THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 11 - Chương 15

Chương 11: Hồi bốn (2)

Cô gái người Nam vung đao lên muốn chém, nhưng lần này đã bị Liễu Thăng chiếm trước tiên cơ. Từ nãy tới giờ, Tử Tiêm ngoài mặt chỉ quan sát hai người, song đã âm thầm vận nội lực, súc khí không phát. Nay nhân lúc cô bị phân tâm bởi tiếng tù và mà vỗ mạnh một chưởng lên đốc thương.

Thanh kim thương nặng trên hai mười cân ta như hoá thành một mũi tên, vèo một cái bắn tới chỗ cô gái. Đây chính là tuyệt chiêu gia truyền của nhà họ Liễu, Bách Bộ Xuyên Vân Thương. Liễu Thăng đã bắt đầu khổ luyện chiêu này từ khi biết cầm thương, thế nhưng hiện tại cũng chỉ coi như có chút hỏa hầu mà thôi.

Cô thoáng giật mình một cái, không ngờ đối phương vẫn còn có lực phản kháng. May là phần từ eo trở xuống của Liễu Thăng đang bị thân ngựa chèn lên, khiến kinh lạc bán thân tắc nghẽn nên chỉ dùng được lực của nửa người trên. Ngọn thương vì vậy lao đi chậm và yếu hơn, song cũng không thể coi thường được.

Cô gái nọ kịp thời phản ứng, vội vàng đề khí nhảy lui lại một bước, nhẹ nhàng tránh khỏi ngọn thương. Có bộ thân pháp kì diệu kia, hai người Tạng Cẩu không làm gì nổi cô bé.

Liễu Thăng thấy chiêu thức liều mạng của mình thất bại, chỉ biết lắc đầu cười khổ, buông thõng hai tay chờ chết. Đánh xong đòn đó, cậu biết bản thân mình đã là nỏ mạnh hết đà, hiện giờ muốn nhúc nhích một ngón tay cũng cảm thấy khó khăn chứ đừng nói đến việc phản kháng.

Tử Tiêm nhớ lại toán bộ binh đã hi sinh mà thở dài:

[ Lần này là ta hại mọi người, xin xuống dạ đài tạ tội. Nhưng chẳng lẽ cứ kệ Tạng Cẩu phải chết trẻ theo mình? Không được, đệ ấy còn thù cha mẹ chưa trả, sao có thể vong mạng ở đất này được? ]

Liễu Thăng cố đánh mắt ra hiệu cho Tạng Cẩu mau mau thừa lúc này mà bỏ chạy. Cậu không dám lên tiếng, vì khinh công của cô bé kia cao siêu lắm lắm, sẽ bắt kịp Tạng Cẩu ngay thôi.

Thế nhưng Cẩu cũng làm lơ ánh mắt thúc dục của Liễu Thăng. Nó bước tới một bước, giang tay ra che cho cậu. Lúc này, Tạng Cẩu thấy rất mâu thuẫn.

Một mặt, cái đầu mách bảo nó phải mau mau tìm chỗ nào núp thật kín như nó vẫn làm trong hai trận chiến trước. Nó muốn trả thù cho dân làng, nên trước hết phải sống đã. Song mặt khác, trái tim bắt nó đứng yên lại, đóng đinh đôi chân nó vào mặt đất.

Đệ yên tâm, sau này cứ gặp một tên tướng Ngu nào trên chiến trường, người làm đại ca này sẽ xiên hắn mấy chục nhát cho thành tổ ong luôn.

Nó nhớ lại cảnh tượng máu chảy đầu rơi ở thôn Điếu Ngư mà tự hỏi lòng mình, nếu như có một cơ hội để làm lại, liệu nó có lao ra chết chung với mọi người hay không. Thực sự chính bản thân Tạng Cẩu cũng không biết.Vỗ ngực nói xuông thì dễ lắm thay, nhưng cháy nhà mới ra mặt chuột, chỉ lửa mới thử được vàng.

Tạng Cẩu quyết tâm đứng lại, có lẽ là do cô bé kia trông không đáng sợ nanh ác bằng hàng quân của Mạc Thuý, hoặc một lí do nào khác cũng không chừng. Đến chính bản thân nó còn không rõ tại sao mình tự nhiên lại ngốc như vậy, thì trên thế gian còn ai biết được kia chứ?

Nó chỉ biết, phải trơ mắt ếch nhìn người thân thương bên mình cứ lần lượt chết đi từng người từng người một… rất đau. Cứ như có bao nhiêu người chết, thì trái tim nó bị băm ra làm bấy nhiêu mảnh vậy.

Cô bé kia tránh hiểm được một thương, ánh mắt nhìn Liễu Thăng lập tức lạnh xuống.

[Nếu không nhờ có bộ khinh công kì diệu thì ta đã chết đến hai lần dưới tay tướng quân người bắc này rồi. Không nên giữ tên này lại! ]

Nghĩ thế, cô càng thấy Liễu Thăng là một địch thủ đáng gờm, triệt hạ được sớm ngày nào thì hay ngày ấy.

Cô biết Tạng Cẩu chỉ học được một chút công phu mèo ba chân, không có bao nhiêu uy hiếp với mình. Địch thủ chân chính là Liễu Thăng sau khi tung một đòn sấm sét cũng chẳng còn hơi sức nữa. Thế nhưng tiếng tù và thu binh càng lúc càng dồn dập khiến cô không thể chần chờ lâu hơn được.

Lưỡi đao trong tay cô được giương lên cao lần thứ ba, và lúc này thì chẳng còn gì có thể cản nổi cô nữa. Một nhát đao kế tiếp cô nhắm thẳng vào đầu Liễu Thăng, biết cậu mới là mối nguy hại đáng lo hơn. Tạng Cẩu biết không đánh lại cô, chỉ chặc lưỡi một cái liền nhào tới che cho người anh kết nghĩa của mình. Nhát đao của cô gái vốn là nhắm vào đầu Liễu Thăng, hiện tại lại lướt nhanh về phía trán Tạng Cẩu.

Có kinh nghiệm lúc trước, lần này cô quán đến tám phần nội công còn sót lại trong cơ thể vào lưỡi đao để đề phòng Liễu Thăng, không cho cậu có cơ hội đột nhiên phản kích. Cứ nghe tiếng đao rít gió là đủ biết chiêu này nặng tới mức nào. Thân máu thịt của Tạng Cẩu chắc chắn không chống nổi, đầu của nó hẳn là phải bị một đao bổ làm đôi.

Đinh!!

Tiếng thép lạnh va chạm nhau trong veo, cao vút bất ngờ bật lên.

Cô bé cảm thấy một luồng kình lực mạnh đến kinh người truyền vào thân đao, khiến lưỡi đao mỏng manh rung rung không ngừng. Hổ khẩu tê dại, năm ngón tay mảnh mai cũng không còn sức giữ vững được binh khí. Chuôi đao trượt khỏi bàn tay búp sen bay ra, rơi xuống đất nghe leng keng.

Cô kinh ngạc nhìn bảo đao yêu quý nằm cách đó không xa, lại quan sát viên bi sắt đang nhẹ nhàng lắc lư dưới chân. Nhận ra hình khắc mặt quỷ trên nó, khuôn mặt dễ thương của cô lập tức biến sắc.

“ Xin hỏi… vừa ra tay có phải ngài Quận Gió lừng danh đấy không? ”

“ Một tên trộm gà bắt chó thôi, xú danh thì có chứ lừng danh thì chẳng dám. ”Cô bé vội hướng ánh nhìn về phía tiếng nói, chẳng biết từ khi nào đã có một lão già đội nón tre đang đứng, vừa nốc rượu ừng ực vừa cười tự diễu. Vóc người dưới lớp áo tơi của ông nhỏ thó, lưng lại còn hơi còng xuống một chút. Nhưng không vì thế mà ba đứa nhóc dám coi thường ông, kể cả Tạng Cẩu.

Quận Gió một chân co lên, chân còn lại duỗi ra. Ngón chân cái chạm nhẹ lên một bông lau, vậy mà đầu cọng lau chỉ hơi trùng xuống còn thân ông cứ thẳng thớm vững vàng trên ngọn cỏ. Cứ như cơ thể ông không hề có trọng lượng vậy.

Hai anh em Liễu Thăng còn tốt một chút, riêng cô bé thì biết cảnh giới khinh công của Quận Gió thực chất cao cường tới mức nào.

[ Đạp nước Tây Hồ, hái hoa sen… xem ra truyền thuyết về vua trộm là sự thật rồi. Có lẽ so khinh công chỉ có ông nội mới hơi thắng y được một chút thôi. Không hổ danh là Quận Gió. ]

Sự tích Quận Gió đã lan truyền trong dân gian từ lúc Lê Đại Hành còn tại vị đến giờ, tính ra cũng mấy trăm năm. Ông là một tay đạo chích với thân pháp nhẹ tựa mây trời, nhanh như cuồng phong và binh khí độc môn Quỷ Diện Phi Châu bách phát bách trúng. Chính vì hành tung vô định, danh tiếng vang lừng suốt mấy thế kỷ, mà Quận Gió càng thêm thần bí.

Trong giới lục lâm nước Nam, ông là bá chủ - Đạo Tặc Chi Quân. Đầu thời Lí ông được người đời gọi là “ vua của ngàn tên trộm ”, nhưng sau vì quá bất nhã lại chẳng oai phong gì nên biệt hiệu ấy được mấy tay nhiều chữ thời ấy cải biên lại bằng Hán tự, hình như là để “ nghe cho oách ”.

Cốc! Cốc! Cốc!

Cô bé chưa hết kinh hãi, đang do dự không biết có nên bỏ chạy hay không thì sau lưng đã có tiếng ai gõ mõ đều đều vang lên.

Ngoái đầu, thì thấy đứng cách mình chỉ mấy bước chân đã chui ra là một hoà thượng trọc ăn bận rách rưới từ lúc nào không hay. Y đang nở nụ cười híp mắt rất hoà hảo, phối hợp thêm đôi má phúng phính lại càng dễ gây thiện cảm cho người khác.

Thế nhưng người học võ có một loại trực giác bí ẩn, rất mẫn cảm với nguy hiểm. Hoà thượng béo này có thể dễ dàng tiếp cận mà cô không hề hay biết, đủ thấy võ công y sâu không hề kém Quận Gió.

“ Khiếu Hoá Tăng cũng đến chốn thị phi này, đúng là hiếm có. ”

“ Mô phật, nhân vật như rồng thần trong mây là bác Gió đây cũng tới, bần tăng sao dám vắng mặt?? Chu choa, đây đúng là binh khí thành danh của bác Quỷ Diện Phi Châu rồi. Từ sau hội Chí Tôn năm ấy, ta cứ nhớ nó mãi mà nay mới có cơ hội gặp lại. Không biết bần tăng có thể giữ lại một viên này làm kỷ niệm chăng? ”

Hoà thượng nói đầy khách sáo, giọng y cứ như tiếng chuông chùa, vừa hay lại vừa dễ nghe. Nếu mới gặp lần đầu, có lẽ không ai nhận ra y chính là một trong bảy vị tông sư.

Câu thơ “ Khiếu Hoá chẳng biết phiền ” là nói về vị hoà thượng lúc nào cũng hớn ha hớn hở, cả ngày toe toét như ông địa này đây. Xem cái cách lão cười, cứ như lão chẳng hề biết đến bao nhiêu phiền não chốn nhân gian này vậy.

Trên giang hồ, Quận Gió dù võ công cực cao, hành động nghĩa hiệp nhưng sau cùng vẫn là người đứng đầu cả giới lục lâm, nói một câu khó nghe thì là phường trộm cắp cướp giật, giết người cướp của. Khiếu Hoá Tăng vì thế mới đổi cách xưng hô gọi y là “ bác Gió ” để thêm phần kính ý và thân cận.Quận Gió nghe thế chỉ cười, không muốn nhiều lời. Y cũng biết Khiếu Hoá Tăng say mê binh khí, ước nguyện cả đời là hoàn thành được cuốn sách Nam Phương Thần Binh phổ xếp hạng các thần binh lợi khí trong võ lâm nước Việt. Mà Quỷ Diện Phi Châu của Quận Gió cũng là một món vũ khí khét tiếng chốn giang hồ, dù xưng là một trong những loại ám khí bậc nhất thiên hạ cũng không có gì sai.

Thấy binh khí độc môn được danh gia như Khiếu Hoá Tăng tán thưởng, trong lòng Quận cũng thầm lấy làm tự hào.

Cả đời Quận Gió ngoại trừ việc cướp của bất nghĩa tặng người thiện lương ra, hai thứ y yêu thích nhất chính là khinh công và ám khí. Lai vô ảnh khứ vô hình vốn là phong cách đặc trưng của Quận Gió. Hôm nay y chủ động hiện thân đỡ giúp Tạng Cẩu một đao trí mạng, đã là chuyện hiếm có.

“ Bác Gió đã hiển lộ thân thủ, bần tăng mà không bêu xấu thì phải tội bất kính. ”

Khiếu Hoá Tăng mỉm cười đến bên Liễu Thăng, một tay ông nắm lấy yên ngựa, tiện tay giật một cái làm đứt luôn dây lưng da dùng để buộc yên vào lưng ngựa. Rồi ông tóm chặt một chân ngựa, khẽ phát lực. Tức thì, con ngựa nặng hàng mấy trăm cân bị ông nhấc bổng lên không, Liễu Thăng theo kẽ hở đó thoát ra ngoài với một chân đã gãy.

Về phần cô gái nọ thì ngoan ngoãn ngồi xuống đất, đao cũng không dám nhặt lên. Ở trước hai cao thủ võ công thượng thặng, cô biết mình không gây nổi sóng gió gì. Đặc biệt là một chiêu cuối cùng của Khiếu Hoá Tăng đã hiển lộ nội lực cao thâm khó lường của ông. Trên thực tế, trong bảy đại tông sư chỉ có hai người dám đấu nội công chính diện với ông mà thôi.

“ Nửa tháng nữa, Thiên Cơ lão đạo mở Quần Hùng yến ở thành Tây Đô ăn mừng chuyến này phù Trần thành công, khiến nhà Hồ đại bại. Không biết bác Gió có thể hạ cố ghé qua chung vui cùng mọi người hay không? ”

“ Không đi không được. “ Bắc phương thiên đạo kiếm ” đã mời cơ mà… ”

Quận Gió lim dim mắt nói, sau đó nhoáng một cái, cọng cỏ lau dưới chân ông đã trở lại tư thế tự nhiên của nó. Mà bóng Quận Gió thì đã mất hút tự lúc nào. Trong những người đứng trên bãi lau sậy, chỉ có mình Khiếu Hoá Tăng là nhìn rõ được thân pháp của ông. Vị hoà thượng này cũng phải chép miệng, trầm trồ:

“ Khinh công siêu phàm cỡ này… cả võ lâm đất nam ta hiện giờ hỏi có mấy ai bì được? Nhưng, tại sao ngữ khí ông ta lại có vẻ cổ quái nhạo báng nhỉ? Ài, đúng là khó hiểu. ”

Khiếu Hoá Tăng nhìn xuống đất rồi khẽ lắc đầu, tự biết về thân pháp mình thua Quận Gió không chỉ một chút. Trong lòng hoà thượng càng thêm bội phục võ công vị nghĩa tặc này hơn, nhưng cũng lấy làm lạ vì hành vi cổ quái của ông.

Chẳng bao lâu sau, một cột khói đen từ từ cuộn lên cao. Cả bốn người Khiếu Hoá Tăng đều đã phát hiện dị trạng này. Hoà thượng thì gật gù vẻ hài lòng, trong khi gương mặt cô bé đầu đeo lông vũ lại lộ hẳn vẻ kinh hoàng và sợ hãi.

Hướng mà đám khói bốc lên chính là nơi quân nhà Hồ dựng trại đóng quân. Đó không những là kho lương, mà còn là kho hoả dược nữa. Thuốc súng dùng cho pháo thần cơ mà cháy, chẳng những hậu phương thành tro mà thứ vũ khí mang tính quyết định kết quả cuộc chiến cũng sẽ trở thành một đống sắt vụn vô dụng ngay tức khắc.

Nay đã có khói bốc lên cao, chứng tỏ vừa có người tập kích thiêu trại, đốt lương.

Cô bé cầm đao tinh tế quan sát biểu hiện của mọi người. Trong khi Liễu Thăng và Tạng Cẩu nghệt mặt ra nhìn đám cháy, Khiếu Hoá Tăng lại làm như không có chuyện gì ngoài ý muốn xảy ra. Cô bé không phải đứa ngốc nên chỉ nhìn một cái là biết vị hoà thượng ăn bận rách rưới này ắt có can hệ tới vụ hoả hoạn.

[ Khốn nạn, giặc phương Bắc còn chưa công được trại, dân ta đã tự cắn người mình. Đám dân đen này đúng là ngu như lợn mới trúng kế li gián của giặc Minh… ]

Trong lòng nguyền rủa Khiếu Hoá tăng và Quận Gió một vạn lần, nhưng bề ngoài cô bé vẫn tỏ ra ngoan ngoãn ngồi yên một chỗ, không dám làm vị sư ăn xin để ý tới.

Khiếu Hoá Tăng vì muốn được thấy tận mắt bắt tận tay Giao Long Chuy của Hồng Giang Giao Long Phạm Hách và Thư Hùng Kiếm của Long Thành Kiếm Khách Phạm Lục Bình nên mới tới chờ sẵn ở đây, chứ cũng không có ý tham gia vào tràng đồ sát đồng tộc. Bất ngờ lớn nhất đối với vị hoà thượng là còn xin được thêm một viên Quỷ Diện Phi Châu của Quận Gió thôi.

Khiếu Hoá cứ nghĩ sắp được chứng kiến danh chuy cổ kiếm như ý nguyện bèn thấy ngứa ngáy trong dạ. Y chẳng còn tâm tư nào mà ở lại chốn này thêm nữa, bèn tiện tay điểm vào huyệt Kiên Tỉnh của cô bé mang đao, phong toả kinh mạch đôi tay của cô.

Thủ pháp điểm huyệt của lão là chẳng phải ngón công phu phổ thông chốn giang hồ, mà là phương pháp độc môn bí truyền. Người bị điểm không hề thấy ngứa ngáy khó chịu, sau 12 canh giờ huyệt đạo bị phong bế sẽ tự động hoá giải nhưng trước đó đừng hòng dùng được chút sức nào.

Dõi mắt khắp cả thiên hạ, ngoại trừ ông ta và sáu vị tông sư khác ra không có mấy ai có nội lực đủ sâu để giải huyệt được.

“ Tiểu tướng quân, ngài mang cô bé này về doanh trại đi, nhớ đừng để quân Hồ cứu về. Cũng đừng tra tấn hành hạ cô ta. ”

“ Đa tạ ông, ta đã hiểu rồi. ”

Chương 12: Hồi năm (1)

Muộn Hải khẩu quần hùng phóng hoả

Quân Minh thua, Trừng lại lui binh

Hãy cùng trở về quá khứ khoảng nửa canh giờ trước khi Quận Gió ra mặt.

Quân doanh nhà Hồ…

Một đoàn người lùi lũi đi từ phía nam lên, hướng về phía quân doanh. Bọn họ mặc áo rách, ở vai lúc lỉu một cái bị vá chằng vá đụp, trông dáng đi lọm khọm và hơi run rẩy. Tóc và chòm râu trắng hiện ra bên dưới tấm vải rách chùm đầu. Cánh tay lộ ra ngoài không khí đen xạm những miếng cao thuốc bắc.

Họ là ăn mày ư? Có lẽ nói là dân chạy nạn thì hợp lí hơn. Một toán mấy trăm nạn dân già yếu đang làm gì ở nơi chiến tranh loạn lạc này kia chứ?

Phía sau lớp rào gỗ, sĩ tốt nhà Hồ đã phát hiện được những người này. Họ lập tức tỏ ra cảnh giác. Có người hô hào gọi thêm người, kẻ thì chĩa giáo vào đám người không cho họ tiếp cận tường thành.

Một tốp nỗ binh đứng trên những cái thang gỗ tạm thời, lăm le mũi tên hướng về phía nạn dân. Chỉ một tiếng hiệu lệnh thôi, một trận mưa tên sẽ dội xuống đầu đoàn người.

Thế rồi…

Phía mặt bắc bất thình lình vang lên tiếng trống báo hiệu có địch tập kích, đồng thời có một tiểu tốt chạy lại thông báo yêu cầu điều quân cứu viện. Nỗ binh quét mắt nhìn đám người một cái, sau đó lục tục hạ nỏ trèo thang xuống. Nếu như mặt bắc bị tập kích, thì họ nên dàn bớt lực lượng qua bên đó để cứu viện.

Ngờ đâu, những người ăn mày đột nhiên quăng nón lên không trung. Rắc! Tiếng kêu giòn tan bật lên, lớp rào gỗ gia cố bằng những thanh tra ngà bị một vật gì đó nhọn hoắt phạt đứt. Đồng thời, một đống ám khí đủ thể loại cũng được ném vào qua các chỗ thưa của hàng rào.

Nào là những loại thông thường như Kim Tiền Tiêu, Thiết Tật Lê, Văn Tu Châm… Cho đến cả các loại độc môn hiếm thấy trên giang hồ như Khổng Tước Linh của Bách Điểu Sơn Trang trấn Thái Nguyên, Long Đỗ Chuỷ của phái Bạch Mã xứ Nghệ.

Bị đánh úp bất ngờ, khiến nhóm nỗ binh chẳng kịp trở tay. Một bộ phận trượt chân khỏi thang, ngã lên những người bên dưới. Mấy người đi đầu vận kình lực, vỗ một chưởng thật mạnh vào tường rào đã đứt đôi.

Binh lính nhà Hồ chỉ kịp nghe đánh " ầm " một tiếng, sau đó cát bụi mờ mờ dần cuộn lên từng đám từng đám. Vừa định thần nhìn lại, thì một đám người giang hồ đã túa vào. Lúc này họ đã dùng tay bôi nhoe nhoét lớp hoá trang trên mặt, nhìn không rõ diện mạo ai với ai cả.

Lọt doanh thuận lợi, cả đám bắt đầu tản ra hành động. Người thì châm đuốc đốt trại, kẻ thì múa đao lao vào đánh nhau với quân triều đình.

Binh nhà Hồ biết là trúng kế " Dương Đông Kích Tây ”, song hiện giờ binh lính các nơi đang túa cả về phía bắc thì lấy đâu ra quân nữa để chi viện? Ấy là còn chưa nói những nạn dân giả còn chuyên trị phái ra một người dùng khinh công lướt khỏi vòng chiến, tay nắm kiếm sắc chọc thủng lớp da căng mặt trống. Hết cái này đến cái khác bị tên này phá hoại, thành thử họ muốn kêu cứu viện cũng không được.

Thì ra từ nửa tháng trước quần hào võ lâm mấy tỉnh phía bắc từ đã nghe hiệu lệnh của " bắc phương thiên đạo kiếm ” - Thiên Cơ Lão Đạo toả ra khắp nơi, nghiên cứu cẩn thận đường đi lối lại của quân nhà Hồ để dễ bề chuẩn bị cho hành động lần này. Kế đó quần hùng âm thầm bám theo, phá hoại quân Đại Ngu để góp sức " Phù Trần ”. Trận thua nửa tháng trước của Hồ Nguyên Trừng cũng là do họ quấy rối mà nên.

May thay quân triều đình là binh lính chính quy được đào tạo bài bản. Họ nhanh chóng kết trận, phản kháng lại đợt tấn công như vũ bão của nhân sĩ võ lâm.

Những tay giang hồ thảo mãng này tuy võ công lợi hại hơn, nội lực cao thâm hơn thật, nhưng đánh chẳng có quy củ lề lối gì cả. Mạnh ai nấy đánh, sống chết mặc bay, chỉ thích hợp chuyện đánh tay đôi.

Trái lại, quân triều đình biết hỗ trợ, cảnh giới lẫn nhau nên lúc hỗn chiến thế này họ càng tỏ ra lợi hại hơn, dù bị đối thủ bỏ xa về chiến lực cá nhân.

Lúc này, Hồ Xạ đã kịp từ cánh tây chạy tới cứu viện. Y vốn đang trên đường tiếp viện cho mặt bắc, đi ngang qua đó thì nghe tiếng chém giết và ánh lửa vọng lại. Nhờ thế mà biết quân thủ trại do y và Hồ Đỗ cầm đầu đã trúng kế của địch.

Vội vàng gom được một cánh quân chừng trăm người, Hồ Xạ đang muốn đánh úp từ mé trái qua thì đã trông thấy một người lướt đi như bay, chọc trống nhanh thoăn thoắt. Y bèn cười khẩy, bảo thuộc hạ:

" Xem ta bắn rụng tên kia đây. ”
Nói rồi không chần chờ chút nào, rút ngay một mũi tên nhắm vào kiếm khách nọ mà phóng. Thần kỹ ném tên này của Hồ Xạ đến cả Mộc Thạnh cũng khó lòng tiếp được, tốc độ và sức mạnh tất nhiên không phải bàn cãi.

Kiếm khách nọ nghe tiếng gió, biết có ám khí đang bắn tới. Y chậm rãi đưa tay lên, lưỡi kiếm trong tay đột nhiên biến từ màu trắng thành sắc đen. Mũi tên hiểm ác đã lao vọt tới, kình phong bật lên tanh tách nghe mà kinh hãi. E rằng chỉ một nửa cái hô hấp nữa thôi sẽ bắn thủng mắt toạc đầu người kiếm thủ.

Vụt!!

Thế rồi, lưỡi kiếm đen trũi chạm nhẹ lên thân tên một cái. Cạnh kiếm lách êm ru vào góc giữa đầu tên và thân tên. Người kiếm khách kia chân vẫn chạy, song cổ tay lại từ từ xoay tròn một cái.

Dưới con mắt trừng lớn của Hồ Xạ, mũi tên hắn ném ra với tám thành nội lực bị động tác nhẹ hều của người kiếm khách đẩy ngược về phía chủ. Cứ nghe tiếng gió thì biết, xét về lực bắn e là còn mạnh hơn trước.

Hồ Xạ giật cả mình, vội vàng phóng liên tiếp hai mũi tên mới hoá giải được đòn bắn ngược của kiếm khách. Y không dám không cẩn thận, thủ sẵn mấy mũi tên trên tay nghiêm cẩn đối địch.

Mà tay kiếm khách kia phát kì chiêu xong, bèn thu tay lại không đánh nữa. Lưỡi kiếm thò ra từ tay áo dài cũng đổi sang màu trắng tuyết. Dưới ánh nắng chiều, mọi người đều nhìn rõ hình dáng của nó. Không thẳng, chẳng cong, mà lại uốn lượn như một con rắn đang trườn. Đúng là một thanh quái kiếm, mà tay nghề của người rèn kiếm thì lại càng kinh khủng. Có lẽ chỉ có thể dùng “ thần hồ kì kỹ, xảo đoạt thiên công ” để miêu tả mà thôi.

Kiếm khách lại lấy cái ấm nhỏ bên hông ra. Ấy cũng là một ấm trà kì quái. Cái nắp ấm bằng đất sét như được gắn liền với thân, dù có lắc lư thế nào cũng không rơi ra ngoài. Mà ở vòi còn có nhét một cục đất nhỏ. Kiếm khách mở cái nút bịt ở vòi, châm trà vào li đất rồi nhấp một hớp.

Toán cung binh đứng la liệt ở xa, cung đã giương nỏ đã kéo chỉ chờ Hồ Xạ hô một tiếng là sẽ nhất loạt bắn vào người tay kiếm khách kia. Hiện tại chung quanh y không có lấy một nhân sĩ võ lâm nào, quả là thời cơ tuyệt hảo để triệt hạ.

“ Tướng quân, hay… ”

“ Đồ ngu, muốn chết thứ cứ việc bắn! Ta cũng đang muốn xem xạ thuật của chú mày so với thiết kị Mông Cổ ngày xưa ai lợi hại hơn đây. ”

Hồ Xạ khẽ quát, lại nhìn về phía tay kiếm khách kia. Binh sĩ tuy vẫn bán tin bán nghi, song thấy thái độ của Hồ Xạ đột nhiên trở nên nghiêm trọng tới vậy thì cũng biết điều mà thoáng lỏng dây cung. Kiếm khách nay đã uống hết nước chè trong chén, lại bình thản dùng tay áo lau khô đôi môi mình.

“ Tản ra các hướng, chặn đánh bọn chúng. Cốt phải bẻ gãy được nhuệ khí, không để chúng đốt phá thêm nữa. Ta sẽ lo tên này. ”

“ Dạ. Các anh em nghe tướng quân nói rồi đấy, chia ra hành động. ”Quân sĩ túa ra các ngả, chỉ để lại mỗi Hồ Xạ mặt đối mặt với kiếm khách bí ẩn. Xạ thấy binh sĩ đã đi hết, lúc này mới nhét tên lại vào bao, cất tiếng:

“ Lục Bình, chú cũng đến phá hoại việc công của bọn anh à? ”

Thì ra kiếm khách vừa hoá giải một mũi tên thần tốc của Hồ Xạ chẳng phải ai khác ngoài Long Thành Kiếm Khách Phạm Lục Bình. Hồi còn định đô ở Thăng Long, Đỗ, Xạ và y từng có thời gian cùng phục vụ trong cấm quân, ba người thân như anh em ruột thịt. Về sau nhà Trần bị soán ngôi, Lục Bình mới xin xuất ngũ, đi làm kiếm khách lang thang.

Phạm Lục Bình lau hết đống hoá trang trên mặt, để lộ ra diện mạo của một thanh niên còn rất trẻ. Mái tóc đen tuyền cắt ngang vai, ôm lấy gương mặt phảng nét hào hoa nho nhã, lại vương vẻ hào sảng anh hùng. Nơi đáy mắt in rõ sự ương bướng ngang ngạnh. Hai hàng chân mày y đặc biệt sắc, không thua gì mũi kiếm trong tay.

“ Thời thế thay đổi, chúng ta từ anh em sống chết có nhau, nay lại phải dùng đầu đao lưỡi kiếm mà giáp mặt trên chiến trường. Hồ Xạ, nếu còn coi Lục Bình này là anh em thì mau qua phía bắc gọi Hồ Đỗ tới đây đi. Hôm nay tâm trạng tôi rất tốt, nên chẳng muốn phá vỡ lời thề năm nào của tổ tiên. ”

Phạm Lục Bình lắc đầu, sau đó vung tay ném một vật màu nâu to cỡ hạt mít về phía Hồ Xạ. Vị tướng nhà Hồ đưa tay bắt lấy, thì té ra là một cái chén con. Bên trong sâm sấp nước chè xanh, hương trà hãy còn vương lại chưa tan, mà sờ thì vẫn ấm lắm.

Chén đất rất giòn, ném nhanh và mạnh như vậy, thì cho dù bắt được cũng phải sứt vỡ vì phản chấn khi va vào lòng bàn tay y. Thế nhưng dù hiện giờ đã ngay ngắn nằm trong tay Xạ rồi mà nó vẫn lành lặn như chén mới. Miệng vẫn tròn vành, không méo hay nứt dù chỉ một góc. Muốn thực hiện được điều này, ắt phải khống chế được xảo kình ở vai và cổ tay đến một mức độ cực kì cao siêu.

“ Lục Bình dùng trà thay rượu, xin kính người làm anh anh một chén. Uống hết trà, hai ta từ nay ân đoạn nghĩa tuyệt. Lần tới gặp lại, không phải ngày ấy tôi chết, thì năm sau ắt là giỗ đầu của anh. ”

Hồ Xạ nhận chén, uống cạn, lại tiếp:

“ Ta đã uống phần ta, song tên Đỗ thì không thay được. Chú cũng biết tính anh chú rồi, lỗ mãng đơn giản. Chẳng thế mà cứ bị người ta trêu là Hồ Đồ mãi. ”

Phạm Lục Bình cụp mắt, cất bình trà rỗng với chén đi, lại nói:

“ Hồ tướng quân, trên chiến trường một khắc quý ngàn vàng. Đừng phí thời gian kể lể chuyện cũ nữa, ta đã bao giờ quên đâu? ”

Hồ Xạ thoáng thở dài. Chẳng phải ngẫu nhiên mà cách xưng hô giữa hai người lại thay đổi. Tiếng “ Hồ tướng quân ” ấy sao mà xa cách thế?

Y lại theo hướng cũ len lỏi qua các trướng bồng, hướng về phía bắc để cảnh báo cho Hồ Đỗ. Cuối cùng chỉ còn Phạm Lục Bình ở lại với mấy cái trống đã thủng. Y tựa lưng lên một mặt trống lớn, mắt nhắm lại lắng nghe âm thanh của cuộc chiến. Ngọn lửa bén vải lều cháy bùng lên phừng phực, tiếng người chửi bới rên la đang kéo xa dần về phía cửa biển. Y bất giác cao hứng hát khẽ mấy câu, lại lẩm bẩm:

" Trà hết rồi, chè cạn rồi. Lá trà hãy còn ở đây, song cũng chỉ có cái ấm biết mà thôi… ”

Tình nghĩa anh em chiến hữu mấy năm ròng, một chén trà lau sạch được ư? Cho dù thực là trà cạn tình vong, thì lá trà hãy còn trong ấm, nhưng ngoại trừ cái ấm đất kì dị bị bịt mắt bịt mồm kia ra thì làm gì còn ai khác biết?

*) chú thích:

Kim tiền tiêu: nói thẳng ra là tiền xu. Đây là loại ám khí thông dụng và phổ biến do tính hợp pháp của nó ( không ai cấm mang tiền cả). Tính sát thương không lớn, song dùng để điểm huyệt khá tốt

Thiết tật lê: ám khí nặng, bằng sắt dày, khi ném có thể gây thương tích lớn cho mô và gân

Văn tu châm: dịch ra là kim râu muỗi, mảnh như râu con muỗi vậy. Thường bôi chất độc gây tê. Tốc độ rất nhanh, song lực sát thương khá hạn chế trừ khi nhắm được vào mắt hay tử huyệt. Ngoài ra châm này khá yếu, nên dễ gãy nếu bị chém hay đập trúng

Khổng Tước Linh và Long Đỗ Truỷ sẽ được giải thích ở phần sau của truyện

Chương 13: Hồi năm (2)

Mặt bắc doanh trại…

Hồ Đỗ múa một đôi rìu chiến. Ấy là loại ngắn tay để giao chiến trên đất chứ không phải thứ có cán dài chuyên dùnh đánh trên lưng ngựa. Đôi mắt y trợn tròn vo, mồm quát oang oang:

“ Cái đám giang hồ các ngươi đúng là được đằng chân lại muốn lân lên đằng đầu. Mồm xưng hiệp nghĩa, thế mà lại đi bán nước giúp giặc phương bắc. Quả thật là miệng nam mô, bụng một bồ dao găm! Rặt một lũ chó cả!!! ”

Hồ Đỗ nóng tính, lại ít khi nghĩ trước khi làm. Thấy cái đám đục thuyền ngày nào nay lại dám đến phá hoại lần nữa, y lập tức thấy cáu sôi hết cả tiết lên, muốn vác rìu mà bửa cả đám ấy ra.

Lại có một tay đầu trọc, lưng xăm hình rồng ác nhảy chồm tới. Dáng người y thấp lùi, cánh tay không thô to cường tráng nhưng bắp thịt rắn chắc rõ ràng. Lùn nhưng bộ ngực lại nở vòng cung, trông khá là buồn cười. Một tay y cầm búa, tay kia xách đục xồ tới đánh với Đỗ. Búa bổ ngang quét dọc, còn dùi thì y dùng như một cây phán quan bút để đả huyệt, hoặc như một cây chuỷ thủ hơi cùn. Hồ Đỗ đang nóng máu, lại gặp kẻ thù chủ động nhảy tới thì lập tức vung rìu lên mà đánh.

Choang!!

Lực đạo của Hồ Đỗ rất lớn, sau khi phát động được thần công mà Lý Thân truyền lại thì càng thêm hùng hồn như cuồng phong bạo vũ, voi chiến Hai Bà. Mỗi rìu giáng xuống khác nào núi non sạt lở, từng cú phạt ngang mạnh tựa sóng biển vỗ bờ. Nhưng đối thủ của y cũng chẳng kém phần. Lợi dụng hình thể thấp lùn, y hết né trái lại tránh phải, liên tục dùng búa với dùi đánh vào Hồ Đỗ.

Tay này cũng là dạng nóng tính, nghe Hồ Đỗ chửi xong, y phản pháo ngay:

" Đám quan binh các người nặng sưu nặng thuế, bắt trâu trộm chó, ép buộc dân chúng tòng quân. Dân chúng bọn tao không sống nổi, mới phải vùng lên đạp đổ cái vương triều giặc cướp bọn mày xuống, phục hưng nhà Trần. ”

“ Ăn nói vớ vẩn, giặc đến nhà đàn bà phải đánh! Đã là Việt gian bán nước mà còn già mồm bao biện hả, tao phải chặt mày làm hai khúc! ”

Hồ Đỗ gầm lên, múa rìu càng thêm hăng. Song tên trọc quả thực là tay hảo thủ. Y né ngang luồn dưới, giống như một con lươn trơn tuột cứ trượt qua trượt lại ngay trước lưỡi rìu của Đỗ. Đã vậy còn thuận thế dùng dùi tấn công Hồ Đỗ tới tấp nữa. Máu đỏ tứa ra nhuốm áo, song chỉ giúp hung tính của Đỗ càng mạnh lên

Đầu trọc phát hiện Hồ Đỗ càng bị thương, lực đạo lại càng lớn thì không khỏi giật mình. Điều này là trái ngược hoàn toàn với thường thức trên giang hồ về võ thuật. Mới phân thần thôi, một rìu của Đỗ đã vụt nghiêng tới. Y không kịp vận khí, chỉ đành dâng vội búa lên đỡ, liền bị quái lực khủng khiếp của Đỗ đập cho tê rần cả hai tay.

Thì ra Hồ Đỗ sau khi thua Thạnh thì cả ngày thất thần. Y biết chỉ vì mình háo thắng mà để nguyên soái quân địch chạy thoát, lòng không khỏi thấy uất ức và hối hận lắm. Trở về, y giam mình trong soái không ra gặp ai hết, thương thế cũng không thèm chữa trị, chỉ băng bó qua loa lấy lệ.

Vốn dĩ định lấy cái chết tạ tội, ai ngờ lại khiến thần công vô danh của Đỗ chỉ nội trong một đêm tinh tiến đến tầng thứ tư. Từ đó y mang sức mạnh gấp 4 lần lúc giao đấu với Mộc Thạnh.

Hiện tại mỗi cú đánh hời hợt của Đỗ cũng đã mạnh kinh hồn, chứ đừng nố đến một phát toàn lực. Song giờ thương thế hắn chưa lành, lại chưa kịp thích nghi với sức mạnh mới nên tay đầu trọc mới chiếm thế thượng phong.

Hồ Đỗ càng bị thương thì lực đạo càng lớn. Qua trận chiến với Mộc Thạnh, y càng hiểu thêm ưu thế của bản thân, bèn bất chấp việc trúng đòn, dùng đấu pháp liều mạng với đầu trọc.

Đầu trọc là người có danh tiếng khá lớn trong giang hồ, cũng là tay cao thủ thường xuyên nếm vị máu vương trên đầu dao mũi kiếm. Thành thử kỹ thuật đơn đấu của y thành thạo hơn cả Hồ Đỗ hay Mộc Thạnh, song so khả năng ứng biến chẳng thể nào bì được với các chiến tướng đã đạp lên hàng ngàn cái xác.

Chỉ mười mấy chiêu, lối đánh: chịu đấm ăn xôi của Hồ Đỗ đã phát huy tác dụng. Y đột nhiên dùng cán rìu thúc mạnh từ hai bên, đập trúng ngay hai huyệt Nhĩ Môn của đầu trọc. Đây là hai yếu huyệt nằm ở chỗ lõm trước vành tai con người.

Đầu trọc trúng cú ấy choáng váng cả đầu, suýt rơi vũ khí. Song y cắn răng nhịn đau, vội vàng gọi đồng bọn rút lui. Cả lũ nhảy tùm xuống nước, thoắt cái đã bơi đi mất dạng. Hồ Đỗ định cởi giáp nhảy xuống sông đuổi giết bằng được, thì Hồ Xạ mới vừa chạy đến đã lên tiếng gọi.

“ Đỗ!! Bên mặt nam đang nguy, mày trúng kế người ta rồi. ”

“ Tiên sư bố nhà chúng nó chứ!! Mà Hồ Xạ, biết rồi sao còn chạy ra đây gọi tao mà không đánh chết cha chúng nó đi? Đến thằng Đỗ đần độn như con bò này còn thấy ấy là việc ngu xuẩn nữa là. ”

Hồ Xạ trợn mắt nhìn Hồ Đỗ, nói:

“ Biết là tốt. Đi! Trên đường rồi nói. ”

Hai người kéo nhau dùng khinh công trở lại khu nam của trại, nơi đang bị quần hùng châm lửa đốt phá lung tung cả lên. Hồ Xạ vừa phát tên đánh nhân sĩ võ lâm vừa kể cho Hồ Đỗ chuyện của Phạm Lục Bình, về chung trà đoạn tình cắt nghĩa. Đỗ nghe xong, cười vang:“ Có thằng Bình ở đấy thì mày bắn thế chứ bắn giỏi nữa cũng bó tay bó chân là đúng. Mà thằng ấy trông thế mà vụng. Mấy năm rồi không được ngụm nước chè nào của nó, vậy mà không biết qua mời anh Đỗ nó một chén. Nào! Đi! Đánh cho xong còn uống chè nữa chứ. ”

Hồ Xạ thấy Đỗ không hề bất ngờ, cũng chẳng tỏ vẻ mất mát như trong tưởng tượng thì hơi ngớ ra. Y lại hỏi:

“ Đỗ, mày có bị dở người không? Bình thường mày coi tình anh em còn nặng hơn mạng kia mà, sao hôm nay lại… ”

“ Mỗi thời nó mỗi khác. Cứ đánh xong giặc Minh, thiên hạ thái bình, thì ta lại làm anh em. Khi ấy ngồi uống chè, ăn nhậu với nhau thì chả sướng à? Khổ não mà làm gì. Bã trà hãy còn trong ấm kia kìa. ”

Hồ Đỗ vung rìu chém ngang người một hảo thủ phái Hy Cương, vốn ở mạn Phú Thọ ngày nay. Dãy đồi từ Phú Lộc đến Thậm Thình là nơi họ hay hoạt động, nước thì lấy ở cái đầm gần xã Phù Lộc. Vì gắn liền với những quả đồi trong truyền thuyết “ trăm voi chầu đất tổ ”, nên phái này còn có tên là Bách Tượng.

Máu bắn ra, song Hồ Đỗ chỉ càng cười vang:

“ Đám giả nhân giả nghĩa, Hồ Đỗ này bổ các ngươi như bổ củi, lát còn đi uống chè. ”

Nhân sĩ võ lâm các phái chẳng hiểu y nói gì, song thấy thần lực của Hồ Đỗ kinh người thì không dám coi thường. Hồ Đỗ dựa vào dị bản của Lý Thân thần công, xông thẳng vào chỗ đông người mà chém giết. Y lấy một chống nhiều, tả xung hữu đột giữa vòng vây của quần hùng như chốn không người.

Hồ Xạ trông thấy cảnh này, chỉ biết cười khổ:

“ Hồ Đồ ơi là Hồ Đồ, thực ra mày đâu có hồ đồ đâu? ”

Đấu pháp nhìn như liều mạng ấy, đối phó với nhân sĩ võ lâm lại hiệu quả không ngờ. Vì không có kỷ luật, nên không ai dám phóng ám khí sợ đả thương người cùng phe. Còn Hồ Đỗ nào có quan tâm ba bảy hai mốt, cứ chỗ nào có người thì văng rìu vào đó. Nay lại thêm Hồ Xạ ở xa ném tên triệt hạ từng tên từng tên một, chẳng mấy chốc mà nhân sĩ võ lâm tổn hao nặng nề.

“ Đốt nhiều lương, phá nhiều súng của quân Hồ rồi. Rút mau anh em! ”

Chẳng biết là ai khởi xướng, song nhân sĩ võ lâm đang bị đánh cho vêu đầu mẻ trán thì đâu để ý được nhiều thứ như thế? Đến nhanh, rút đi càng nhanh hơn. Lúc này cái điểm lợi hại của khinh công được thể hiện ra rõ rệt. Trong võ lâm, ai mà chưa từng học qua những môn tối căn bản như Nhạn Hành công để giúp cơ thể nhẹ nhõm, Bích Hổ Du Tường để trèo tường leo vách?
Cả đám cứ theo đường cũ mà chạy, chẳng cần bao lâu đã mất tăm mỗi người một ngả. Hồ Đỗ Hồ Xạ đi kiểm tra, thống kê lại số thuốc súng và lương thảo bị cháy. Dù chỉ hao tổn mất ba phần, song ấy cũng là do họ tắc trách mà nên chuyện. Lại thêm chuyện Thái Bình thất thủ, nên hai người thấy tội mình to lắm.

Cách cửa biển năm dặm có gò đất cao giữa khoảng rừng thưa. Lúc này quần hào nước Nam vừa mới phóng hoả đốt trại Hồ, chính đang tập trung bàn tán đến

“ Phạm huynh không hổ danh là Hồng giang giao long, cháu của lão tướng quân Phạm Hữu Thế. Cái nghề lặn đã luyện đến mức muốn sao được vậy. Cũng nhờ có huynh và anh em Thập Bát Liên Trại tập kích bất ngờ mặt bắc, chúng ta mới dễ dàng nhập doanh. ”

Phạm Hách ôm quyền, nói mấy câu tỏ vẻ khiêm nhường. Nhưng ý cười trong đôi mắt thì chẳng che giấu chút nào.

Hình dáng y khá là kì lạ. Vóc người y thấp lùn, tay chân gầy gò, cũng chẳng thấy lực lưỡng gì cho cam. Song bắp thịt chắc khoẻ, xương cứng ngực nở, đủ thấy là một cao thủ nghề lặn. Tóc y húi trọc, là để xuống nước dễ bề hành động hơn.

So với tổ tiên là danh tướng Yết Kiêu xuống nước như trên đất bằng thì Phạm Hách còn kém xa, song vẫn là một tay hảo thủ trong cái nghề lặn nước đục thuyền. “ Kim Quy Tức công ” và sáu mươi bốn đường “ Yết Kiêu chuy pháp ” độc môn của nhà họ Phạm càng danh tiếng lừng thiên hạ, thành thử Phạm Hách trong chốn võ lâm cũng là nhân vật có chân tài thực học.

Thập Bát Liên Trại thực chất là mười tám trại thuỷ tặc phân bố dọc theo các nhánh chính và ở các cửa sông lớn của sông Hồng. Mười tám trại chủ tôn Phạm Hách làm đại vương, hoành hành khắp một vùng châu thổ rộng lớn. Chúng chuyên cướp bóc tàu bè lại qua, dân tình muốn được yên thân thì phải nộp phí bảo vệ cho chúng.

Song vừa rồi đánh với Hồ Đỗ lại bị y chiếm thượng phong, giáng cho một cái đau điếng vào hai huyệt Nhĩ Môn nên đến giờ Phạm Hách vẫn còn thấy đầu hơi ê ẩm. Y thầm nguyền rủa Hồ Đỗ, đồng thời cũng tự hỏi nhà Hồ có dũng tướng uy mãnh như thế từ bao giờ.

“ Lần này quần hùng tụ hội, phóng hoả đốt lương ắt sẽ gây nên một trận oanh động truyền khắp võ lâm Nam quốc. Các vị anh hùng chốn đây chắc cũng cách ngày tiếng thơm vang dội không xa nữa, Phạm mỗ xin chúc mừng trước.”

Mấy tay hiệp khách khác cũng cười cười đáp lễ, song trong lòng thì biết rõ trong chốn võ lâm mình chỉ là hạng vô danh tiểu tốt, lần này đến Muộn Hải hò hét trợ uy là chính.

Lúc này lại có một tay kiếm khách đứng ra:

“ Khách sáo rồi, bọn tiểu tốt chúng ta sao xứng với hai chữ anh hùng Phạm huynh vừa tặng. Phạm huynh không hổ là hậu duệ của bậc lương đống ngày xưa, trong chốn võ lâm hiện tại ngoại trừ bảy vị tông sư ra, e chỉ có huynh mới xứng là bậc anh hùng chân chính mà thôi. Chẳng bù cho ai đó, không nhờ hồng phúc của tổ tiên thì e rằng ngay cả tư cách đứng ở chốn này cũng chẳng có. Nếu là ta, thì sẽ tự biết thân biết phận không đến. Trước là tự cứu thể diện dòng dõi hiền thần, sau là không hạ thấp mặt mũi Phạm Hách huynh đây, mọi người thấy có đúng không? ”

Tức thì, vô số người nhao nhao hưởng ứng. Quả thực trong lần công doanh vừa rồi, Phạm Lục Bình - Long Thành Kiếm Khách - chẳng những không xuất thủ đánh người mà còn can gián mọi người đừng giết quá nhiều quân triều đình. Đánh xong, có người còn thấy y ở lại thưởng trà với thần tướng cầm hai rìu vừa đánh mọi người thất điên bát đảo.

Quần hùng có người cho hành vi ấy là hèn nhát, sợ phiền. Kẻ lại nói là vô năng chỉ biết hưởng phúc ấm tổ tiên. Thành thử không ít người đã có thành kiến sâu nặng với y. Nay lại có người kích động, tất nhiên sẽ có khá nhiều người hưởng ứng.

Lại nói từ sau khi nhà Hồ tiếm quyền, Phạm Lục Bình chỉ hoạt động ở vùng kinh đô Thăng Long. Nơi này thường xuyên có trọng binh nắm giữ chứ không lộn xộn như trên chốn giang hồ tỉnh lẻ. Không mấy khi động thủ, nên danh tiếng Phạm Lục Bình rất thấp, võ lâm các tỉnh ít ai biết tới.

Nếu không phải vì Thiên Cơ Lão Đạo tự thân mời, e là quần hùng còn chẳng biết Phạm là ai. Song cũng vì lẽ ấy, mà vô danh tiểu tốt lại càng tức Lục Bình anh ách.

Cách đó không xa, một người đột nhiên ngẩng đầu lên. Ánh mắt y như điện lôi xé trời, sắc như lưỡi đao cắt qua bóng tối. Chỉ riêng ánh mắt đã làm giật mình không ít người. Còn tưởng là sát thủ giết người không gớm tay, hoặc là độc sư sát nhân trong vô ảnh, ai ngờ nhìn kỹ té ra lại là một thư sinh.

Chỉ thấy người này mặc áo trắng phau như mây, tóc bện theo kiểu học trò. Sau lưng có đeo một cái hạp gỗ, không biết bên trong chứa thứ gì. Y nhìn về phía Phạm Hách giữa quần hùng, cười khẩy một tiếng:

“ Phạm huynh cũng cho rằng lời ấy là phải? ”

“ Lục Bình lão đệ chớ nóng nảy, mọi người chỉ bày trò nói đùa với nhau cho bớt phần căng thẳng mà thôi. ”

Phạm Hách thấy đôi mắt thư sinh đã rét lạnh như hàn sương, không khỏi ho khan một tiếng khuyên can.

*) Phạm Hữu Thế: tên thật của Yết Kiêu. Yết Kiêu thực chất là tên một loại cá lớn ngoài biển

Chương 14: Hồi năm (3)

Trên giang hồ, hiếm ai mà không biết Long Thành Kiếm Khách Phạm Lục Bình là hậu nhân của danh tướng đời Trần Phạm Ngũ Lão. Đừng thấy Lục Bình này trông yếu ớt vậy mà lầm, một khi Thư Hùng Song Đầu Kiếm đã vào tay, hiếm khi không thấy máu.

“ Có gì không đúng chứ?? Đừng thấy Phạm huynh khách sáo với ngươi mà nhầm tưởng. Sinh ra tên hậu bối nhược phu sợ phiền toái như mi, Phạm lão tướng quân đúng là vô phúc! ”

Tên kiếm khách nọ còn chưa biết mình vừa dạo qua Quỷ Môn quan, bèn lớn tiếng ho to gọi nhỏ. Y ỷ có Phạm Hách sau lưng nên muốn tâng bốc vị trại chủ này mấy câu, sau sẽ thuận tiện nương nhờ Thập Bát Liên Trại. Nhưng y nào có biết Phạm Hách lại hết sức e ngại giao thủ với Phạm Lục Bình. Hai bên mà động thủ động cước thì e là giao long sông Hồng sẽ bị đánh vảy.

“ Mi có thể nói lại?? ”

Phạm Lục Bình cười nhẹ một cái, nét cười thoáng qua đôi môi nhanh như một cơn gió xuân lướt qua nhánh cỏ. Y từ từ tháo hạp gỗ trên lưng xuống, làm như muốn mở nó ra.

Phạm Hách vội can:

“ Thư Hùng Kiếm là bảo kiếm năm xưa Hưng Đạo Vương ban cho Phạm lão tướng quân, vốn là để giết quân Thát Đát bảo vệ nước non. Nay lão đệ để nó nhuốm máu đồng tộc là không hay. ”

Xoẹt!!!

“ Phạm huynh, cần gì nói giúp hạng vô năng này?? Để Bình mỗ lĩnh giáo bảo kiếm do Hưng Đạo Đại Vương ban thưởng một phen. ”

Họ Bình rút kiếm, tung mình vọt về phía trước. Một chiêu đâm của y cũng rất là khá, lực đạo cũng mạnh. Kể ra thì cũng được tính vào hạng hảo thủ tam lưu trong chốn võ lâm. Chỉ tiếc là…

Phạm Lục Bình cười một cái, chờ cho đối thủ đến ngay trước mặt mới ra chiêu. Họ Bình chẳng kịp nhìn thấy kiếm của đối thủ đã cười thầm trong dạ, trộm nghĩ:

[ Tên này đúng là tay mơ. Ta chạy đến trước mặt hắn, khí đã vận, thế đã súc. Chiêu Trường Hồng Quán Nhật nay sẽ càng thêm nhanh, thêm mạnh. Hắn thì lại khác. Tính từ lúc mở hộp, lấy kiếm, phản kích thì cũng phải mất mấy hô hấp liền, thì giờ đâu mà vận khí súc thế? Phen này ta thắng chắc rồi! ]

Vừa lướt qua nhau họ, họ Bình đã ôm mặt kêu gào, lăn lộn khóc than ngỡ như nhà chết mất trâu. Trong khi đó Phạm Lục Bình thì áo quần vẫn chỉnh tề, làn da lộ ra ngoài không có một vết xước. Chỉ cần một chiêu, chênh lệch như trời vực đã lộ rõ.

Những tay hảo thủ trong quần hào đều nhìn ra, ngay lúc mở nắp hộp lên thì Lục Bình đã thuận thế ấy mà nghiêng người đi nửa li, vừa vặn tránh khỏi nhát kiếm của đối thủ. Đồng thời, quái kiếm của y lại đâm trúng ngay má phải kẻ địch.

Nay thấy cảnh tay kiếm họ Bình ôm mặt, máu rỉ qua kẽ ngón tay đầm đìa thì ai cũng lạnh run lên. Nhát kiếm nặng cỡ đó, không biết có huỷ hoại luôn dung mạo của người ta không. Ấy là đối phương hãy còn lưu tình không hạ sát thủ, bằng không nhát kiếm thần tốc kia đã vọt thẳng tới cổ họ Phạm.

“ Nhớ kỹ, cái miệng làm hại cái thân. Nếu còn có lần sau, e rằng nơi đây sẽ có thêm một nấm mồ. ”

Phạm Lục Bình vẩy nhẹ vũ khí cho máu rơi khỏi lưỡi thép. Dưới ánh trăng đang lên cao và ánh lửa bập bùng, ai cũng thấy rõ hình dáng vũ khí của y. Đó là một thanh quái kiếm, trông cứ như là hai thanh trường kiếm phổ thông với phần chuôi được gắn vào nhau.

Hai lưỡi kiếm, một đầu đúc bằng sắc đen như mực, vuông vức không mũi nhọn cạnh sắc. Mà đầu còn lại làm từ thép lạnh trắng tinh, uốn lượn như con rắn đang trườn. Máu hãy còn nhỏ tong tỏng từ mũi thép sắc lẻm.

Tương truyền thanh quái kiếm này là vũ khí thành danh của Phạm Ngũ Lão năm nào. Ông tung hoành trên sa trường, giết được vô số binh tướng Nguyên Mông là nhờ công rất lớn của nó và bộ kiếm pháp “ Đảo Nam Nghịch Bắc ”. Tương truyền, Thư Hùng kiếm là do ông tổ nghề đúc Khổng Lồ chế nên dựa trên hình dáng của loài sóc và phương pháp tạo hình kiếm mới học ngoài hải ngoại.

Ban đầu kiếm có cái tên đơn giản là Sóc. Về sau Hưng Đạo Vương cảm thấy tên ấy không có được cái uy dũng của bậc chiến tướng, bèn đổi là Thư Hùng, lấy ý là đầu đen, thô tượng trưng cho đực ( Hùng)- là dương cương, còn mảnh nhọn đại diện cho mái ( Thư) - là âm nhu. Ngoài ra còn có ý khen Ngũ Lão dũng mãnh phi phàm, kiếm ở trong tay, mấy ai dám quyết một trận thư hùng. Song Đầu Kiếm là những lãng khách giang hồ may mắn được diện kiến cổ kiếm thêm vào cho dễ hiểu.

Nếu tích ấy là thực, thì thanh cổ kiếm đã xuất hiện trong bài “ Thuật Hoài ” của ông. “ Hoành sóc giang sơn kháp tỉ thu ” có lẽ chữ “ Sóc ” trong này, chính là để chỉ huý danh của cổ kiếm chứ chẳng phải một loại thương cổ như người đời vẫn tưởng, mặc dù với một cây thương trong tay thì Ngũ Lão cũng vẫn là một hổ tướng.

Tiếc rằng thi nhân, cũng là chủ nhân đầu tiên của quái kiếm, qua đời đã lâu, nên trên thế gian chẳng còn ai biết được thực giả nữa.

Lại kể đến chuyện của Lục Bình. Y làm cho náo loạn một trận, khiến quần hùng vì lẽ ấy mà khiếp sợ. Vô số người thầm nghĩ: “ hay cho một tên Lục Bình, giết quan binh thì chẳng dám, lại sẵn sàng đả thương người của mình. ”

Căm ghét rồi, nên hễ ai có chút cốt khí đều toan tuốt đao rút kiếm ra sống mái một phen. Lục Bình nào có sợ, gác kiếm ngang lưng sẵn sàng nghênh đón. Không khí thoắt cái trở nên căng tựa dây đàn, kiếm bạt cung giương. Mà Phạm Hách tự nhận là có uy có vọng, hiện tại lại chẳng dám ngăn cản.

Đột nhiên, có tiếng quát ầm vang vọng lại từ phía đông:

“ Vừa mới cùng chung chiến tuyến, chẳng mấy chốc quân ta đã quay qua đánh quân mình, còn ra cái thể thống gì nữa??? ”

Thanh âm người nói trầm mà chắc, mặc dù có chút tang thương, nhuốm màu năm tháng nhưng chẳng lộ chút già yếu nào. Đáng sợ hơn là công lực. Tiêng quát bật lên giòn như tiếng pháo, vang như tiếng sấm. Rừng cây xung quanh rào rào trút lá, trên đất thì sỏi đá bật tanh tách.

Trong quần hào, những ai nội lực đã có chút hoả hầu thì cũng nghiêng trái ngả phải, nội lực thấp thì đua nhau ôm tai mà ngã. Chỉ có những người tầm cỡ Phạm Hách, Phạm Lục Bình mới có thể dựa vào một thân nội công không tệ mà chống đỡ, thế nhưng cũng chẳng lấy gì làm dễ chịu.

Mọi người tự giác tách ra một con đường, để cho vị mới tới bước lên đỉnh đồi.

Hướng đông tiến tới một lão đạo sĩ. Tấm đạo bào màu xám hơi sờn chỉ khẽ quét vào đám lá rơi trên mặt đất, một thanh kiếm chưa rời bao nằm ở trong tay. Tóc bạc dài tới vai, râu trắng lơ phơ ngang ngực. Dưới cái trán cao đã hiện nhiều nếp nhăn ngự một đôi mắt đen huyền, thâm sâu như biển rộng. Lão bước đi nhẹ tới nỗi, đất xốp bên sông cũng không in lại dấu giày.

Ấy là một trong bảy tông sư, tề danh với hai người Quận Gió và Khiếu Hoá Tăng: Thiên Cơ Lão Đạo. Trước khi Hồ Quý Li chính thức đăng cơ mấy năm, ông dựa vào hai bộ võ công kinh thế hãi nhân là Thiên Đạo Thần Kiếm và Thiên Cơ Thần Chưởng tham gia Hội Chí Tôn, đoạt được một trong ba thánh lệnh võ lâm là Quần Hùng lệnh.

Kể từ đấy, Thiên Cơ Lão Đạo được tôn làm minh chủ võ lâm mười trấn phương bắc, cả chốn võ lâm đất Nam đều sùng bái gọi một tiếng Thiên Sư. Lần này nam tiến, thâm nhập quân doanh đốt lương huỷ súng chính là do ông ta hiệu lệnh.

Thiên Cơ Lão Đạo bước lên đỉnh đồi, mới phất tay áo:

“ Trước khi nhà Hồ sụp đổ, mọi người đều là anh em chiến hữu. Có câu anh em như thể chân tay, sau này đừng làm ra những việc đấu đá lẫn nhau như vậy nữa. Về phần Bình lão đệ, ở đây lão nhân có một bình Liên Sơn Mai Hoa Dịch, dù chẳng dám sánh với thuốc tiên của Đồng đảo chủ ngoài đảo Bạch Long, song đối với thương thế của lão đệ hẳn là có công dụng ít nhiều. ”

Nói rồi tiện tay ném một bình ngọc về phía họ Bình. Y vươn tay định chộp lấy, nào ngờ bình ngọc đang rơi đột nhiên từ nhanh hoá thành chậm, xoay tròn mấy vòng thì đã đặt ngay ngắn trên đất. Thậm chí một tiếng vang nhỏ cũng không có. Công phu ngự khí cao thâm nghe mà rợn người.

“ Đội ân Thiên Sư ban cho thuốc quý. ”

Họ Bình tay ôm mặt, tay cất bình ngọc lùi lũi thối lui vào đám người, nháy mắt đã chẳng còn thấy đâu nữa. Hận ý chắc chắn là có, nhưng y cũng chỉ biết trách mình miệng tiện mà thôi, chứ muốn báo thù một kiếm này e rằng cả đời cũng không làm nổi.Giải quyết xong mâu thuẫn, Thiên Cơ Lão Đạo mới ôn tồn cất tiếng:

“ Chư vị, nửa tháng sau chúng ta tái ngộ ở Tây Đô, chứng kiến cảnh Hồ tặc bị bắt như thế nào. Có được không? ”

“ Được lắm!!!! ”

Tiếng dạ ran của quần hùng vang xa đến mấy dặm, tuy không ẩn chứa nội lực hùng hậu như tiếng quát lúc đầu của Thiên Cơ Lão Đạo, nhưng thắng ở thanh thế.

___o0o___

Doanh trại nhà hồ bốc cháy một cách bí ẩn. Hồ Nguyên Trừng đang chiến đấu với quân Minh trên mặt sông buộc lòng phải từ bỏ truy kích, cho đội thuyền chiến quay đầu lui về cứu trại.

“ Tướng quân, bọn thuộc hạ làm việc tắc trách vô năng, đã để mấy tay giang hồ thảo mãng ấy đột nhập vào quân doanh, mong tướng quân trách tội. ”

Vừa bước xuống khỏi cầu tàu, Hồ Đỗ và Hồ Xạ đã dẫn theo binh sĩ đến quỳ trước Hồ Nguyên Trừng thỉnh tội. Hai tướng đều cúi thấp đầu, không dám ngẩng mặt nhìn chàng. Trước là để Mộc Thạnh chạy thoát, không giữ được cửa Thái Bình. Sau lại tắc trách để doanh trại bị hoả thiêu. Hồ Đỗ Hồ Xạ biết tội mình nặng vô cùng, chẳng những đầu không giữ được trên cổ mà có khi gia quyến cũng bị liên luỵ.

Hồ Nguyên Trừng, không nổi cơn lôi đình như trong tưởng tượng của hai tướng. Trái lại, chàng chỉ thở dài và nhìn xa xăm. Bàn tay vốn xiết chặt sau lưng từ khi ngọn lửa đầu tiên bốc cháy dần lỏng ra… Một tiếng thở dài buột ra, mang theo vẻ mất mát và thất vọng.

“ Hai người đứng lên, dẫn ta đến chỗ đó. Ta muốn xem tận mắt thiệt hại do ngọn lửa gây ra. ”

Hồ Đỗ và Hồ Xạ dẫn Nguyên Trừng đến kho lương. Mặt đất bị phủ lên một lớp tro dày, đen đặc. Vài mẩu gỗ khét lẹt cháy nham nhở. Thỉnh thoảng một cơn gió thoảng qua, lớp tro tàn lại bay về phương nam. Có những tia lửa bé nhỏ ánh cam thỉnh thoảng lại khẽ loé lên rồi biến mất.

Hồ Nguyên Trừng quỳ một gối xuống bên cạnh thi thể một người lính, nhẹ nâng anh ta dậy. Vị tướng quân dùng tay kiểm tra vết đao chém sâu hoắm ở cổ, những vết rám đen thui vì khói và tro trên mặt người lính. Hàm răng nghiến lại trong vô thức khiến cánh môi chàng bật máu.

“ An táng họ cẩn thận, tăng cường phòng bị gấp đôi. Bây giờ ta sẽ viết một phong thư xin hoàng huynh vận lương tiếp tế. ”

“ Cẩn tuân mệnh lệnh của tướng quân! ”

Các tướng đi khuất, ánh mắt Hồ Nguyên Trừng mới dần lộ ra vẻ bi thương mà chàng đã kiệt lực che giấu. Răng cắn chặt như hận không thể tự nghiến nát hai hàm răng, tay siết lại chỉ chực gãy rời xương mười ngón. Căm phẫn, đau khổ chất đầy trong lồng ngực, Hồ Nguyên Trừng đứng phắt dậy. Chàng hướng ánh nhìn ra xa, về Tây Đô – nơi trú ẩn hiện tại của em trai Hồ Hán Thương của chàng và người cha là Hồ Quý Li.

“ Lòng dân đã chẳng thuận theo, thì dẫu rồng thần có đuôi đi nữa cũng khó mà vút bay.”

Thở dài đầy bất lực, chàng vội quay đầu, không dám nhìn những thi thể ngổn ngang trên mặt đất phủ đầy muội than thêm một khắc nào nữa.

___o0o___

Sau khi nghỉ một lúc cho lại sức, Tạng Cẩu dìu Liễu Thăng và cô bé mang đao về doanh trại nhà Minh. Chỉ riêng Liễu Thăng đã nặng gấp rưỡi cậu, ấy là còn chưa tính thêm đống giáp trụ kim thương lỉnh kỉnh. Nay một mình phải gánh chịu trọng lượng của hai người cộng lại nên Tạng Cẩu mất sức rất nhanh.

Phiêu Hương chỉ bị Khiếu Hoá Tăng điểm huyệt Kiên Tỉnh cho hai tay vô lực, chứ đôi chân vẫn đi lại bình thường được. Cô nhóc tranh thủ lúc không ai để ý nhét cái bọc nhỏ bên yên ngựa vào bụng mình rồi giả như toàn thân mình bất động.

[ Bắt mi cõng thêm ta cho mi chết nặng, mới tí tuổi ranh đã biết làm Việt gian bán nước. ]
Tuy phải mang hai người, nhưng Tạng Cẩu vẫn hứng chí bừng bừng. Lớn lên ở một thôn làng bé nhỏ, đến hai chữ giang hồ nó cũng hiếm khi được nghe thấy, huống hồ là gặp những nhân vật võ công kinh thiên địa khốc quỷ thần như Quận Gió, Khiếu Hoá Tăng. Cuộc gặp với hai cao thủ đỉnh cấp vừa khiến cậu thấp thỏm, lại vừa vui mừng.

Đất Nam tôi nào có thiếu anh hùng?? Không biết đến là do anh kém hiểu biết, hoặc họ không muốn lưu danh mà thôi.

Nó vừa nhìn Liễu Thăng, vừa hếch hếch mũi như để khẳng định lên cái điều hiển nhiên ấy. Về phần tiểu tướng quân bắc quốc thì do vừa thua đau một vố trước hạng “ nữ lưu yếu đuối của mảnh đất Man Di ” nên Liễu Thăng chỉ biết nhìn xuống đất, một chữ cũng không nói.

Cô bé mang đao lại tranh thủ lớn tiếng thoá mạ. Ngay cả lúc chửi, hai má hơi phồng lên vì tức thì cô bé vẫn mang một nét đẹp rất riêng. Nếu lúc trước như một đóa hoa phượng đỏ rực, thì lúc nổi nóng trông cô như một ngọn lửa kiêu sa.

Tạng Cẩu mang theo hai người nên đi được một lúc là mệt lử. Nó nhìn về phía trước, thấy khoảng cách từ chỗ ba đứa tới doanh trại quân Minh còn khá xa mà trời đã gần tối nên đành phải dừng lại. Tạng Cẩu đốt một đống lửa lớn ven sông, lại mò cá đem lên nướng.

Trẻ lang thang từ bé như nó đọc viết thư văn đều không biết, nhưng riêng việc kiếm cái ăn thì rành chẳng ai bằng. Thạo việc, nên chỉ một chốc là Tạng Cẩu đã lôi được mấy con cá xinh xinh lên cạn.

Nó lấy đao của cô bé người Việt, thuần thục đánh vẩy và làm sạch cá. Mấy bộ lòng nó đem chôn thật xa, đề phòng nửa đêm có khách không mời mò tới. Thấy bảo đao của mình bị dùng như dao làm bếp khiến cô bé kia hơi bực bội, song lúc Tạng Cẩu vừa đưa con cá nướng đầu tiên qua là cô quên hết ngay. Tính cô là vậy, nóng nảy bộc trực như lửa, chóng giận mà cũng nhanh quên.

Liễu Thăng chỉ im lặng ngồi ăn. Cậu bé còn đang thấy bứt rứt vì trận thua lúc trước, đã vậy đối thủ đánh mình bại thê thảm còn đang ngồi ngay cạnh, thích thú xử lí phần ăn của mình.

Cô bé kia nhận ra ánh mắt kì lạ của Liễu Thăng, tính trẻ con bèn nổi dậy. Cô co chân lên, đụng vào bắp đùi cậu một cái. Liễu Thăng mới gãy chân, xương còn chưa liền. Ngay cả khi cô bé không vận nội lực được thì cậu cũng bị đau một trận thấu tận tâm can.

Ăn đau, khiến thiếu niên đang thời thanh xuân nhiệt huyết nhớ đến " nỗi nhục khi nãy ”. Liễu Thăng tức giận với tay chộp lấy thanh kim thương, vận chút nội lực ít ỏi lên rồi vỗ xuống.

Ngoại công Liễu Thăng không kém, kết hợp với nội lực càng khiến phát đập này có uy lực không tầm thường. Giữa chốn đồng không mông quạnh thế này, bị trúng thương ở đầu như vậy thì chết là cái chắc. Tử Tiêm lại nghĩ thầm: [ Thân phận của ả man nữ này không thấp. Đem về doanh trại thì hai người Trương bá, Mộc bá ắt cũng sẽ đem ra hành hình. Chi bằng ta tiễn cô ả đi luôn để đỡ phải chịu nỗi khổ bị dày vò. ]

Viện một cái cớ nghe thật vĩ đại, thật thanh cao cũng chỉ là cách người ta tự thuyết phục mình hòng khiến hành vi tội ác của mình trở nên dễ chấp nhận, lương tâm đỡ bị cắn rứt hơn mà thôi. Thiết nghĩ, âu cũng là lẽ thường tình.

Mắt thấy đầu thương áp tới càng lúc càng gần, cô bé mang đao đang muốn giơ tay chụp lấy cán thương mới sực nhớ hai cánh tay đều tê dại. Thời gian để lăn mình né thương đã qua, cô chỉ đành trơ mắt ếch nhìn đầu thương hùng hổ giáng xuống mà thầm tự trách bản thân quá ham vui làm sinh chuyện.

Cũng may, Tạng Cẩu ngồi cạnh nhào vào cản cú vụt kịp thời. Nó không đành lòng thấy một người đồng tộc bị anh kết nghĩa của mình hành hạ. Cũng may vì nó nhào vào khoảng giữa hai người, nên chỉ có cán thương đánh trúng nó.

Liễu Thăng vụt trúng nghĩa đệ, dù Tạng Cẩu vẫn cười cười nói nói như thường nhưng cậu vẫn thầm trách bản thân quá nóng nảy.

Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, cách cô bé kia nhìn Tạng Cẩu cũng đã thay đổi.

Tối…

Tạng Cẩu nằm quay lưng về phía hai người, ôm chặt cánh tay mình vào lòng, mắt ướt nhoè. Xuyên qua tay áo vải mỏng dính sẽ thấy bắp thịt nó đã sưng vù lên và tím thâm lại. Cú đánh của Liễu Thăng vẫn khá là nặng dù cậu chỉ dùng được nửa thân trên để vận kình. Ít nhất, đối với một đứa bé không có nội lực hộ thân như Tạng Cẩu, đây là một đòn đau. Dù không đến nỗi gãy xương toác thịt, nhưng vẫn làm máu ứ bầm tím cả tay.

“ Này, ấy không sao đấy chứ?? ”

Góc áo nó nhận phải một lực kéo khẽ, liên hồi trong mấy cái hô hấp liền. Tạng Cầu nén đau quay lại, chủ nhân của âm thanh trong veo ấy không phải cô bé cầm đao thì là ai?? Trong mắt lộ vẻ áy náy, cô dúi vào tay cậu một lọ thuốc.

“ Suỵt, đây là Hồ Cốt Cao bí truyền của ông nội, đằng ấy mau mau bôi vào đi.”

Cách xưng hô đã thay đổi, chứng tỏ ấn tượng của cô bé với Tạng Cẩu đã tốt hơn trước, ít nhất đã từ căm hận chuyển thành bình thường. Cậu khẽ gật đầu, mở nắp lọ dốc thuốc ra lòng bàn tay. Một thứ cao mát lạnh, thơm ngát một mùi thoang thoảng tựa gốc lan nơi vách núi cao, như bầy sen trong đầm nước thẳm. Tạng Cẩu mới chạm nhẹ, ngửi hương mà tinh thần đã phấn chấn hẳn lên.

Nó dùng cao xoa lên chỗ sưng, tức thì cơn đau nhức lui hẳn, thay vào đó là một cảm giác mát rượi kèm theo chút tê dại nhẹ nhàng xâm chiếm, lan mãi tới từng đầu ngón chân.

Thuốc ngấm, chỗ sưng ở tay nó từ từ xẹp xuống, làn da xanh tím cũng lấy lại được màu sắc tự nhiên.

Cô bé cầm đao thấy Tạng Cẩu đã không còn đau đớn mới thở phào. Thấy nó định đem bình cao qua trả, cô bèn đẩy trở lại.

“ Cứ cầm đi, ta trả đằng ấy một thương vừa nãy, sau này hai chúng ta không ai nợ gì ai hết. Đúng rồi, ta tên Phiêu Hương, họ… Lê. Còn ấy? ”

“ Không biết. Trước người làng gọi là Con Chó Bẩn, giờ gọi Tạng Cẩu. ”

Tạng Cẩu đáp gọn lỏn.

Lê Phiêu Hương bụm miệng, nhìn Tạng Cẩu với vẻ nửa hài hước nửa quái dị. Đây quả thực là lần đầu tiên cô nghe thấy một cái tên như thế. Hiếm ai khi biết được tên cậu mà không thấy lạ.

“ Tên này xấu hoắc, là ai đặt cho đằng ấy thế? ”

“ Chả nhớ nữa. Từ năm nào ấy người làng cứ gọi thế, lâu dần thành quen. ”

“ Đằng ấy thích một cái tên khác không, tớ đặt cho. Nhìn tớ ham võ nghệ thế thôi chứ cũng thạo chữ nghĩa đấy. ”

“ Không cần đâu… ”

Con trăng in dưới mặt sông bị bốn cái chân nho nhỏ quậy phá, vỡ tan thành từng mảnh nhỏ dập dờn, dập dờn xa mãi…

Chương 15: Hồi sáu (1)

Kháng gian thần huynh đệ đồng tâm

Cứu người ngay thầy trò nên nghĩa

Phiêu Hương và Tạng Cẩu ngồi nói chuyện với nhau giữa tiếng rì rào của con nước và âm thanh xào xạc của khóm lau. Liễu Thăng nằm ở một góc, thiu thiu ngủ. Song bàn tay vẫn nắm chặt thanh trường thương. Cậu không tin tưởng Phiêu Hương và cô bé cũng chẳng tín nhiệm cậu.

“ Thế rốt cuộc giữa hai người đã có chuyện gì thế? ”

Tạng Cẩu hất hất đầu về phía Liễu Thăng ra dấu.

“ Tên này ấy hả? Chẳng biết tự nhiên hắn từ đâu chạy tới, lại còn dẫn theo một đống binh sĩ nữa. Hộ vệ của ta thấy vậy bèn ngăn lại, thì hắn lao ra giết luôn. Hai bên giết giết chém chém một hồi, chỉ còn mỗi ta và hắn sống sót. Sau đó thì ta bị truy sát tới tận chỗ này. ”

Phiêu Hương vỗ vỗ vỏ đao, đáp.

“ Vậy là hiểu lầm rồi. Ngày mai hai người giải thích rõ với nhau là xong chuyện. ”

Tạng Cẩu nói, tiện tay lia một viên đá nhỏ về phía con sông. Hòn sỏi nảy lên liên tiếp ba, bốn lần rồi mới chìm xuống.

“ Sao có thể được? Hắn là quân giặc cướp nước, không ai là không muốn giết hết! Là người nước nam, đáng lẽ cậu nên giúp ta giết hắn mới phải. ”

“ Tôi biết quân Minh không tốt, đã giết rất nhiều người. Song nhà Hồ lại càng tệ hại hơn. Đám lính một tháng đến làng hai ba bận, người làng để được bao nhiêu tiền, bao nhiêu gạo thóc chúng đều lấy sạch. Các anh các chú bị bắt đi hết, không ít người phải trốn cả lên núi. Trâu bò bị dắt đi mất, chó gà chúng cũng ẵm đi. Trong làng, ngoại trừ các cô các mợ ra, chỉ còn người già và trẻ con. ”

Tạng Cẩu nghiến răng lại mà nói, nắm đấm bé nhỏ của nó đấm mạnh lên mặt đất.

“ Ấy vậy mà chúng nó cũng không tha! Chúng đem quân đến. Chúng nó chém hết, bắt hết, đốt hết. Cả xóm làng chẳng còn gì cả. Mắt người làng mở to, mở to lắm. Họ chết cũng không nhắm mắt mà cứ nhìn chằm chằm. Trai làng từ trên núi chạy xuống đánh, nhưng không lại. Máu chảy ra be bét cả đất.

Bọn chúng thì cứ cưỡi ngựa phi khắp các ngách các hẻm. Vó ngựa đỏ lòm máu trẻ con… Các cô khóc. Khóc gọi con. Nhưng chúng nó chết mất rồi còn đâu nữa mà gọi. Rồi gào lên, rồi chửi, rồi miệng thì cười mà mắt thì khóc. Bọn quỷ ấy lại vung đao lên, rồi các cô không động đậy nữa. ”

Nó càng kể, càng nhớ lại những gì xảy ra ngày ấy. Cái chết của từng người in trong đầu nó đến giờ vẫn chẳng phai nhoà đi tí nào. Tạng Cẩu nhớ từng nụ cười, từng cái xoa đầu vỗ vai người làng dành cho nó. Thế là nó co mình lại, ôm đầu mà nức nở. Nó giấu tiệt mặt mình vào hai chân, không để cái vẻ mếu máo của nó phản chiếu lên đáy nước.

Phiêu Hương nghe Cẩu kể lại cuộc thảm sát hôm ấy mà lạnh sống lưng. Tạng Cẩu tả không sót một chi tiết nhỏ nào, khiến cô bé tưởng như cái ngày đẫm máu ấy đang hiển hiện trước mặt mình vậy. Song cô bé lớn lên trong nhung lụa, chưa từng trải qua thảm cảnh ấy nên không biết phải an ủi Tạng Cẩu ra sao. Phiêu Hương muốn vỗ vỗ vai động viên nó mấy cái, song đưa tay ra được nửa chừng lại rút nhanh về.

Tạng Cẩu khịt mũi, lau hết nước mắt đi. Nó nhặt một viên sỏi lên, ném ra sông một lần nữa. Lần này hòn đá chìm hẳn xuống đáy sông, giống như lòng thù hận được nó kìm xuống tận sâu thẳm trong lòng vậy.

“ Đã là hiểu lầm rồi, vậy thì ta đi nhé? ”

Phiêu Hương nghiêng đầu qua, cẩn thận nhìn Tạng Cẩu. Bi kịch của thằng bé khiến cô không ghét nó nữa, xong cũng chẳng thể tin nó ngay lập tức được.

Tạng Cẩu trầm tư hẳn. Ánh nhìn của nó không còn cái vẻ mông lung khi trước nữa, thay vào ấy là một thoáng mâu thuẫn trong đôi mắt.

Một mặt, nó tin Liễu Thăng không phải hạng lỗ mãng, càng không phải đảng ác lạm sát thường dân vô tội như Mạc Thuý. Nếu như người anh kết nghĩa ấy của cậu đã truy sát Phiêu Hương, thì chứng tỏ mọi chuyện không hề đơn giản như lời kể một phía của cô.

Song đồng thời, nó cũng hi vọng những gì Phiêu Hương kể là sự thật. Nhìn phục sức, võ khí của cô thì biết ngay thân phận của cô bé chẳng tầm thường, thậm chí có thể là tiểu thư nhà quan võ. Một khi lọt vào tay quân Minh, ắt sẽ khó thoát được nạn mất đầu.

Tạng Cẩu lại nhớ lại những tù binh bị bắt trong trận chiến trước giữa nhà Hồ với quân Minh mà thấy ớn lạnh. Gần trăm đồng bào của nó bị bắt quỳ giữa chợ, Mộc Thạnh tự mình vác siêu lên chém đầu từng người từng người một, đến khi mặt đất của cái xóm bỏ hoang ấy đỏ lòm mới thôi.

Nó len lén nhìn Phiêu Hương, ánh mắt bất giác rơi lên cần cổ của cô bé.

“ Sao đằng ấy cứ nhìn tớ chân chân thế? Mặt tớ dính bùn hả? ”

“ Không… không có gì… ”

Tạng Cẩu vội vàng nhìn qua chỗ khác. Dù nó vẫn chưa có khái niệm tình cảm nam nữ, song lúc bị Phiêu Hương gọi nó lại thấy ngài ngại.

Vầng trăng khuya đậu xuống mặt sông, tan rã theo từng cơn sóng dập dềnh. Hương cỏ thoảng mùi hoa dại, êm ru phảng vào trong không khí.

“ Hay… cậu cứ chạy đi? ”

Tạng Cẩu nói mà mắt vẫn nhìn ra xa. Nếu lúc này Phiêu Hương nổi lên ý giết người diệt khẩu thì thằng bé hẳn đã chết mất xác dưới sông rồi. Song cô bé vẫn ngồi im, không động đậy một ngón tay.

“ Còn đằng ấy?? Không sợ bị hắn trách phạt à? ”Vừa nói, Phiêu Hương vừa kéo kéo áo Cẩu, ngón tay thì chỉ vào Liễu Thăng.

“ Không sao đâu, tôi sẽ giải thích với anh ấy. Cậu tranh thủ chạy mau, gà gáy đến nơi rồi đấy. ”

Tạng Cẩu đứng dậy, giục. Nó biết thả Phiêu Hương đi sẽ là qua mặt Liễu Thăng, thậm chí có thể còn bị Trương Phụ, Mộc Thạnh giáng tội xuống đầu.

Song Tạng Cẩu nghĩ cùng lắm là bị đánh một trận, bỏ đói mà thôi. Nó chịu được. Còn hơn là để cô bé ngồi cạnh nó phải chết.

[ Phiêu Hương chỉ chạc tuổi mình, thì đã làm gì nên tội kia chứ? Cô ấy chắc cũng hận quân Minh đã giết mấy người hộ vệ, nên khó mở lời giải thích với anh Thăng. ]

Thấy Tạng Cẩu lựa chọn tin tưởng mình, Phiêu Hương bất giác thấy hơi hổ thẹn.

[ Thả mình đi, chắc chắn Tạng Cẩu sẽ không được yên. Không chừng còn bị giết để răn đe. Trước đó mình muốn giết nó, mà Cẩu còn rộng lượng cứu mình một mạng. Nay nếu mình lại lấy oán báo ân khiến ân nhân phải chết thì còn gì là con người nữa ư? Không được! Nhưng cứ thế này vào trại quân Minh thì cũng chẳng khác nào tự sát. Có cách nào vẹn cả đôi đường không nhỉ? ]

Phiêu Hương nghĩ một lúc lâu, rồi nói:

“ Ta có một cách này, nhưng hai ta sống được hay không phụ thuộc cả vào vị tướng quân đang nằm ở đằng kia đấy. ”

___o0o___

Ánh nắng tinh mơ chạm khẽ lên mặt Liễu Thăng. Cái ấm áp của một ngày cuối thu đất nam là quá đủ để người con phương bắc ấy cảm thấy dễ chịu. Tỉnh dậy với sự khoan khoái, đến cơn đau ở chân cậu cũng chẳng còn nhớ tới. Chạm đôi bàn tay lên má, Liễu Thăng lau mặt bằng chiếc khăn vàng nắng ấm.

Tạng Cẩu đang chuẩn bị bữa sáng cách đó không xa, trong khi Lê Phiêu Hương ngồi ngay cạnh, đao đặt trên đùi. Mặc cho “ kẻ địch ” gần kề, Tạng Cẩu vẫn không hề có bất cứ phản ứng nào cả. Mà cô bé “ Nam Di ” lại chẳng buồn vung nhẹ cánh tay lấy một cái, dù hành động đơn giản ấy đã là đủ để đầu Tạng Cẩu phải chuyển chỗ.

Dụi mắt mình liên tục mấy cái, Liễu Thăng mới dám khẳng định mình không gặp ảo giác. Cậu tự hỏi vì sao quan hệ giữa Tạng Cẩu và nữ tù binh kia trở nên hoà hoãn nhanh chóng đến thế.

Một cơn đau bùng phát ở hai chân nhắc nhở cậu tạm thời không nên nhỏm dậy quá lâu. Liễu Thăng nằm lại xuống, đặt đầu lên đống cỏ lau Tạng Cẩu chuẩn bị từ tối hôm qua.

Cậu thoáng trầm ngâm một chút, vẫn còn thấy bứt rứt vì sự thay đổi thái độ quá đột ngột của Phiêu Hương.

Cô bé thì chẳng thèm lí gì tới Liễu Thăng. Mài đao xong đâu đấy, khi lưỡi thép loá lên dưới nắng, lưu lại một tia sáng sắc lẻm đầy đe doạ thì cô mới vui vẻ cất hòn đá mài đi và tra lại đao vào vỏ.

Tạng Cẩu thuật lại câu chuyện tối qua Hương kể, giải thích rằng giữa hai người có một sự hiểu lầm nghiêm trọng. Cậu hi vọng trước khi về doanh trại có thể hoá giải hận ý của Liễu Thăng đối với Phiêu Hương.
Song, Tử Tiêm lại khẽ nhắc:

“ Hộ vệ của con nhỏ này là lính triều đình, chứng tỏ là con nhà quan lại hay thậm chí là hoàng tộc. Nói cách khác, khả năng cao là nó có liên can tới tên tướng Ngu từng tàn sát người thân của đệ đấy. ”

“ Ai làm thì nấy chịu, cho dù cô bé ấy thực là con của kẻ thù, thì cũng chẳng có tội tình gì. ”

Nghe Tạng Cẩu quả quyết, Liễu Thăng bèn im lặng không nói gì nữa. Cậu cẩn thận nhớ lại tình huống khi ấy, xem có thể tìm thấy lỗ hổng nào trong lời kể của Hương hay không.

[ Khi ấy mình dẫn theo mấy trăm huynh đệ truy quét phục binh thì gặp con nhãi này đi cùng một đám người mặc quân phục Đại Ngu.

Đúng là mình chưa hỏi gì đã xông tới giao chiến, nhưng một tiểu thư con quan làm gì trên đường rút lui của quân giặc, đã vậy còn có tận mấy trăm hộ vệ võ khí cẩn thận nữa chứ?

Lại nói, võ công của con nhỏ này thực không thể xem thường được. Chẳng những đao chiêu tinh kì, thân pháp càng thần diệu vô song. Mộc nguyên soái từng nói Hồ Đỗ Hồ Xạ là hai hãn tướng của nhà Ngu. Song một tên chỉ có man lực, tên kia thạo ám khí. Bộ đao pháp này học được ở đâu?

Hôm qua vì lí do gì hai cường giả thần bí lại xuất hiện cứu ta và Cẩu? Đáng lẽ họ phải đứng về phía quân nhà Ngu mới đúng chứ? Liệu có phải là khổ nhục kế của Hồ Nguyên Trừng hay không?

Không lẽ nào trên đời lại có chuyện trùng hợp đến thế. ]

Hôm qua quả là một ngày quá đỗi li kì và quái lạ, khiến Liễu Tử Tiêm nghĩ muốn banh não cũng không lí giải nổi. Lúc này thì Tạng Cẩu đã nấu nướng xong xuôi tươm tất, nên cậu cũng tạm thời không nghĩ thêm về chuyện ấy nữa.

Ăn sáng xong, Liễu Thăng không muốn lãng phí thêm thời gian nên vội vàng giục Tạng Cẩu mau chóng lên đường quay lại doanh trại.

Thứ vướng víu nhất là thanh kim thương, nhưng Liễu Thăng không dám bỏ lại vì còn e ngại Phiêu Hương. Tạng Cẩu dìu Liễu Thăng cà nhắc từng bước, còn Phiêu Hương tự đi bộ.

Lúc đi ra bãi cỏ lau, Tạng Cẩu chỉ mất nửa canh giờ. Nhưng nay phải cõng thêm một người, quân Minh đánh thua lại lui về sau mười dặm. Nội trong một ngày, khó mà tìm được quân doanh.

Đi chừng hai dặm đường, Tạng Cẩu đã thấm mệt, chân Liễu Thăng thì đau không chịu nổi. Cả ba đành phải dừng chân, Tạng Cẩu đỡ Liễu Thăng đến tựa vào một gốc cây ven đường để nghỉ cho lại sức.

Chừng một khắc sau, tiếng nhạc ngựa dồn dập truyền lại từ hướng bắc, đoán chừng không lâu nữa sẽ chạy tới chỗ ba người.

Chưa biết kẻ ấy là địch hay bạn, Liễu Thăng vội lê người ra đằng sau gốc cây. Nói đoạn cậu bắt Tạng Cẩu bịt miệng Phiêu Hương, kéo cô tới ngồi sát bên mới yên tâm. Hai đứa nhóc nước Nam đã bàn sẵn với nhau từ trước, nên cô bé ngoan ngoãn ngồi xuống mà không phản kháng gì.

Ba người yên lặng chờ đợi, bầu không khí nặng nề bao phủ thật khó chịu. Chừng mấy hô hấp sau, một người một ngựa xuất hiện ở xa xa. Người ra roi gấp gáp, ngựa chạy không dừng vó, sau lưng cuốn lên một hồi bụi đất mờ mịt.

Dựa vào khôi mão giáp trụ y mặc, Liễu Thăng có thể xác nhận người này là thám báo của quân Minh. Cậu thở phào một hơi, tảng đá trong lòng cuối cùng cũng buông được xuống.

“ Liễu tướng quân, thì ra ngài ở đây… ”

Kị sĩ thấy có thứ gì nhấp nhoáng sáng lên bên vệ đường bèn cho dừng ngựa. Đến gần, thì quả nhiên là Liễu Thăng cố tình dùng kim thương để khiến phát tín hiệu.

Y dìu ba đứa nhỏ lên ngựa, Tạng Cẩu ngồi chính giữa. Phiêu Hương thì đã đổi một bộ áo vải xô thường dân vẫn hay mặt, kéo khăn lên trùm qua đầu, lại cúi gằm mặt nên thám báo quân Minh không thể nhìn rõ tướng mạo cô.

Liễu Thăng biết viện binh đã tới, tâm lí căng thẳng thoáng được thả lỏng nên không hề để ý. Cậu lại nghĩ:

[ Thời hạn 12 canh giờ hãy còn đó, Phiêu Hương không cách nào dụng lực thì chưa chắc là đối thủ của Tạng Cẩu và mình. Chắc là không đáng ngại. ]

Ba đứa nhỏ hai trai một gái cộng lại cũng chỉ nặng xấp xỉ một người trưởng thành, cưỡi chung một con ngựa không hề gì hết. Liễu Thăng giật cương, lại nhắc Tạng Cẩu thúc vào bụng ngựa một cái. Chiến mã lồng lên, sau đó bắt đầu sải bước phi về doanh trại. Tiếng nhạc ngựa vang lên cộp, cộp… Ba đứa càng chạy càng nhanh, không ai trong chúng biết có một bóng đen vẫn đang âm thầm bám theo.

___o0o___

Về đến doanh trại, Tạng Cẩu báo hai binh sĩ dùng cáng khiêng Liễu Thăng đến chỗ quân y để liệu thương, tránh để xương chân có ám tật, ảnh hưởng đến việc quân.

Tử Tiêm nghĩ thầm: [ Đã về đến đại doanh, cho dù man nữ có khôi phục võ công thì cũng không làm nên trò trống gì, ta không cần quá lo lắng. ]. Cậu chỉ nhắc Tạng Cẩu phải cẩn thận, sau đó toàn tâm toàn ý điều trị thương thế.

Đợi Liễu Thăng đi khuất, Tạng Cẩu mới dẫn Phiêu Hương đến soái trướng gặp Trương Phụ.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau