu. Tổng là ba mạng sống. Phải cố mà chuộc tội. ”

“ Mạng tôi nay có xá gì, xin anh chỉ cho một con đường sáng. ”

Trần Đĩnh đáp, tay đặt lên trái tim.

Phạm Ngũ Thư chỏ vào thanh kiếm gãy:

“ Nay nước nhà đang buổi lâm nguy, giặc ngoại xâm hoành hành vô kị. Tại sao không theo tôi góp máu góp xương đuổi giặc. Để Huyết Ẩm uống máu ngoại xâm, chẳng phải tốt hơn à? ”

“ Không được!!!! ”

Lê Hổ đột nhiên đứng phắt dậy, quát to.

Trở lại chỗ hai đứa nhóc Tạng Cẩu…
“ Đây là Ngự Thư phòng. ”

Tiếng nói ỏn ẻn của Lý công công tiếp tục khiến thằng nhỏ mất tự nhiên. Nó chưa từng gặp hoạn quan lại cái bao giờ, huống hồ họ Lý còn là kẻ đặc biệt nữ tính trong đám thái giám.

Thế nhưng, khi nó nhỏm sang nhìn ngự thư phòng, mọi suy nghĩ khác đều bị quăng ra sau đầu.

Ngự Thư Phòng lớn như một toà đại tửu lâu nó thấy hôm qua vậy. Bên ngoài có thị vệ canh gác nghiêm cẩn, sợ rằng Quận Gió có sống lại cũng khó mà làm gì được.

Tạng Cẩu không tránh nổi sự kích động. Dẫu biết là Lý công công phía trước là cao thủ có hạng, nhưng nó không sao nén nổi xung động muốn vào nhìn Ngự Thư Phòng một lần.

“ Đứng đực ra đấy làm gì? Nhanh còn đi chỗ khác. Hứ. Bản công công bận rộn lắm. Không phải hoàng thượng truyền khẩu dụ, hai đứa bay chẳng có cái phúc đấy đâu. ”

Tạng Cẩu nghĩ thầm:

[ Ông mà là một kẻ võ công bình thường xem ai mới có phúc. ]

“ Ô kìa. Lý công công, không ở cạnh hầu hạ bệ hạ mà rảnh rỗi đi đâu thế này. Ngộ nhỡ long nhan đại nộ thì chết. ”

Chẳng biết ai vừa lên tiếng, nhưng âm thanh nghe ấm áp đến lạ kì. Chỉ lắng nghe thôi mà người ta cũng có cảm giác được gột rửa bởi nắng ấm tháng năm.

Lý công công cúi mình một cái, lại nói:

“ Đại y thiền sư hôm nay nhập cung, không phải là muốn diện thánh đấy chứ. Sao Lý mỗ chưa nhận được thánh chỉ?? ”

Phiêu Hương kéo tay áo Tạng Cẩu, nói nhỏ:

“ Ông già đứng đối diện Lý công công là người Đại Việt đấy. ”

“ Sao cậu biết?? ”

“ Tớ biết xem tướng mà. Dù còn kém chưa nói được vận mệnh tương lai, nhưng phân biệt người nước nam với người bắc quốc thì không thành vấn đề. ”

Tạng Cẩu cười khì:

“ Hiếm khi thấy Hương nhận mình kém môn gì đó nha. ”

Vị đại y thiền sư kia lại xua tay, nói:

“ Chà chà, làm gì có chuyện đó?? Chẳng là tôi đang thử dở thang thuốc, thế mà vèo cái sâm trong nhà đã dùng hết sạch. Thử hỏi có đen không? Ấy mà nhớ ngay được lần nọ từ quan, tiên đế đã cho tôi lệnh bài tuỳ ý ra vào dược khố. Nên đến đây xin một ít ấy mà. ”

Nói rồi ông vuốt râu, chỉ hai đứa nhỏ:

“ Ấy. Trông hai nhóc này không giống người Hoa nghen. ”

“ Dạ, chúng con là người Đại Việt. ”

Lý công công nạt ngay:

“ Tầm bậy tầm bạ. Giờ thì làm gì còn Đại Việt Đại Ngu? Chỉ còn quận Giao Chỉ của Đại Minh ta mà thôi. ”

Đại y thiền sư thấy vậy, vội nói đỡ:

“ Làm gì mà gay gắt thế? Trẻ con còn bé biết gì, cứ từ từ dạy. ”

Rồi lại nháy mắt ra hiệu với hai đứa nhỏ, chắp tay sau lưng ngâm khẽ:

“ Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần

Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình

Thôi chào công công. Tuệ Tĩnh đi trước vậy. ”

“ Thiền sư thong thả. ”Lý công công cúi mình.

“ Tuệ Tĩnh thiền sư??? ”

Hai đứa nhóc quay sang, nhìn nhau.

Thì ra ông già râu trắng tóc bạc, dáng vẻ bình dị dễ gần hai đứa mới gặp, lại là thiền sư Tuệ Tĩnh, người được mệnh danh là ông thánh thuốc Nam.

Năm đó không phải ông ra tay nấu chảy lò thuốc, đúc ba tấm thánh lệnh, e là võ lâm còn phải loạn lạc lung tung một trận. 

Cứ theo tin đồn lan truyền trong dân gian là ông đã quy tiên ở đất khách, không ngờ vẫn còn mạnh khoẻ ra ra vào vào cung cấm.

“ Đi nhanh lên. ”

Lý công công giục.

Hai đứa nhóc đi hết một ngàu trời, mới tham quan được sơ sơ hoàng cung nước người. Lúc này trời đã nhá nhem, Lý công công dẫn hai đứa về chỗ ở tạm, sau đó bèn quay về chỗ Chu Đệ để chờ lệnh.

Hai đứa nhóc đẩy cửa phòng, phát hiện Hồ Nguyên Trừng đã ngồi bên mâm cơm chờ sẵn.

Ba người vừa dùng bữa, vừa nói chuyện.

“ Hôm nay đi chơi có vui không? ”

Hồ Nguyên Trừng hỏi, nhưng lại lấy đầu ngón tay xoay vòng vòng trên bàn ra dấu.

Đấy là ám hiệu cho: [ Dò la được gì không? ]

Bởi hoàng cung tai vách mạch rừng, nên hôm qua Hồ Nguyên Trừng đã cất công soạn ám hiệu ra, bắt hai đứa nhóc học thuộc rồi đốt ngay lập tức.

Phiêu Hương nói:

“ Đi được bao nhiêu chỗ. Ngự Thiện Phòng này, Thượng Uyển này, Ngự Khố Phòng này, Ngự Thư phòng này. ”

Tạng Cẩu ra chiều tiếc rẻ:

“ Nhưng chỉ được đứng ngoài xem thôi. Giá như được vào tận bên trong cho thoả thì vui phải biết. ”

Hồ Nguyên Trừng gắp cho mỗi đứa một miếng, lại dùng đũa thọc vào bát cơm của cả hai. Miệng thì nói:

“ Ừ. Đứng ngoài xem qua là được rồi. Không cần để trong lòng. Nơi đây là hoàng cung trọng địa. Thành tổ để hai đứa tham quan là may mắn lắm rồi đấy. ”

Ám hiệu lần này là: [ Bình tĩnh chờ cơ hội. Tìm cách dò la tiếp sau. ]

Ba bác cháu đang dùng mật ngữ trao đổi hăng say, thì bỗng bên ngoài có tiếng người nói vọng vào:

“ Ới anh họ Hồ có đó không đấy?? ”

Thình lình nghe được tiếng mẹ đẻ ở nơi đất khách quê người luôn khiến cho người ta có một cảm giác nao nao trong lòng. Những tưởng quê hương đang hiện ra trước mắt theo từng âm thanh nhấn nhả.

“ Xin hỏi khách quý phương nào đến chơi đấy?? ”

Hai đứa nhóc tì thì quay ra nhìn nhau, đồng thanh reo lên:

“ Tuệ Tĩnh?? Là thiền sư Tuệ Tĩnh!! ”

Hồ Nguyên Trừng giật mình:

“ Thiền sư còn tại thế sao?? Mau. Mau theo chú ra đón người. ”

Chẳng mấy chốc, bốn người con mang dòng máu tiên rồng đã ngồi quây quần bên mâm cơm.

Tuệ Tĩnh thiền sư có vóc người cao, gầy, da hơi sạm. Ông vận một bộ áo vải bình thường, nhuộm màu nâu sồng dân dã, ra đường lớn cơ hồ nhìn đâu cũng thấy. Song khi ông mặc lên, lại có cái vẻ nhàn nhã tự nhiên, tiên phong đạo cốt.

Hồ Nguyên Trừng rót trà mời, thiền sư cũng nâng chén hoàn lễ. Hai đứa nhóc thì tất tả chạy đi khép hết cửa nẻo trong phòng.

Chừng nửa chén trà sau, Tuệ Tĩnh mới nói:

“ Lần này tôi vào cung, mọi người nghĩ có phải trùng hợp không?? ”

Hồ Nguyên Trừng cười khẽ, lại rót đầy chén trà cho ông chứ không đáp. Chàng cố tình nhìn hai đứa nhỏ.

“ Có phải do bác Khanh nhờ vả không ạ? ”

Tạng Cẩu còn đang suy nghĩ xem nên đáp thế nào, thì Phiêu Hương đã lên tiếng ngay.

Tuệ Tĩnh thiền sư vuốt râu, nói:

“ Không sai. Đúng là Ứng Long của Quốc Tử Giám đến nhờ cậy, lão già này mới phải lặn lội lê bộ xương mục nát này vào cung giúp mấy đứa. ”

Thiền sư lại hỏi:

“ Thế đã có manh mối nào chưa?? ”

Tạng Cẩu lắc đầu, thở dài.

“ Vẫn chưa. Chúng con đang định vào Ngự Thư phòng, tìm thử xem có tư liệu nào về cuộc bắc hành của ông tổ Khổng Lồ không. ”

Nó lại lấy cái trống đồng con ra đặt lên bàn.

“ Manh mối duy nhất chỉ có thứ này. Chúng con biết nó là do Khổng Lồ rèn đúc trong khi sang Tàu, nên chỉ có cách bắt đầu tìm hiểu từ ông ấy. ”

Tuệ Tĩnh nhìn chiếc trống con, nét kinh hãi thoáng hiện trên gương mặt phúc hậu. Ông nâng trống lên, hết nhìn đai trống, mặt trống, lại ngó trôn trống.

Rốt cục, ông lên tiếng:

“ Sao con có được thứ này?? ”

Chương 114: Hồi mười lăm (4)

“ Đây là di vật sư phụ con gửi gắm. Ông bảo chắc chắn bác Khanh có cách giải trừ bí mật của nó. ”

“ Sư phụ con là?? ”

“ Quận Gió. ”

Tạng Cẩu và Phiêu Hương đồng thanh đáp. Nét tự hào thoáng vương trên gương mặt non nớt của chúng.

“ Ra là vua trộm. Không biết là thằng Lâm hay bác Quý. ”

Tuệ Tĩnh thiền sư nhấp một ngụm trà, rồi lim dim mắt. Dường như ông đang hồi tưởng lại một ký ức xa xôi nào.

Ba người hậu bối kiên nhẫn chờ, thậm chí không dám nhúc nhích vì sợ làm phiền ông thánh thuốc Nam.

Một lúc lâu sau, thiền sư mới thở dài;

“ Sư phụ con nhầm rồi. Nguyễn Phi Khanh cũng không biết ngọn ngành. Mà ngay cả ông, cũng chỉ biết được một phần câu chuyện mà thôi. ”

Ông nâng chiếc trống con lên, xoay nó trong tay mà ngắm nghía. Rồi, ngón tay mảnh khảnh như cành tre lướt qua từng hoa văn trên mặt trống.

“ Ngọn núi này là Tản Viên sơn thánh. Dòng sông này, mọi người chắc cũng đoán được, là Thuỷ tinh – đối thủ truyền kì của ông.

Đám tre này là biểu tượng của Phù Đổng thiên vương vạn chiến bất bại, gậy và nón tu lờ tượng trưng cho Chử đạo tổ.

Còn rùa vàng và gà trắng, là chuyện năm xưa thần Kim Quy diệt yêu tinh ở núi Thất Diệu, giúp vua An Dương Vương xây thành Cổ Loa. ”

Hồ Nguyên Trừng cau mày:

“ Đây đều là chuyện cổ dân gian, mang màu sắc truyền kì. Thiền sư xin thứ cho kẻ hậu sinh ngu dốt, nhưng Mạnh Nguyên không hiểu ý nghĩa của hình khắc này. ”

Tạng Cẩu và Phiêu Hương cũng nói:

“ Cổ tích thì chúng con vẫn nghe, nhưng có liên quan gì tới cái trống này chứ? Ông đừng nói là ông tổ chỉ khắc chơi cho đẹp thôi nhé. ”

Tuệ Tĩnh thiền sư cười, nói:

“ Nghe ông nói hết đã.

Chín vòng thành đất. Cổ Loa cửu trùng, Quỷ Long bất tử. Đây chính là hình dáng nguyên thuỷ của thành Cổ Loa huyền thoại. ”

“ Cổ Loa? Thành đất cổ ở Phong Khê nay chỉ còn ba vòng sót lại thôi. Mặc dù bố cục tinh vi, tứ phía nhiều cửa tử, song đâu có đến chín vòng?? ”

Hồ Nguyên Trừng nói.

“ Đúng. Cái trống đồng này tục truyền gọi là Chìa Khoá Loa thành, nghe đồn nó nắm giữ bí mật của sáu vòng thành mất tích. 

Đây cũng là vật duy nhất ông tổ Khổng Lồ không tự sáng tạo ra, nên trong bát thần khí đất Nam mình mới không có tên của nó. ”

Ba người chết lặng mất một lúc lâu.

Những tưởng sẽ có thêm manh mối, nhưng càng nghe lại càng lạc vào mê võng.

Tuệ Tĩnh lại tiếp:

“ Hai đứa nhóc này hôm nay cứ ngủ sớm đi, ngày mai ông sẽ tìm cách dẫn vào Ngự Thư Phòng. ”

Nói đoạn, thiền sư quét mắt ngang căn phòng lớn một cái, hỏi:

“ Chẳng rõ Quý Ly đi đâu mà giờ này vẫn chưa thấy về? ”

Trên bàn gỗ chỉ có ba bộ chén đũa.

Tức là Hồ Quý Li vẫn còn chưa quay lại chỗ ở.

Hồ Nguyên Trừng đáp:

“ Minh thành tổ nói chuyện vơi gia phụ rất hợp, thế nên cho Mạnh Nguyên lui trước, hai người họ vào hoa viên hàn huyên tâm sự. ”

“ Không lí nào… ”

Ngay cả khi đã chào ba người rời cung, thiền sư Tuệ Tĩnh vẫn cứ vừa đi vừa lẩm bẩm mãi ba chữ này.

Ông nghĩ gì, chẳng ai hay.

Hoàng cung…

Trong thượng uyển nơi, đâu đâu cũng thấy hoa thơm cỏ lạ. Trong cơn gió lất phất ánh trăng, hương thơm ngào ngạt chốn nhân gian bung toả vào bóng tối nơi cung cấm.

Đêm về, tiếng sáo dế mèn đệm trên những mảnh trăng vụn vỡ tan tành vương đầy thảm cỏ. Sương đêm đọng lại trên con đường mòn trải đá, thấm đẫm trong từng kẽ hở.

Tiểu đình mái ngói cong cong đỏ ối, lan can cột kèo đều được làm bằng gỗ đàn hương lâu năm, quý giá còn hơn ngàn lượng vàng ròng. Mùi sương đêm trong trẻo quyện vào hương gỗ thoang thoảng, càng khiến rượu mạnh thêm nồng cay quyến rũ. 

Trên một chiếc bàn đá bày mấy món đơn giản, hai chén sứ trắng. Cạnh bàn kê hai cái ghế con.

Trong đình có hai người đang ngồi đối ẩm.

Một mặc long bào, một vận thường phục. 

Một đương tuổi tráng niên, một đã đến thời xa trời gần đất.

Chu Đệ nâng chén rượu lên, dốc cạn. Liệt tửu đổ xuống cổ họng, cay nồng và bỏng cháy, song lại khiến đầu óc người ta lâng lâng. Cái vị men cay tuý luý ấy có dùng muôn từ vạn chữ cũng không cách nào tả ra hết được.

Thế nên dẫu biết khi say rồi đầu sẽ đau nhức như búa bổ, thế nhân vẫn sẽ bất chấp nhào vào cụng hết chén nọ đến li kia.

Chu Đệ liếc xuống li rượu còn nguyên của Hồ Quý Li, hỏi:

“ Không uống sao?? ”

Xong tự rót cho mình một li đầy.

“ Thần là người đất man di quê mùa, không hiểu nổi cái tinh tế của liệt tửu thượng quốc. ”

“ Có người từng kể cho trẫm, là người An Nam các ngươi uống rượu Trung Hoa ta, vẫn thường chê là hăng như nước đái ngựa. Hồ Quý Li là vua An Nam, đúng là không quen uống thứ này. ”

“ Bệ hạ minh xét. Thần không có ý đó. ”

Chu Đệ thấy y nhún nhường mình, bèn cười khẩy. Mắt y vẫn híp chặt, chỉ lộ một kẽ hở ti hí.

Cái mí mắt tất nhiên không thể biểu cảm bằng đôi con ngươi.

Cái khe hẹp đó khiến thiên hạ vĩnh viễn không đoán được toàn bộ suy nghĩ trong đầu Chu Đệ. 

“ Thiên hạ… thực ra cũng như chén rượu này vậy. Thứ men rượu ma quỷ tên thiên hạ này có thể chuốc say được cả thế gian, nhấn chìm thiên thiên vạn vạn trái tim anh hùng. Không biết, ngươi nghĩ sao?? ”

Hồ Quý Li nói:

“ Tội thần ngu dốt, không dám luận xằng hỏng mất ý cảnh cao thâm của bệ hạ. ”

Chu Đệ nhìn sang chỗ khác.

Câu chuyện li rượu cũng bị y lảng sang vấn đề khác.

“ Đêm nay thật nhiều dế. ”

“ Ấy là do thượng uyển của bệ hạ cây cỏ tươi tốt, yên tĩnh an toàn. Đối với họ nhà dế đúng là động thiên phúc địa, dế mới tìm đến làm tổ nhiều như thế. ”

Chu Đệ cười khẩy:

“ Dế không phải người, sao hiểu nổi nỗi sầu nhân thế? Người chẳng phải dế, vị tất thấu được cái khổ của côn trùng?? ”

Hồ Quý Li mơ hồ cảm thấy không ổn, chỉ sợ mình nói hớ câu nào.
Chu Đệ đặt li rượu xuống bàn.

Y gắp măng tre trong đĩa lên, nói thật khẽ:

“ Diễn kịch cả ngày trời, chắc hai ta ai cũng mệt mỏi lắm rồi, thôi dừng lại ở đây nhé, Hồ Quý Li giả. ”

“ Bệ hạ, tội thần không… ”

Đũa tre rơi xuống đất.

Chu Đệ nhìn thẳng vào mắt Hồ Quý Li đang ngồi đối diện mình. Cặp mắt y mở trừng, sáng quắc như hai hòn lửa, tưởng như có thể phản chiếu tất thảy những góc khuất bí ẩn nhất trong linh hồn kẻ khác.

“ Không cần ra vẻ ngạc nhiên, cũng đừng giả ngu trước mặt trẫm. Nhà ngươi diễn rất khéo, cơ hồ không sơ hở một tí nào. Theo trẫm thấy, ắt là người đã theo hầu Quý Li phải nửa đời người mới giả ra được cái khí chất của y một cách hoàn hảo đến thế. ”

Thấy Hồ Quý Li vẫn đang ngồi thừ người không nói gì hết, Chu Đệ bèn nhặt chén sứ lên xoay xoay, làm rượu sánh cả ra ngoài. Đoạn, y nói tiếp:

“ Bởi… ngươi đang ngồi ngay trước mặt trẫm đây, nên trẫm dám khẳng định ngươi không thể là Hồ Quý Li. ”

“ Bệ hạ, tội thần tuy là dân vong quốc, song cũng từng ngồi ở ngôi cửu ngũ chí tôn. Xin đừng nhục mạ nhau. ”

Hồ Quý Li trầm giọng, ngón tay gảy nhẹ lên li rượu một cái.

Tinh.

Rượu trong chén bắn vọt lên không trung, thành một cột nước nhỏ cao gần nửa thước. Bình thường gõ vào thành chén, thì rượu bên trong cũng chỉ có thể sóng sánh gợn sóng mà thôi. Muốn cho nó bắn lên không gần nửa thước, thì trình độ khống chế nội lực phải ở mức khó lường.

Chu Đệ vẫn bình chân như vại, làm như mình vừa thấy trò tiểu xảo mãi võ trên đường. Nói cho đúng hơn, là cặp mắt y đã khép lại như cũ. Không thèm nhìn, cũng không để vào mắt.

“ Nếu ta là Hồ Quý Li, chẳng thà mai danh ẩn tích thay tên đổi họ, giữ lại thân mình đặng sau này còn gầy dựng lại cơ đồ đông sơn tái khởi. Giữ được núi xanh, lo gì thiếu củi đốt? Còn không, thần long há để cho lũ thảo xà khinh nhờn?? ”

Hồ Quý Li nói:

“ Bệ hạ là cọp lớn trong núi rồng cuộn trong mây, sao hiểu được suy nghĩ của người phàm như tội thần? ”

“ Thế nên trẫm mới nói, nhà ngươi là kẻ mạo danh, một con tốt thí không hơn không kém. 

Hồ Quý Li và trẫm thực chất vốn là cùng một loại người. Kẻ là một con sâu rượu, người là một gã ma men. Chúng ta đều say, đều nghiện đến tuý luý si cuồng thứ rượu độc nhất vô nhị mang tên thiên hạ. Thứ rượu này một khi nếm qua một lần, sẽ thành nghiện, nghiện đến điên dại lú lẫn. Cho dù có phải vào địa ngục vĩnh bất siêu sinh, cũng phải có được thiên hạ. 

Mà ngồi ở đây, tức là chắp tay tặng thiên hạ cho người khác, không phải sao? 

Ngươi thiếu cái điên cuồng si dại với giang sơn chỉ đế vương mới có, thế nên, hiểu ý trẫm chứ? ”

“ Nếu tội thần và bệ hạ vốn là cùng một loại người, thì thần đã không ngồi đây, mà đang an vị trên ngai rồng đất Đại Việt rồi.

Sắc trời đã muộn, sương đêm xuống nhiễm lạnh cóng cả bộ xương già. Bệ hạ cũng nên bảo trọng long thể, thần xin cáo lui. ”

Chu Đệ phẩy tay, cho Hồ Quý Li đi. Trông y hiện giờ chẳng còn vẻ gì là hứng thú với ông già tóc bạc ấy nữa.

Trong đêm khuya thanh vắng, thái giám cung nữ hầu hết đã say giấc nồng. Nhưng đám thị vệ tuần đêm thỉnh thoảng lại nghe tiếng ai lẩm bẩm theo ánh trăng phả vào ngọn gió khuya.

“ Lấy giả làm thật, hay lấy thật làm giả? Đều mâu thuẫn như nhau cả. Hồ Quý Li ơi Hồ Quý Li, không tệ. Lời thách thức này của ngươi trẫm tiếp nhận. ”

Lịch sử hai nước chỉ ghi lại cả Hồ Quý Li lẫn Chu Đệ đều lên ngôi bằng cách đoạt lấy giang sơn từ tay người khác, mà chẳng hề nói gì thêm. Thế nên rốt cuộc hai người là người như thế nào, có phải cùng một loại người không hay tất cả chẳng qua chỉ là sự trùng hợp rất đỗi ngẫu nhiên của lịch sử…?

Hậu thế chẳng ai biết được.

Sáng hôm sau…

Chu Đệ lại tiếp kiến một vị khách quý đến từ phương nam khác.

“ Chẳng mấy khi thiền sư vào triều, ban ghế cho ngồi. ”

“ Tuệ Tĩnh tạ chủ long ân. ”

Tuệ Tĩnh thiền sư hành lễ, rồi thản nhiên ngồi xuống. Bá quan văn võ trong triều ai cũng thấy ghen tị, không hiểu ông già này là ai mà lại được Chu Đệ đối xử đặc biệt đến thế.

Minh thành tổ nhoài lên, hồ hởi vô cùng:

“ Lần này đại y thiền sư vào triều, phải chăng là đã nghĩ thông suốt muốn ra sức phục vụ cho trẫm, tế thế cứu dân?? Chỉ cần một cái gật đầu của thiền sư, ngôi vị quốc sư chắc chắn về khanh. ”

Tuệ Tĩnh đáp:

“ Cảm ý tốt của bệ hạ, nhưng thứ cho thần tội bất kính. Tuệ Tĩnh giờ chỉ muốn dốc lòng học y cứu người, không cầu thêm điều gì. ”

“ Không vội, không vội. Cứ từ từ nghĩ cũng được. ”

Chu Đệ chẳng những không nổi giận, còn cười xoà như thể cho qua.Tuệ Tĩnh lại đứng dậy chắp tay, nói:

“ Lần này vào cung một là muốn lấy mấy cây nhân sâm trong dược khố, hai là muốn nhờ bệ hạ chuyện này. ”

“ Thiền sư cứ nói. ”

“ Chẳng là gần đây bần tăng gặp qua một chứng quái bệnh, không biết trị ra làm sao. Lại sợ nhỡ nó bộc phát thành dịch thì thật là nguy hiểm. Lúc ấy chúng sinh ắt sẽ đồ thán, bách tính ắt phải lầm than. Thế nên mới mạo muội vào cung xin bệ hạ ân chuẩn cho mượn Ngự Thư phòng ít bữa. ”

“ Đến đại y thiền sư cũng phải bó tay, quái bệnh kia đúng là không tầm thường. Hi vọng thiền sư có thể sớm tìm ra manh mối trong ghi chép của tiền nhân, trị dứt quái bệnh cho trăm họ được nhờ. ”

Chu Đệ phất tay múa bút, loáng cái đã viết xong thánh chỉ cho Tuệ Tĩnh toàn quyền ra vào Ngự Thư phòng ba ngày ba đêm. Chẳng cần y ra hiệu, thái giám sau lưng đã cung kính chuyển chiếu chỉ trên bàn xuống tận tay Tuệ Tĩnh. 

Thiền sư tiếp nhận chiếu thư, theo lễ là phải quỳ gối, khấu đầu. Xong ông chưa kịp hành lễ, Chu Đệ đã lên tiếng:

“ Thiền sư miễn lễ. Trẫm nhớ không nhầm thì thiền sư giờ đã ngoài thất tuần, là tiên thọ rồi. Nên bảo trọng thân thể, sau này vào cung gặp trẫm chỉ cần hành nửa lễ là được rồi. ”

Tuệ Tĩnh thiền sư biết Chu Đệ thực lòng quý mến tài mình, song làm ngự y có khác nào chim nuôi trong lồng cá nhốt trong ao? Khi ấy dân gian với mình chỉ cách nhau một lần tường, nhưng lại xa không thể với được nữa.

Tuệ Tĩnh lui xuống, bèn trước tiên ra dấu cho hai đứa nhóc đang chơi gần đó đi theo mình. 

Hôm nay Tạng Cẩu mặc đồ của thái giám trong cung, tay với vạt áo cứ phải kéo lê tha lê thê rất là vướng víu. Cứ đi hai ba bước là vấp lên vấp xuống, ngã tới ngã lui làm thằng bé này cáu lắm.

Hồ Phiêu Hương thì mặc đồ của cung nữ, dáng vẻ uyển chuyển thướt tha. So với Tạng Cẩu thì đúng là thiên nga đi cạnh vịt bầu.

Tuệ Tĩnh dẫn hai đứa đến Ngự Thư Phòng. Có thánh chỉ của Chu Đệ, lính canh túc trực ở ngoài không ngăn cản ba người.

Cửa mở.

Mùi giấy hung hãn cuốn ra ngoài như một trận cuồng phong, phả thẳng vào mặt ba người. Mùi hương ấy hăng đến độ, cả ba không ai mở nổi mắt.

Bên trong căn nhà lớn chất quá nhiều sách vở, lại hiếm khi mở ra cho người ta vào, mới tạo nên tình trạng ấy.

Rộng lớn.

Mới bước đến bậc thềm thôi, mà đã có cảm giác choán ngợp, tưởng như ba người lạc vào tư dinh của ông bá hộ giàu có nào chứ chẳng phải phòng sách.

Xuất phát từ tính tò mò ham chơi của trẻ con, vừa bước vào Ngự Thư Phòng là hai đứa đã cuồng chân không chịu được. Tuệ Tĩnh chưa kịp lên tiếng can ngăn, thì hai đứa nhóc tì đã hoá thành hai con ngựa đứt cương, lao vút đi ngó nghiêng khắp nơi. Thiền sư cũng chỉ đành cười khổ, đồng thời cũng thầm khen khinh công của chúng.

Trái, phải, trước, sau. Trải dọc cả bốn bức tường Ngự Thư Phòng là cơ man không biết bao nhiêu là sách. Quyển này về y thuật, quyển kia bàn binh pháp. Mé này là sách thời Tống, chỗ kia là sách thời Đường. Có đến mấy vạn quyển, tất cả đều được sắp xếp theo chủ đề và niên đại. Sách vở càng ở trên giá cao, thì càng cổ xưa quý giá.

Trong Ngự Thư Phòng có đặt cả bàn đọc sách và một chiếc giường đơn, để hoàng đế nếu như lui lại đây đọc sách, thì tiện nghỉ ngơi luôn cũmg được.

Tạng Cẩu và Phiêu Hương chạy quanh một vòng coi như giãn cân giãn cốt. Duỗi vai duỗi gối xong rồi, hai đứa rồi bắt đầu chuyện chính ngay. Chúng mò đến những quyển sử nhà Tống trước tiên, tiêu biểu là pho Tống Sử.

Tương truyền bộ sách do Thoát Thoát – một người Mông Cổ viết, nên khá đáng tin cậy.

Nhưng Tống Sử có đến bốn trăm chín mươi sáu quyển, hai đứa muốn kiểm tra hết chỗ sách đó, nhanh lắm cũng mất vài tháng.

Tạng Cẩu gần đây mới bắt đầu đọc chữ, thấy đống sách sử này đã nhiều còn lắm chữ, bắt đầu thấy đầu đau óc nhức.

“ Hương này, nên bắt đầu từ lúc nào?? ”

“ Thánh tổ Khổng Lồ sống vào thời vua Lý Thần Tông, Lý Nhân Tông. Quân Tống sang đánh nước mình vào thời Nhân Tông, nên cứ tìm xem năm đó ai cho quân đánh Đại Việt, rồi đọc kỹ về người đó. ”

Phiêu Hương nghĩ một chút, rồi nói.

“ Này, sao cái gì Hương cũng biết thế? ”

“ Tớ bị phụ hoàng bắt đọc sách từ bé, cái gì cũng phải học. Có được thư thái như Cẩu, hết làm trâu lá thì đi nghe cổ tích đâu? ”

Hồ Phiêu Hương đáp.

Nhắc đến cha, cô bé lại thấy hơi chạnh lòng.

Đã nửa năm trôi qua, nhưng Phiêu Hương vẫn chưa làm quen được với chuyện cha cô bé đã mãi đi xa rồi.

Cô bé dốc sức đọc đủ loại sách, học đủ thứ trên đời, cũng chỉ mong cha mình vui.

Nay tuy Hồ Hán Thương đã không còn tại thế mà khen cô nữa, song những gì học được từ bé, đến lúc này bắt đầu hữu ích, phát huy tác dụng.

“ Thế thì tìm nhanh lên. ”

Tạng Cẩu reo lên.

Hai đứa nhóc vùi đầu vào sử sách, Tuệ Tĩnh thiền sư cũng không ngồi không. Trước bàn trà của ông để không biết bao nhiêu là thư tịch liên quan đến y thuật y đạo, chữa bệnh cứu người. Trong đó có cả những cuốn viết từ đời nhà Hán.

Chuyện ông muốn trị quái bệnh thực ra không phải là giả. Vài hôm trước, Nguyễn Phi Khanh đã kể cho ông nghe về triệu chứng lạ của cô bé Hằng. Thế nên, lần này nhập cung xin vào Ngự Thư Phòng, dù việc chính vẫn là giúp hai đứa nhóc tìm hiểu chuyện của thánh tổ Khổng Lồ, nhưng ngoài ra cũng là để nghiên cứu quái bệnh..

Tâm tính tỉ mỉ, thấu hiểu nhân tâm và khả năng quan sát đáng sợ của Chu Đệ khiến ông không thể không đề phòng. Tuệ Tĩnh tự biết, chỉ cần ông hơi có ý bịa điều đặt chuyện nói dối, y tất nhiên sẽ nhìn thấu.

Nhưng nếu ông nói thật thì sao??

Chuyện của cô bé Hằng vừa hay lại là một cái cớ, một sự che giấu hoàn hảo cho mục đích chính của ba người.

Thời gian thấm thoắt, nhoáng một cái ba người đã ở trong Ngự Thư Phòng hết hai ngày hai đêm. Khoảng thời gian này Chu Đệ vẫn cho Ngự Thiện phòng làm cơm canh chay tịnh mang đến cửa phòng, đúng giờ đúng bữa, vô cùng cẩn thận.

Có thể thấy y rất coi trọng Tuệ Tĩnh thiền sư.

Suốt thời gian nọ, Tuệ Tĩnh vừa chuyên tâm đọc Tống sử cùng hai đứa nhỏ, lại vừa nghiên cứu hàng đống sách cổ về y đạo đặng chữa trị cho cô bé Hằng. Hai đứa nhóc cũng chăm chỉ vừa đọc, vừa dạy nhau. Thế nhưng công cốc vẫn hoàn công cốc, tay trắng vẫn là tay trắng.

Suốt hai ngày đằng đẵng chỉ có đọc và đọc, nhưng vẫn chẳng thấy bóng dáng tăm hơi. Đừng nói là truyền tích, ngay cả tên của thánh tổ là Minh Không, tên huý Đạo Thành hay pháp hiệu Không Lộ cũng không thấy xuất hiện.

Tạng Cẩu chưa quen mặt chữ, không giúp được gì nhiều, chỉ thầm trách mình vô dụng.

Sang ngày thứ ba, tình hình vẫn chưa thấy có khởi sắc gì đáng kể.

Tạng Cẩu thở dài thườn thượt, ngồi tựa vào giá sách mà người cứ trượt xuống sàn. Quyển sách úp lên mặt, tay day day thái dương, đầu nó đau đến nỗi nó còn không muốn đứng dậy.

Hồ Phiêu Hương vẫn chú tâm vào tìm kiếm, ngón tay lá hành lần theo từng dòng chữ. Nhưng tìm mãi, tìm mãi, rốt cuộc cô bé cũng phải lên tiếng:

“ Thời Tống Thần Tông không thấy gì khác lạ. Cả thời Anh Tông, Triết Tông và Huy Tông cũng đã xem qua một lượt. Nhưng tung tích của thánh tổ vẫn mờ mịt. Chẳng lẽ, Khổng Lồ sang Tàu vay đồng chỉ là chuyện dân gian truyền miệng nhau? ”

Thiền sư Tuệ Tĩnh xua tay, nói:

“ Chuyện giả mấy cũng có hai phần là thật. Huống hồ báo chết để da, người ta chết để tiếng. Ông tin thánh tổ linh thiêng chỉ đang thử lòng mình thôi. ”

Nhưng nói thì nói vậy, ba người đều cảm thấy có chút khẩn trương. Bởi lẽ, hôm nay đã là ngày cuối cùng ba người được ở trong Ngự Thư Phòng rồi. Tốn nhiều công sức như thế, mà nay phải về tay không, thật đúng là khó chấp nhận.

Đúng lúc này, bên ngoài có tiếng gọi ỏn ẻn của Lí công công:

“ Đại y thiền sư, ông có trong đó không?? ”

Tuệ Tĩnh ra dấu cho hai đứa nhóc im lặng, rồi cất lời hỏi lại:

“ Lí công công. Theo Tuệ Tĩnh biết thì nay vẫn chưa hết kì hạn ba ngày cơ mà? ”

“ Hoàng thượng có việc triệu kiến, bản công công chỉ biết vâng mệnh truyền khẩu dụ. ”

Tuệ Tĩnh thiền sư đánh mắt, bảo hai đứa nhóc trốn vào gậm giường. Rồi mới ra mở cửa.

Chương 115: Hồi mười lăm (5)

Lí công công đã đứng đợi ông sẵn, gương mặt so với lúc bình thường còn trắng bệt nhợt nhạt hơn. Hau tay y giấu trong tay áo, mắt thì cười híp mí. Nói đoạn, y ỏn ẻn:

“ Ông mau đến thượng uyển gặp hoàng thượng đi, bản công công còn phải gọi thái y. ”

“ Thái y? Xảy ra chuyện gì à? ”

“ Trời đất quỷ thần, ông không biết thật đấy hử. Có chuyện. Chuyện động trời! Mới nãy có thích khách muốn hành thích hoàng thượng. 

May mà Huệ Thục phi lấy thân cản một chưởng thay hoàng thượng, bảo vệ long thể an khang. Nhưng nay ngọc thể bất an có thể sẽ hương tiêu ngọc tán, nên hoàng thượng mới phải vời ông ra gặp gấp. ”

Tuệ Tĩnh thiền sư nghĩ thầm:

[ Mạng người là quý giá, xem ra thánh tổ không muốn người đời biết tung tích của mình rồi. ]

Nói đoạn, ông nói:

“ Để tôi vào lấy cái tráp rồi đi ngay. ”

“ Nhanh lên đấy, bản công công không đợi đâu. Xin phép đi trước. Mấy người các ngươi nữa, còn không mau đi truy bắt thích khách?? ”

Lí công công mới dứt lời là tất tả đi ngay, không thèm ngoái lại lấy một cái.

Tuệ Tĩnh thiền sư vào phòng khép cửa, lấy tráp hành nghề, rồi dặn hai đứa nhóc:

“ Có người cần ông cứu chữa, không thể giúp hai đứa tiếp được. Ngày mai ông quay lại đón cả hai. ”

Tạng Cẩu và Phiêu Hương lăn ra khỏi gầm giường, trong khi Tuệ Tĩnh thiền sư khép cửa lại và lui ra ngoài.

Ông bắt đầu rảo bước, đi nhanh về phía trước, đầu hồi tưởng con đường nào ngắn nhất để đến vườn thượng uyển cho kịp cứu người. Nhiều năm làm quan trong cung cấm khiến ông cũng biết tương đối đường đi lối về, không đến nỗi nhất thiết phải có người dẫn đường chỉ lối.

Tuệ Tĩnh đi qua ba lần cửa lớn, mấy dãy hành lang liền mới đến thượng uyển. Trong tiểu đình mái đỏ, bàn ghế đổ ngổn ngang. Chu Đệ đang tựa lưng vào cột đình, tóc xoã tung, mũ cổn rơi lăn lóc cả ra đất. Máu đào văng ra, đẩy tràn sương đêm khỏi những kẽ hở trên thềm đá.

Cẩm Y vệ đứng vây quanh tiểu đình, không để ai đến gần quá ba bước. Tuệ Tĩnh vừa mới đi tới, vài lưỡi đơn đao sáng loáng đã kề lên cổ, lên trán ông.

“ Không được vô lễ. ”

Chu Đệ quát lên, mắt y mở ra, trong đôi mắt lửa giận long lên, bện vào nhau thành từng vết máu đỏ lừ.

“ Thiền sư, ngài đến đúng lúc quá. ”

“ Thần mạn phép. ”

Tuệ Tĩnh thiền sư cúi xuống, bắt mạch cổ tay của vị quý phi đang nằm trong lòng Chu Đệ. Lúc này ông mới giật mình, kinh ngạc. Té ra bà này không biết tí võ công nào, nên kì kinh bát mạch trong cơ thể đã bị một chưởng của thích khách kia xoắn nát bấy cả.

Còn giữ được một hơi… đã là một kì tích.

Tuệ Tĩnh nhìn Chu Đệ, thở dài:

“ Đúng là không nhìn ra bệ hạ cũng có hứng thú với mấy môn điêu trùng tiểu kỹ này của đám giang hồ thảo mãng chúng thần. ”

Chu Đệ cười nhạt:

“ Lật nghiêng đất trời, quét ngang thiên hạ trẫm đều đã từng làm, chuyện có chút võ nghệ phòng thân có gì mà lạ? ”

Sau đó, lại dùng ánh mắt chờ mong nhìn Tuệ Tĩnh.

Thiền sư bèn lấy trong tráp gỗ ra mấy cây kim bạc, cái mảnh nhất chỉ như sợi tóc thiếu nữ. Nói đoạn, thiền sư thi châm cắm vào toàn những huyệt yếu hại trên người Huệ Thục Phi.

Bách Hội hai cây, hai bên Thái Dương mỗi bên một cây, Nhân Trung một cây, Đan Điền Khí Hải Tam Âm Giao mỗi chỗ ba cây, Dũng Tuyền và Đại Lăng mỗi nơi hai cây.

Chu Đệ trông thấy châm nào cũng đâm vào huyệt tử của ái phi, thì không khỏi nhíu mày. Phải biết, phàm là thi châm vào những chỗ này, thì tính mạo hiểm đều rất cao. Kim đâm hơi nông một chút thì vô dụng, mà đâm chỉ cần sâu một xíu thôi cũng chết người như chơi.

Thành thử dù y rất tin tưởng Tuệ Tĩnh thiền sư, cũng không khỏi hồi hộp.

“ Thiền sư, ông định làm gì? ”

“ Kinh lạc trong cơ thể con người ta chẳng ai giống ai hoàn toàn, nội lực của bần tăng lại chưa đến cái mức tuỳ tâm sở dục. Thế nên muốn giúp quý phi xây lại kinh lạc toàn thân, thì phải có ngân châm này để làm dấu. ”

Trong lúc Tuệ Tĩnh thiền sư giải thích, đỉnh đầu ông đã bắt đầu bốc khói trắng.

Cẩm Y vệ cận thân của Chu Đệ, ai mà không phải hảo thủ một địch mười. Thế mà từng lời từng chữ thiền sư nói đối với họ đều như sét đánh ngang tai.

Kinh mạch đứt rồi, coi như đã chết một nửa. Cứu được đã là may, đừng nói đi đứng bình thường.

Không ai dám tin điều mình vừa nghe.

Nhưng đỉnh đầu Tuệ Tĩnh bốc khói mờ, ấy là dị tượng khi cao thủ trong cao thủ nội gia hành công mới gặp.

“ Thì ra ông già này võ công cao đến thế. Chỉ sợ y thuật cũng không vừa. ”

Cả đám tên nào tên nấy chặc lưỡi than.

Y thuật Tuệ Tĩnh cao cỡ nào, Chu Đệ là người hiểu rõ nhất.Vì tám đại lạc mạch, mười hai đường chính kinh của ái phi mình quả thực đang được Tuệ Tĩnh dùng chân khí nặn lại như cũ.

“ Trên châm bôi thuốc gì vậy?? ”

Chu Đệ trầm giọng.

Dù Huệ Thục phi không có võ công, chỉ dựa vào chân khí của một người để đắp lại kinh mạch là chuyện không tưởng.

Thế nên, chắc chắn ngân châm Tuệ Tĩnh dùng cũng không phải vật tầm thường.

Tuệ Tĩnh mới nói:

“ Là độc của con so biển, là một loài quái thú sống ven biển. ”

Dùng độc trị độc đã là chuyện lạ, nhưng dùng độc chữa bệnh cứu người, thực là chuyện ít thấy trên đời.

“ Trẫm cũng có nghe qua. Độc tính của thứ này có thể xứng bốn chữ thiên hạ vô song, hơn cả ngũ độc. ”

“ Thuốc có ba phần độc. Trái lại, độc cũng có ba phần là thuốc. Độc so biển dẫu có đáng sợ, nhưng nếu dùng thứ khác trung hoà bớt lại, có thể giúp quý phi giữ một hơi thở. ”

Một hoàng đế, một thường dân, bình thản nói chuyện với nhau dưới mái đình. Ai không biết còn tưởng hai người nọ là tâm giao đang đàm đạo, chứ không phải Tuệ Tĩnh đang vất vả cứu người. Và cái người đang lay lắt như chỉ mành treo chuông kia không phải ái phi của Chu Đệ.

Chỉ có kẻ khác là lạnh gáy trước những thứ họ trao đổi với nhau mà thôi.

Sau hơn một canh giờ…

Tuệ Tĩnh mới thu tay, thở dốc ra một hơi.

Một hơi thở này lìa ra khỏi miệng mà ông như thể già đi mười tuổi. Gương mặt vốn đã hơi gầy nay càng trắng bệch, tái xanh và hốc hác.

Kim bạc được rút ra từng cái, từng cái, xếp lại ngay ngắn vào tráp gỗ.

Chu Đệ ngả hẳn vào cột đình, thở hổn hển.

“ Khó mà tin được. Thiền sư quả là thần y. Hoa Đà Biển Thước có sống lại e cũng không hơn nổi. ”

“ Bệ hạ quá khen. Không có hai vị tiền bối đi trước mở đường, bản lĩnh của Tuệ Tĩnh cũng không được như bây giờ. ”

Chu Đệ vừa chỉnh chang lại đầu tóc, mắt khép hờ như trước, lại khen:

“ Tuệ Tĩnh thiền sư hơn hai vị thần y ở chỗ có thần thức siêu phàm. Không cần trẫm cho người báo tin cũng biết ái phi bị nạn. ”

“ Cái gì?? Không phải bệ hạ sai Lí công công đến tìm thần sao?! ”

“ Sao có thể? Lí công công là… hỏng rồi! ”

Lí công công không đi xa.
Y chờ Tuệ Tĩnh thiền sư đi khỏi, bèn quay trở lại Ngự Thư phòng, đẩy cửa ngang nhiên bước vào.

Lí công công quét mắt nhìn khắp phòng, nhưng chỉ có một đống sách vở thư tịch để la liệt dưới sàn, ngoài ra không thấy một bóng người nào.

Đột nhiên…

Gã thái giám phun ra một búng máu to, loạng choà loạng choạng đi đến bên giường. Y phải vịn thành giường mà ngồi xuống, nếu không ắt sẽ ngã lăn ra, chỉ khiến thương thế càng tệ thêm. 

Y mở mồm độc thoại, câu nào câu nấy cứ xì xà xì xồ, không biết là thứ tiếng gì. Song chắc chắn không phải tiếng Tàu, càng không phải tiếng Việt..

Nghe ngữ khí y có vẻ hằn học, xem chừng là nói tới cừu nhân.

Hai đứa nhóc Tạng Cẩu, Phiêu Hương chưa từng rời khỏi căn phòng, mà đang trốn dưới gầm giường. Lúc này chúng nép sát vào nhau, nằm im thin thít dùng Quy Tức công không dám thở mạnh. Chỉ sợ tên thái giám ngồi trên đầu phát giác ra.

Phiêu Hương đang mặc đồ của cung nữ, xiêm y áo xống thướt tha hết lớp nọ đến lớp kia, rườm rà và vướng víu vô cùng. Tạng Cẩu phải giúp cô bé giữ vạt váy, kẻo xiêm áo loà xoà lộ ra khỏi gậm giường.

Mà như thế, vô hình trung khiến Phiêu Hương nằm sát sạt nó, chóp mũi hai đứa tưởng như có thể chạm vào nhau bất cứ lúc nào. Ánh mắt long lanh của cô bé như vuốt lên mặt nó, khiến lông tơ sau gáy Tạng Cẩu dựng đứng cả lên. Mặt nó đỏ hồng, tưởng như có máu sắp rỉ ra khỏi lỗ chân lông.

[ May mà lúc nãy Tạng Cẩu kéo mình lăn vào gậm giường, không là bị hắn phát hiện rồi. ]

Phiêu Hương tròn xoe mắt, nhìn chăm chăm vào đầu vai Tạng Cẩu. Lúc nãy cô bé giật mình, đã nhằm chỗ đó mà cắn. Cũng may thằng nhỏ này đã kiểm soát được nội lực của mình, chứ nếu như hồi ở Kỳ La, hàm răng của Phiêu Hương đã bị phản chấn cho phải rụng mất vài cái là ít.

Lạ ghê. Tạng Cẩu bị cắn cho tím tái cả vai, song lại chẳng thấy đau. Trái lại cứ có cảm giác là lạ, nửa ngượng nửa lo, lại háo hức hồi hộp sao sao. Dẫu nó vẫn chưa có khái niệm nam nữ rõ ràng, nhưng vẫn thấy ngượng theo bản năng. 

Đặc biệt là đôi mắt của Phiêu Hương. Ánh nhìn chăm chú càng làm cặp đồng tử đen láy kia sâu thẳm hơn, hút hồn hơn. Tạng Cẩu như chìm vào đôi mắt đó, như cái gầu nước chìm vào cái giếng nước đầu làng.

Cánh đào hồng thắm ngậm sương đông ướt át hé nở, hương thơm nhẹ nhàng mà vẫn quyến luyến lấy linh hồn người con xa xứ.

Bất giác, Tạng Cẩu nhích lại gần một chút.

Mũi hai đứa chạm vào nhau.

Nó có thể cảm thấy vai cô bạn khẽ run lên, như là khó chịu lắm. Tạng Cẩu bắt đầu thấy cuống, ngộ nhỡ không cẩn thận kích vào ván giường đánh động tên thái giám phía trên thì phải làm sao?

Trong lúc ngàn cân treo sợi tóc, thằng bé chợt nảy ra một ý. Nhưng không kịp cân nhắc thiệt hơn, vì đôi vai cô bạn nó đã run lên dữ lắm rồi.

Nó cúi đầu xuống, mắt khép lại vì ngượng. Còn nguyên nhân vì sao nó phải xấu hổ, có nọc nó ra tra tấn nó cũng chả nói được.

Môi nó chạm lên cánh hoa chớm nở. Cảm giác ấm áp xộc lên đầu hai đứa, rồi chạy rần rần qua sống lưng như một dòng điện. Trong giây phút ấy, không đứa nào nghĩ được cái gì cả.

[ Nội công của Hương không tốt, chắc không dùng Quy Tức công nén hơi được nữa. Bây giờ mà hắn nghe tiếng thở của mình thì hỏng mất. 

Có cách rồi! Nội công mình cao hơn, chỉ cần mình truyền bớt khí cho cậu ấy, thế nào cũng cầm cự được.]

Trước khi cúi xuống Tạng Cẩu đã nghĩ như thế. Còn bây giờ thì đầu nó đang trống trơn.

Phiêu Hương trợn to mắt lên nhìn thằng bạn bằng ánh mắt sững sờ, vành tai cô bé phơn phớt đỏ lên như quả đào, nóng rừng rực.

Cả người cô bé không còn run nữa, mà sững ra cứng nhắc như một khúc gỗ.

Chân khí âm ấm truyền xuống cổ, tan vào tứ chi, kinh lạc toàn thân. Đáng ra là hô hấp sẽ thoải mái thư thái hơn trước, nhưng lúc này Phiêu Hương còn tâm trí đâu mà để tâm đến chuyện đó cơ chứ???

Tạng Cẩu cảm thấy đầu vai cô bạn tựa lên ngực mình đã không còn run, bèn nghĩ thầm:

[ Quả nhiên là hiệu quả. Mình biết ngay mà. ]

Thấy có vẻ hiệu quả, nên nó càng tin vào phán đoán của mình. Đến bây giờ Phiêu Hương cũng đã trải qua cảm giác sốc ban đầu. Cô bé bắt đầu rùng mình, dùng hai tay cố gắng đẩy Tạng Cẩu ra. Thấy bạn mình lại bắt đầu vùng vẫy, thằng bé lại tưởng nó không truyền đủ chân khí nên cô bé mới thấy khó chịu. Thế là nó giữ chặt Phiêu Hương hơn, không cho cô bé vùng vẫy nữa, sợ đụng vào ván giường. Đoạn, nó tiếp tục truyền chân khí vào.

Người học võ, ngoại trừ việc hô hấp bình thường, còn có một loại hô hấp khác, người ta gọi là thai tức. Tức là việc hấp thụ khí qua các đường kinh lạc trong cơ thể như thai nhi trong bụng mẹ. Thai tức ấy có thể coi là căn bản của khí công. Nội công càng cao thâm, thì thai tức càng mạnh, hô hấp cũng càng lúc càng dài. Sở dĩ một hơi thở của Quận Gió, của Khiếu Hóa tăng lâu gấp mấy người thường cũng vì lẽ này.

Chân khí khác với không khí.

Rất khó miêu tả, nhưng không khí theo miệng vào phổi rồi thôi, tức là chỉ đến được nửa người. Còn chân khí, sau khi vào cơ thể, sẽ xuống ngực bụng rồi tay chân, tỏa đi khắp cơ thể.

Cũng vì lẽ này Tạng Cẩu truyền khí cho Phiêu Hương, cô bé mới không chết ngạt.

Lý công công ngồi ngay trên đầu hai chúng nó, song vì thương thế khá nặng, nên vẫn chưa cảm thấy có gì lạ dưới gầm. Y ngồi một lúc, vận công hồi khí, khi vết thương bớt đau rồi mới lấy trong tay áo ra một tờ giấy. Chính xác mà nói, là một bản vẽ.

Đúng lúc này, Phiêu Hương giật mạnh gối lên một cái, thụi trúng bụng của Tạng Cẩu. Thằng nhóc theo bản năng co người dậy, đầu đánh cốc một cái lên ván giường.

Tiếng động bất ngờ khiến Lý công công giật mình, đánh rơi cả thứ đang cầm trên tay.

Tờ giấy rơi xuống, trượt vào gậm giường, dừng lại đúng tầm mắt của hai đứa nhỏ.

Ấy là bản vẽ của pháo Thần Cơ.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau