THUẬN THIÊN KIẾM - RỒNG KHÔNG ĐUÔI

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương sau

Chương con truyện Thuận thiên kiếm - rồng không đuôi - Chương 1 - Chương 5

Chương 1: Tự chương

( Nghịch Tử tổng hợp tư liệu lịch sử liên quan tới truyện ở đây để người đọc tiện theo dõi. Bạn đọc không thích cứ tự nhiên bỏ qua, sẽ không ảnh hưởng tới cốt truyện đâu)

Tháng 4 năm 1406, lấy cớ đưa Trần Thiêm Bình về nước, nhà Minh sai hai tướng Hàn Quan và Hoàng Trung mang quân hộ tống để lập Thiêm Bình làm vua, thực chất là muốn chiếm đóng Đại Ngu. Minh Thực lục chép quân số đội quân của Hoàng Trung là 5000, nhưng theo Đại Việt Sử ký Toàn thư thì Hoàng Trung có tới 10 vạn quân.

Ngày 8 tháng 4 âm lịch, Hoàng Trung đánh vào cửa Lãnh Kinh. Hai cánh quân thuỷ bộ nhà Hồ đụng độ với quân Minh. Quân Đại Ngu bị bại trận, các tướng Phạm Nguyên Khôi, Chu Bỉnh Trung, Trần Nguyên Huyên, Trần Thái Bộc tử trận. Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng xuống thuyền đi thoát.

Song đúng lúc đó, tướng Hồ Vấn mang quân từ Vũ Cao (Bắc Giang) đánh úp quân Minh. Hoàng Trung không chống nổi, đến đêm bèn rút quân về. Song các tướng Đại Ngu là Hồ Xạ và Trần Đĩnh mang quân đóng chặn ở ải Chi Lăng. Quân Minh bị mất đường về, buộc phải chấp nhận giao nộp Trần Thiêm Bình và sai Cao Cảnh đưa hàng thư, đề nghị mở đường cho về nước:

"Quan tổng binh Hoàng sai tiểu nhân tới đây trình bày ngài biết việc này: Trước vì Thiêm Bình chạy sang triều đình tâu rằng hắn chính là con của quốc vương An Nam, vì thế mới sai đại binh sang chiêu dụ. Không ngờ trăm họ xứ này đều không phục, rõ ràng là hắn nói bậy. Nay lui quan quân về tâu với triều đình thì bị quan ải dọc đường ngăn giữ, nghẽn lối không qua được. Nay đem Thiêm Bình tới nộp, xin thả cho đi thì may lắm".

Hồ Xạ nhận hàng thư bằng lòng nhận Thiêm Bình và mở vòng vây cho quân Minh rút lui. Trần Thiêm Bình bị mang về xử lăng trì. Nhà Hồ thắng trận, bắt được nhiều tù binh bèn đưa về mấy trấn Nghệ An, Thái Nguyên cho làm ruộng.

Trần Thiêm Bình bị giết khiến nhà Minh tức giận và quyết định tiến đánh nhà Hồ.

Về phía vua quan Hồ Quý Li thì dù thắng trận nhưng không hề chủ quan mà dự đoán quân Minh còn kéo sang đánh nữa. Hồ Hán Thương tiếp tục sai củng cố phòng tuyến Đa Bang dọc các bờ sông. Mặt khác, nhà Hồ cho đoàn sứ gồm Trần Cung Túc, Mai Tú Phu sang nhà Minh xin giảng hoà, biện minh việc Thiêm Bình là giả mạo. Nhưng đoàn sứ Đại Ngu bị nhà Minh bắt giam toàn bộ.

Ban đầu, Minh Thành Tổ Chu Đệ ra lệnh cho Thành quốc công Chu Năng làm Chinh di đại tướng quân, Tín thành hầu Trương Phụ làm hữu phó tướng, Tây bình hầu Mộc Thạnh làm tả phó tướng, phối hợp tiến quân. Tuy nhiên, tới tháng 11 năm 1406, Chu Năng bị nhiễm bệnh chết khi mới tới Long Châu, quyền thống lĩnh về tay Trương Phụ.

Tháng 9 cùng năm, nhà Minh sai Trương Phụ, Trần Húc, đem 40 vạn quân đánh vào cửa ải Pha Lũy (cửa khẩu Hữu Nghị ngày nay), Mộc Thạnh, Lý Bân cũng đem 40 vạn đại quân đánh vào cửa ải Phú Lệnh (gần thị xã Hà Giang ngày nay), hai đạo quân tổng cộng là 80 vạn.

Tháng 10, quân Minh hội ở sông Bạch Hạc, bày doanh trại bờ bắc sông Cái, đến tận Chú Giang.

Nhà Hồ bố trí quân ở sông Hồng theo sự chỉ huy của Hồ Nguyên Trừng, quân ở sông Chú thì theo sự chỉ huy của Hồ Đỗ. Trên bờ, quân bộ và voi đóng đối diện doanh trại quân Minh.

Theo Minh thực lục, ngày 19 tháng 11 năm 1406, Trương Phụ từ Bằng Tường tiến quân sang đánh nhà Hồ.

Trương Phụ và Mộc Thạnh dùng danh nghĩa "Phù Trần diệt Hồ", viết bảng văn kể tội nhà Hồ và tìm con cháu nhà Trần để phục vị, cho thả theo dòng sông. Nội dung bảng văn kể 22 tội của Hồ Quý Ly, gồm có 8 nội dung lớn:

Cướp ngôi, giết vua và tông thất nhà Trần (2 tội)Coi nước và nhân dân như thù địch (3 tội)

Tự tiện đổi họ Lê sang họ Hồ (1 tội)

Lừa gạt triều đình nhà Minh (trong vụ Trần Thiêm Bình) (3 tội)

Đánh chiếm và khống chế vùng Tư Minh, Ninh Viễn (5 tội)

Đánh Chiêm Thành là nước đã thần phục nhà Minh (6 tội)

Không theo lịch Trung Quốc, tự đổi tên nước (1 tội)

Khinh nhờn, không kính trọng nhà Minh (1 tội)

Quân nhà Hồ trông thấy bảng văn, lại thấy chính sự chưa được lòng dân nên không có lòng chống quân Minh. Các tướng Mạc Thúy, Nguyễn Huân đem 10.000 quân ra hàng quân Minh và được phong chức.Ngày 2 tháng 12 âm lịch, người Minh chiếm được Việt Trì, bờ sông Mộc Hoàn (nay là xã Cổ Đô huyện Ba Vì Hà Nội) và chỗ đóng cọc ở sông Bạch Hạc (cửa sông Lô đổ vào sông Hồng). Tướng chỉ huy quân Tả Thánh Dực là Hồ Xạ không giữ nổi, phải dời hàng trận sang phía nam sông Cái. Đêm mồng 7 tháng 12 âm lịch, quân Minh tiến ra bãi sông Thiên Mạc bị tướng nhà Hồ là Trần Đĩnh đánh bại.

Quân Hồ thua liên tiếp ba trận Mộc Hoàn, Đa Bang và Hàm Tử. Sau Chiêm Thành lại đánh từ phía nam lên, cha con Hồ Quý Li và Hồ Nguyên Trừng phải bỏ thành Tây Đô mà chạy. Thế nhưng quân Minh vẫn đuổi theo rất rát, hai người chạy đến ghềnh Chẩy Chẩy và cửa biển Kì La thì bị bắt, nhà Hồ sụp đổ.

Đến năm 1416, 9 năm sau khi nhà Hồ mất nước, Lê Lợi cùng mười chín tướng lĩnh lập thệ ở Lũng Nhai, quyết chí đòi lại non sông cho đất Việt. Đại Việt Sử Kí toàn thư đã có dẫn lời Lê Lợi: “ Ta cất quân đánh giặc không phải có lòng ham phú quý, mà chính để ngàn năm sau, người đời biết ta không chịu làm tôi tớ cho giặc ”. 1417, Nguyễn Trãi đến gặp Lê Lợi ở Lỗi Giang, nguyện phò tá minh quân. Đến mùa xuân năm 1418, tức năm Mậu Tuất, Lê Lợi cùng Lê Văn An, Lê Sát, Lưu Nhân Chú…v.v… tất thảy hơn năm mươi văn quan võ tướng chính thức phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn. Cứ theo sử gia các đời, thì Lam Sơn khởi nghĩa được chia làm ba giai đoạn.

Giai đoạn đầu, nghĩa quân gặp nhiều gian nan khốn khó. Quân Lợi bị vây quét gắt gao, mấy lần phải chạy lên núi Chí Linh lánh nạn. Có lúc trốn tránh nơi núi rừng, trơ mắt nhìn gia quyến bị bắt, chịu nổi khổ ải tuyệt lương đến hai tháng giặc mới rút. Lúc quay lại, chỉ thu được một trăm tàn binh.

Năm 1419, Lê Lai phải giả làm Lê Lợi, đánh lạc hướng quân giặc cho nghĩa binh thoát khốn, có thời gian ngơi nghỉ chỉnh đốn lực lượng. Ông này bị xử tử ở Đông Quan, tích “ Lê Lai cứu chúa ” từ đó được người đời nhớ mãi.

Đến năm 1422, Lê Lợi phải giảng hoà với quân Minh, song chúng lại giam giữ sứ giả. Sang năm sau, hoà hảo bị đứt đoạn, nghĩa quân tiến vào giai đoạn thứ hai của cuộc khởi nghĩa.

1424, Lê Lợi tiến quân vào Nam, chiếm lấy hoàn toàn Nghệ An. Chỉ trong một năm, toàn bộ đất đai Thanh Hoá đều vào tay nghĩa quân, thành địch không chốn nào không bị vây hãm.

Qua năm sau, nghĩa quân thắng lớn trận Chúc Động - Tốt Động. Trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi bình giải trận này bằng một câu: “ Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm ”. Thuận thế, Lê Lợi cho quân vây chiếm Đông Quan, chiến sự căng thẳng. Vương Thông nhân đêm tối mưa dông cho quân ra tập kích, Đinh Lễ và Nguyễn Xí bị bắt, Lê Triện tử trận. Sau Xí trốn được, còn Lễ bị xử tử.

Lại nói năm 1427, Liễu Thăng và Mộc Thạnh kéo 12 vạn quân sang chi viện cho Thông. Lê Lợi cho quân giả thua, dụ Liễu Thăng truy kích vào Chi Lăng - Xương Giang. Thăng trúng phục kích, bị giết, quân Thăng không còn tướng cầm đầu càng đánh càng thua to. Ấy là trận đại thắng Chi Lăng - Xương Giang lịch sử.

Vương Thông biết đại thế đã mất, bèn xin giảng hoà. Lê Lợi chấp nhận, lập lời thề Đông Quan rồi tháng chạp thả cho Thông về nước. Khởi nghĩa Lam Sơn kết thúc sau hơn một thập kỉ.

Ấy là những gì sử sách ghi lại, rành rành giấy trắng mực đen.

Nhưng đôi khi, có những điều do vô tình hay hữu ý đã thất lạc vĩnh viễn giữa dòng thời gian, từ đó khiến bản chất của sự việc, sự vật hoàn toàn thay đổi. Những bí mật ẩn sau Thuận Thiên kiếm, sau một giai thoại Hồ mạt Lê sơ đầy biến động và thương đau. Than ôi, chẳng qua cũng chỉ là một vài trong số ấy mà thôi.

Sử sách dẫu có là một bản hùng ca bi tráng đi nữa, thực chất chỉ là một dòng sự kiện được người ta chép ra, khó tránh khỏi đôi chỗ có phần phiến diện. Vô số những ẩn tình phía sau cái vẻ hào hùng sử thi ấy, âu chỉ có người trong cuộc mới tỏ tường, thiết nghĩ thật đúng lắm thay.

Chương 2: Hồi một

Chiến hoả trùng trùng sinh Tạng Cẩu

Quân Minh cuồn cuộn phá cửa quan

Lúc quân Minh mới sang xâm lược Đại Ngu, hai tướng Mạc Thuý và Nguyễn Huân đã đem một vạn binh sĩ tới xin hàng. Sau này, hai người Trương Phụ, Mộc Thạnh dẫn quân sông Tuyên, Mạc Thuý bèn vẽ bản đồ địa hình, lại dẫn các lộ hàng tướng xung phong làm hướng đạo cho quân Minh. Mạc Thuý cho bộ tốt dưới quyền thả sức chém giết thường dân để tỏ rõ cái ý quy thuận nhà Minh.

Thuở ấy chỗ cửa sông Bạch Hạc có một thôn nhỏ tên Điếu Ngư, nhân khẩu vào khoảng vài chục hộ. Binh sĩ của Mạc Thuý vừa kéo tới đã vung đao chém loạn xạ, khua đuốc đốt phá khắp nơi. Già trẻ trai gái trong thôn tổng cộng hơn hai trăm người. Trai tráng thì chết cả trong tay chúng. Đàn bà con gái ai có chút nhan sắc thì bị quân lính trói lại khiêng đi, còn không thì cũng bị giết. Cả thôn ngập trong một biển máu tanh tưởi và tiếng khóc than vang dậy đất, duy chỉ có một nhóc tỳ vừa qua tám tuổi là sống sót. Nó nấp trong lũy tre dày nhìn ra, thấy cảnh máu người thân phun đầy đất mà nghiến răng thật chặt, mười đầu ngón tay bé nhỏ chuyển thành màu trắng.

Lá cờ " Đại Ngu " của quân Mạc Thuý in hằn trong đôi mắt nó. Những lời già làng kể cho nó nghe về nhà Ngu, về Hồ Quý Li và những tội trạng của ông ta vẫn còn mới nguyên trong đầu đứa bé. Người lớn trong làng còn cẩn thận lấy que vạch lên đất chữ " Ngu ", dặn đám nhỏ học thuộc, sau này hễ thấy cờ xí thêu chữ này là phải trốn ngay. Vì nó nghe lời lẩn vội vào lùm tre nên mới may mắn giữ được mạng sống.

Dù mặt mũi lấm lem đúng chất con nhà nông, ngũ quan của nó lại khá thanh tú thư sinh. Nếu không có những vết bùn đất vấy đen thùi đôi má thì có thể nói là dễ nhìn. Đặc biệt là cặp mắt thằng bé ấy rất sáng, cứ như thể hai vì sao trên cao được ai hái xuống gắn vào hốc mắt nó vậy.

Nó không cha chẳng mẹ, cũng không họ không tên. Người làng nhặt được nó trong một cái làn bị thả trôi theo dòng nước từ khi nó mới lọt lòng, vì tội nghiệp đứa nhỏ tứ cố vô thân nên góp gạo vào nuôi nó lớn. Lúc biết đi đứng nói năng, thằng bé ấy bắt đầu đi xin ăn. Ai cho gì nó cũng lấy, nhờ gì nó cũng làm nên được cả làng gọi là Con Chó Bẩn. Nó nằm im trong bụi tre không dám nhúc nhích, mặc cho mưa lạnh xối thẳng vào lưng, bùn hôi bắn lên đầy mặt. Những chỗ trên người nó bị gai tre cào rách, nay lại thấm nước mưa càng thêm ê buốt. Song nó vẫn cứ im thin thít dầm mưa trốn suốt nửa ngày, cho đến khi nhánh quân tiên phong của Mạc Thuý đi khuất rồi nó mới chui ra, đang định tìm bừa một hướng mà chạy.

Nhưng thằng bé dù hơi chút thông minh lanh lợi cũng mới chỉ có tám tuổi đầu thôi. Nó không ngờ được toán quân đông đảo thiện chiến vừa quét qua làng chỉ là một toán tiên phong. Chưa kịp chạy trốn, đứa bé đã gặp phải cánh quân chủ lực do Trương Phụ chỉ huy tiến đến từ xa. Nó thấy vậy muốn lẩn ngay, nhưng hai chân đã nhũn ra như hai cọng bún làm nó ngã nhào. Đứa nhỏ sức yếu, lại dầm mưa hơn nửa ngày nên đã nhiễm cảm, thế là bị quân Minh tóm cổ.

Hai tên binh sĩ đô con xốc nách nó lên, đem qua vệ đường. Chúng bẻ ngoặt hai tay đứa bé ra sau, dùng chân đạp đúng vào mạch môn ở cổ tay. Nếu làm thế thì đến người lớn cũng không giãy dụa gì được nữa là một nhãi con mới tám tuổi.

Xong xuôi đâu đấy, hai tên to con giơ cao thanh đao lên quá đầu, bàn nhau cứ cho nó một nhát là xong. Thế là đỡ rách việc.

Thằng nhỏ nghe đối phương xì xà xì xồ toàn tiếng Tàu chẳng hiểu gì cả thì lo lắm. Dự cảm lờ mờ mách bảo nó rằng ắt có chuyện chẳng lành sắp xảy ra. Rồi nó bị đối phương áp xuống đất. Mấy hơi thở sau, nghe thấy tiếng đao ra khỏi vỏ soàn soạt là nó biết mình sắp chết đến nơi. Hai tay bị đạp lên đau nhừ chẳng thể nhúc nhích nổi.

Thế là... đứa nhỏ la toáng lên.

Nó kêu ra ngoài miệng cũng rặt tiếng Tàu là tiếng Tàu, và mặc dù đứa nhỏ chẳng hiểu nổi lấy một từ mà mình thốt ra, nhưng phát âm cũng tròn vành rõ chữ.

Thì ra, năm đó quân Hồ thắng lớn ở Lãnh Kinh, một số tù binh bị bắt được đưa về thôn Điếu Ngư. Những người này xuất thân từ binh sĩ bị bắt, lúc đêm tối trò chuyện với nhau không phải ca ngợi hoàng đế khai quốc nhà Minh Chu Nguyên Chương thì là chửi rủa thoá mạ vua quan nhà Hồ. Người Nam nghe không hiểu, cũng không muốn hiểu nên cứ mặc kệ bọn hắn gào thét. Xuất phát từ tính tò mò của trẻ nhỏ, mỗi lần thằng nhỏ đi chơi qua chỗ những tù binh ấy đều dụng tâm nhớ kỹ những gì họ nói. May là đầu óc sáng lạng nên lâu dần cũng học được mấy câu có đầu có đuôi.

Đứa trẻ ngoạc mồm kêu một hồi, mấy người có địa vị trong quân rốt cục cũng để ý tới. Chỉ thấy trong hàng ngũ quân Minh có một thiếu niên đi ra. Người này thân cao vai rộng, lưng hổ eo gấu, mày kiếm dựng thẳng nhọn hoắt, mắt sáng thâm sâu tựa biển. Y mặc một bộ chiến giáp, đầu đội thú diện thôn đầu khôi, tay nắm một thanh hổ đầu kim thương. Sắc diện y hồng hào anh tuấn, tinh thần sáng láng đầy tự tin trái hẳn với vẻ lấm lem bệnh hoạn của Tạng Cẩu.

Thiếu niên chỉ nói mấy câu tiếng Tàu với hai binh sĩ, bọn chúng đã phải rút đao về. Sau đó cậu bé bẩn thỉu được chúng nâng dậy, bước nhanh vào trung quân.

Đây là lần đầu tiên hài đồng thấy nhiều binh lính như thế. Nó như quên cả sợ hãi khi trước, tròn vo đôi mắt nhìn tới nhìn lui ra chiều thích thú lắm. Chỉ thấy ai nấy đều mặt mày nghiêm túc, ánh mắt lạnh lẽo sắc bén. Khi dừng chân thì ngay hàng thẳng lối, có quy có củ. Cậu bé bỗng cảm thấy choán ngợp, bị khí thế hùng hổ như biển lớn của đại quân nhấn chìm mà lui về sau hai bước. Đúng lúc ấy bệnh sốt quái ác lại hoành hành, thế là đầu óc Tạng Cẩu quay mòng mòng lên. Cơn chóng mặt đánh đổ nó, vật thằng bé ra đất.

Thiếu niên mặc giáp dẫn trước, hai tiểu tốt chặc lưỡi xốc nó lên theo sau. Bốn người đi thêm một lúc nữa, vượt qua xa kị quân, thương binh, đao binh rồi mới tới trung quân.

Nổi bật lên so với các thuẫn binh xung quanh là một đôi bạch mã cao lớn. Hai người đàn ông vận kim giáp ngồi chễm chệ trên lưng ngựa. Nhìn vẻ ngoài hoa quý của bộ giáp cũng biết thân phận của hai người trong quân rất cao. Kẻ xách siêu sắt bên trái là Mộc Thạnh, còn người vác quan đao bên phải là Trương Phụ.

Đứa nhỏ bị giải tới trước mặt họ, một trong hai gã binh sĩ dùng vỏ đao đánh vào khoeo chân nó để ép nó quỳ xuống hành lễ.

Cậu thiếu niên mặc giáp bạc bước lên nói xì xào, hai người vừa nghe vừa gật gù. Đứa bé dù nghe không hiểu, nhưng nó biết đối phương đang bàn nhau xem nên xử trí nó ra sao, thành ra cũng không tránh khỏi cảm thấy khẩn trương. Đặc biệt là sau khi sự kinh ngạc khi chứng kiến uy khí của đại quân đã qua đi.

Lúc này, Trương Phụ tằng hắng một cái, rồi nói xì xồ thật chậm một hồi bằng tiếng Tàu. Tất nhiên là hài đồng bẩn thỉu chẳng hiểu gì hết. Tuy nhiên, cậu thiếu niên mặc giáp bạc bắt đầu nói bằng tiếng Việt:

" Cậu nhóc... là... Minh quốc... người hả? "

Mặc dù còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi Hán ngữ nhưng đứa bé bẩn thỉu vẫn hiểu được đại khái. Nó hơi kinh ngạc vì người Minh mà lại biết tiếng Việt, nhưng rồi nó cũng gật đầu, miệng nở nụ cười ngốc nghếch:

" Phải... phải... "

Nó cố tình giả như nói tiếng Việt không sõi, cốt để đánh lừa đối phương.

" Vì sao ngươi... biết... Hán tiếng... lại... không nói? "" Ta... ngốc... bốn tuổi... mới biết nói... Tiếng Hán ba dạy, không học được... "

Không còn cách nào khác, đứa bé chỉ có thể tiếp tục giả ngốc. Trong làng có một thằng nhóc rất ngu đần, đầu óc tối tăm. Theo lời kể của chính nó thì đến mãi năm bốn tuổi thằng nhỏ ấy mới biết nói. Nó là con của binh sĩ người Minh, nên bõm bẽm được cả hai thứ tiếng. Đứa nhỏ ở vào lúc nguy hiểm bèn nảy ra ý giả làm người khác những mong lừa được đối phương.

Trong cuộc viễn chinh năm 1406, trong đoàn phu tải lương tuy rất hiếm nhưng vẫn có cả gia quyến của binh lính tự nguyện đi theo, nên trường hợp mà Tạng Cẩu bịa ra dù hiếm hoi, nhưng vẫn tồn tại.

Cậu thiếu niên khẽ vỗ vai thằng bé như để trấn an, sau đó dịch ra tiếng Tàu cho Trương Phụ và Mộc Thạnh. Hai viên tướng nghe xong bèn nhìn nhau gật gù, rồi lại nói gì đó với đứa bé bẩn thỉu.

Đứa bé dù chẳng hiểu họ nói gì cả, nhưng trên mặt vẫn hiện lên điệu cười ngốc nghếch. Chỉ có cậu thiếu niên là tỏ vẻ mừng rỡ, tay vỗ lên bả vai thằng nhỏ mấy cái.

" Tên... ta là... Liễu Thăng, tự Tử Tiêm. Ngươi? "

" Con... chó bẩn. "

Đứa bé luống cuống một lúc rồi đáp. Nó chẳng được học hành, không biết chữ nghĩa nên không lấy được tên nào nghe " Tàu Tàu một tí " để dùng tạm cả.

Liễu Thăng cười phá lên, hô lớn:

" Cẩu Tạng? Oa ha ha, tên ngươi là Tạng Cẩu? "

Vì quá buồn cười nên câu này cậu nói bằng tiếng Hoa, binh sĩ chung quanh đều nghe được. Ai cũng thấy nực cười trước cái tên quái dị của đứa bé. Đến cả Trương Phụ và Mộc Thạnh cũng phải cố lắm mới nín được cười để giữ thân phận và uy nghiêm, lòng nghĩ không biết bố mẹ nào lại đặt cho con cái tên cá tính đến thế.

Liễu Thăng lấy danh nghĩa bách hộ trưởng, thu Con Chó Bẩn làm thủ hạ dưới trướng. Vì chức quan nho nhỏ này cậu được tập ấm từ cha, trong quân ngũ chẳng có tiếng tăm gì nên không có binh sĩ nào tin tưởng đi theo hết.

Mộc Thạnh và Trương Phụ thì khác. Hai người bàn tính với nhau, đoán chừng cưu mang một đứa nhóc có tí xíu như Tạng Cẩu thì chẳng tốn bao nhiêu cơm gạo mà còn được cái tiếng nhân nghĩa. Trăm đường lợi mà chỉ có một điểm hại nhỏ bằng cái móng tay, nên hai tướng quyết định sẽ cho Tạng Cẩu đi cùng.

" Cho nó ở cùng Liễu Thăng thì dù là gián điệp của quân Ngu nó cũng không cựa được. Kể cũng kì, nhất nhị tam học còn không thông, mà ca ngợi tiên đế thì cứ lau láu. "

Hai người bàn nhau, thầm đắc chí vì sự khôn ngoan của mình.Lại nói, Mộc Thạnh dẫn một cánh binh mã theo sự chỉ dẫn của Mạc Thuý tiến về phía thành Đa Bang công mặt nam trước, Trương Phụ và đại quân theo sau, hai người ước định lúc hội quân sẽ là ngày thành đổ.

Cứ thế, Tạng Cẩu đi theo quân Minh xuôi về phía nam.

Quân Minh thắng lớn trận Mộc Hoàn, tướng đại Ngu Nguyễn Công Khôi vì mải nữ sắc nên không kịp dẫn quân ngăn trở, binh tốt dưới trướng Trương Phụ thành công bắc cầu phao vượt qua sông Thao, tiến quân thẳng đến Đa Bang.

Có lẽ do cùng tuổi, lại hợp tính nhau nên Liễu Thăng coi thủ hạ đầu tiên của mình – " Tạng Cẩu " – như là anh em, cho ngồi cùng mâm dùng chung đũa bát. Tạng Cẩu nghĩ nếu " cậu ấm " này mất hứng thì chắc chắn mình toi mạng, nên Liễu Thăng nói sao thì cậu cũng cứ nghe vậy, không dám trái lại, cũng chẳng hề có cảm giác mình được ưu ái. Nó không biết tiếng Tàu, cũng không được ai dạy cho lễ nghĩa tôn ti gì cả. Liễu Thăng thì lại không thạo tiếng Việt nên hai đứa thường gặp khó khăn trong việc giao tiếp với nhau. Tử Tiêm xuất thân là con nhà quan, từ bé đã phát chán ánh mắt ngưỡng mộ, ghen tị hay nịnh nọt của những đứa trẻ địa phương cùng trang lứa. Tiếp xúc với Tạng Cẩu, Liễu Thăng thấy rất thích sự ngây thơ của cậu bé, bèn nảy ý kết bái làm anh em. Nhưng lại thấy hai bên thân phận quá chênh lệch, xưng huynh gọi đệ với người luôn làm bạn cùng kiếm thương cung mác như mình cũng chưa chắc đã là chuyện tốt cho Tạng Cẩu bèn dằn ý nghĩ này xuống.

Tạng Cẩu là trẻ lang thang, đã quen ngủ đầu đường xó chợ rồi nên nó thường nghỉ ngơi ngoài cửa lều, trên một cái xe kéo. Hàng đêm luôn có hai lính gác đứng gác ở cách đó không xa, thực ra là để giám sát nó.

Quân nhà Minh hội họp ở thành Đa Bang, áp sát hai mặt bắc nam thành tấn công dữ dội. Hai bên giằng co suốt mấy ngày, xác chết chất cao như núi, máu chảy lênh láng tựa sông. Mấy chục vạn quân Minh không công phá được Đa Bang mà quân Đại Ngu cũng không thể chọc thủng vòng vây.

Đêm hôm đó, Tạng Cẩu đang thiu thiu ngủ ngoài cửa lều thì đột nhiên thấy mặt đất khẽ rung lên. Biên độ càng lúc càng nhanh, khiến nó giật mình tỉnh lại.

" Quỷ! Quỷ đến bắt người!!! "

Tạng Cẩu sợ quá, trong lúc thần trí còn mơ hồ bên bờ mê tỉnh đã khóc toáng lên. Tiếng nó vang khắp quân doanh, khiến Trương Phụ, Mộc Thạnh giật mình tỉnh giấc.

Cứ như già trong làng kể thì quỷ to lắm, mắt nó tròn xoe, mồm ngoác rộng dẩu ra hai cái nanh bén như vuốt cọp sừng trâu. Lỗ mũi nó phụt ra lửa, da xanh lè còn tóc thì đỏ rực. Sức quỷ lớn kinh hồn, nó đi đến đâu núi rung đá lở đến đó, chuyên bắt người xấu, đặc biệt là trẻ con không nghe lời, tha về hang ăn thịt. Tạng Cẩu nghe những câu chuyện người lớn dùng để doạ trẻ nhỏ này nhiều, riết rồi sợ lúc nào cũng không hay. Nó thầm nghĩ: [ Chà, chết dở. Mình đang ở cùng dân Tàu. Chắc Quỷ nó đến bắt người về ăn thịt đây mà. Thế thì anh Thăng cũng khó thoát được. Người ta cứu mình một mạng, mình không thể vì tự cứu mà bỏ mặc ân nhân... ]

Nghĩ vậy, Tạng Cẩu bèn thu hết can đảm chạy vào lều, nắm bả vai Liễu Thăng đang mơ màng ngủ mà lắc qua lắc lại.

" Cẩu, đừng làm ồn... cho ta ngủ... "

Trong cơn mơ màng, Liễu Thăng quên mất Tạng Cẩu không biết tiếng Tàu, câu nói theo bản năng hoàn toàn dùng tiếng Hoa. Tạng Cẩu nghe không hiểu, cứ lay mãi vào vai cậu, miệng luôn mồm kêu:

" Quỷ! Có quỷ!!! "

Ruỳnh!! Ruỳnh!!!!

Lúc này, bên ngoài chợt vang lên tiếng kêu của binh sĩ truyền quân. Ánh đuốc bùng lên sáng bừng cả doanh trại. Tiếng chân bước rầm rập, giáp trụ khí giới khua vào nhau loảng xoảng hoà lẫn vào tiếng ngựa hí liên hồi.

Liễu Thăng nghe thấy những âm thanh đặc thù ấy mới tỉnh táo lại. Cậu vỗ vào mặt mình hai cái, rồi nai nịt võ trang cẩn thận thật nhanh. Quá gấp, nên cậu cũng chẳng có hơi sức để tâm đến Tạng Cẩu – người đang vừa kéo tay vừa cố đẩy cậu ra khỏi lều để chạy khỏi " con quỷ ". Liễu Thăng đang gấp, nghe câu được câu mất bèn cả giận, trầm giọng: " Nam nhi đại trượng phu, lâm trận bỏ chạy còn ra thể thống gì? ". Nói xong cũng mặc kệ cậu bé ăn mày.

Chỉ mấy phút sau, Liễu Thăng đã một tay nắm kim thương đầu hổ, một tay vén cửa lều lên. Cậu thiếu niên chạy băng băng về phía lều chủ soái của Mộc Thạnh và Trương Phụ. Tạng Cẩu mới ốm dậy, đuổi theo không kịp nên chỉ biết gọi với theo bóng lưng Liễu Thăng đến lạc cả giọng.

Hai viên đại tướng đã tỉnh hẳn. Nghe thám quân truyền tin, thì ra tướng sĩ đại Ngu nhân đêm tối đục thủng tường thành lấy lối cho tượng binh di chuyển. Nay quân voi đã kéo đến chỉ cách doanh trại chừng mười dặm, khí thế không gì cản nổi.

Mộc Thạnh và Trương Phụ chinh chiến nhiều năm, nhưng chưa có cơ hội đụng đầu với tượng binh. Thế nên nhất thời cũng không biết phải làm gì để phá địch. Đám tham tướng vây quanh thì rặt một lũ vô dụng, giá áo túi cơm nên chẳng nghĩ ra được ý gì hay ho. Quân Đại Ngu bên ngoài thì tiến tới càng lúc càng gần, tiếng hô chém giết và tiếng voi kêu vang rền như sấm nổ bắt đầu vọng lại từ phía xa.

Liễu Thăng giục ngựa chạy đến chỗ hai tướng vào. Đến khi biết được tình hình nghiêm trọng đến mức nào thì sững cả người. Lúc này, vị tướng trẻ tuổi mới biết vì sao Tạng Cẩu lại bảo cậu mau chạy.

[ Tạng Cẩu còn nhỏ, nghĩ voi lớn là quỷ mới bảo ta trốn. Trong lúc ấy, dù sợ hãi nhưng nó vẫn không bỏ rơi mình chạy trước, tiểu tử này cũng thật là có nghĩa khí. ]

Ba người ngồi bàn kế sách đối phó quân voi ngay trên lưng ngựa, nháy mắt đã qua thời gian một khắc nhưng vẫn chẳng tìm ra được đối sách nào dùng được. Trong khi ấy binh voi của quân nhà Ngu đã càn vào càng lúc càng gần. Quân nhà Minh chống đỡ không nổi, thương vong bắt đầu tăng mạnh.

Cửa sông Bạch Hạc: đoạn sông Lô đổ vào sông Hồng

Chương 3: Hồi hai (1)

Hiểm cảnh trung Liễu Thăng hiến kế

Phút sống còn Tạng Cẩu cứu nguy

Sự xuất hiện bất ngờ ngay trong đêm của voi chiến khiến trận thế quân Minh đại loạn. Lúc này sau lưng là sông Thao, phía trước là quân voi hung hãn đang càn tới, quân Minh nhất thời lâm vào cảnh tiến thối lưỡng nan.

Trong đêm, cho dù là thần tiễn thủ cũng khó mà bắn được vào đôi mắt của chiến tượng. Còn bầy voi thì bất kể là người, là ngựa hay rào chắn, chúng chỉ cần lao về phía trước là mọi vật cản đều phải bị phá huỷ.

Trương Phụ nói:

“ Tượng binh thế như nước lũ, kị binh của ta không chọi cứng nổi. Chi bằng dùng kế lấy xảo phá lực, dĩ nhu khắc cương. Ta đã cho tiền quân liều mình chiến đấu, lại phóng hoả đốt trại nhưng e là không ngăn được bầy hung tượng ấy quá lâu. ”

Đám tham tướng lập tức nhao nhao đồng tình:

“ Đúng thế. Quân địch thế mạnh, nên lánh mũi nhọn. ”

Mộc Thạnh cười khẩy, nói:

“ Đạo lí cơ bản thì là thế, nhưng quan trọng phải thực hiện bằng cách nào?? ”

Yên lặng. Chẳng có bất cứ một từ nào vang lên. Mộc Thạnh thì phì phò thở, sắc mặt thấu đỏ ra chiều tức giận lắm.

[ Nước Nam địa hình hiểm trở dễ thủ khó công, lắm núi nhiều sông. Nếu không phải nhà Hồ chẳng được lòng dân, quân ta muốn tiến tới chỗ này chắc còn khó khăn hơn nhiều. ]

Trương Phụ thì chặc lưỡi, lắc đầu.

Liễu Thăng vỗ hai bàn tay vào nhau, nói:

“ Tôi có biện pháp này, không biết có dùng được hay không. ”

“ Hiền chất cứ nói. ”

Trương Phụ vội đáp lời, Mộc Thạnh cũng dùng ánh mắt chờ mong nhìn sang.

“ Tôi từng đọc một quyển sách, trong đó ghi voi sợ chuột. Chúng ta có thể dùng vải bao thành hình con chuột và ném chúng về phía lũ voi. Có lẽ như thế sẽ cản được bước tiến của chúng. ”

Các tướng nghe xong, đôi mắt đều sáng lên ý mừng rỡ, không tránh khỏi khoa trương Liễu Thăng là kì tài dùng binh, trong lúc gian nguy cũng không hoảng loạn. Hai vị chủ soái cùng cười, vỗ vai khen ngợi cậu thông minh lanh trí hơn người có thể nghĩ ra kì chiêu phá địch.

Liễu Thăng nghĩ thầm:

[ Thực ra có phải quyển sách nào nói đâu, nó là luật chơi của Đấu Thú Kỳ. Cũng may nhờ Tạng Cẩu có cái tên đặc biệt đến thế mới khiến mình nghĩ tới cách này. ]

Liễu Thăng còn đang xúc động vì nghĩa khí của Tạng Cẩu, thế rồi trong đầu chợt nảy ra ý tưởng, nghĩ ngay tới trò chơi Đấu Thú Kỳ mình từng rất say mê hồi nhỏ.

Đấu Thú Kỳ, hay Cờ Thú, là một loại cờ của Trung Quốc. Mỗi bên có tám quân là voi, sư tử, hổ, báo, chó, sói, mèo, chuột. Tượng mạnh hơn sư tử, sư tử đánh được hổ, hổ ăn được báo… cứ thế cho đến chuột là yếu nhất. Thế nhưng chuột lại có thể thắng được voi, còn voi dù là quân mạnh nhất nhưng không thể ăn được chuột.

___o0o___

Grrrrr!

Quân voi tiến nhanh về phía doanh trại trung tâm của nhà Minh. Bốn chân to như cột nhà dẫm đạp không thương tiếc vào hàng phòng thủ của quân phương Bắc, những cặp ngà cong vút và nhọn hoắt hung hãn húc đổ từng lớp thuẫn trận một. Trên bành voi, cung thủ xả tên, thương thủ phóng lao tới tấp xuống bên dưới. Tên nhọn rơi rào rào khác nào mưa xối, thương dài đổ từng trận giống hệt thác rơi.

Theo sát đoàn voi là mười toán bộ binh của quân nhà Hồ, gồm bốn đội đao binh, hai toán thương binh và bốn đội thuẫn binh. Kị binh mang cung và giáp nặng chạy phía sau, được dùng để bảo vệ hai cánh nếu gặp phải tập kích quân Ngu thì có thể lập tức phản ứng lại.

Con người cổ đại chỉ với khiên gỗ thương sắt thì không thể cản nổi thế tiến như thác đổ của loài vật đại diện cho sức mạnh này, đặc biệt là khi chúng hợp thành bầy với số lượng hàng trăm con, đã vậy còn được huấn luyện thế trận bài bản và điều khiển bởi những tay quản tượng có nghề. Nên Nguyễn Tông Đỗ - tổng chỉ huy quân nhà Hồ rất tự tin vào chiến thắng lần này. Y nghĩ chỉ cần tượng binh càn tới, có bao nhiêu quân Minh đi nữa cũng phải đổ rạp thì cần gì phải thủ thành nữa? Thế là ngay lúc trời vừa tắt nắng, Mộc Thạnh Trương Phụ vừa mới thu quân, lại nghĩ đối phương sẽ chỉ tử thủ mà không ngờ đến còn có một chi tượng binh náu trong thành, lúc này mới rơi vào thế bị động.

Dẫu vậy, quân nhà Minh cũng chẳng phải tay vừa.

Thạnh chẳng những nổi lửa đốt trại, lại cho một nhánh liều mình cản bước đám voi lớn.

Họ vừa đánh vừa lui, cố gắng né tránh việc đối đầu trực tiếp với tượng binh nên thương vong được giữ ở mức nhỏ nhất có thể. Song khó tránh khỏi có kẻ sống người chết.

Voi chiến hùng hổ xông tới, húc thẳng vào trận thế của thuẫn binh. Hiệu quả thì chẳng khác nào ném cục than vào đống tuyết. Thuẫn trận của quân Minh ngay lập tức tan rã, giáp trụ khiên chắn nát vụn dưới chân voi. Máu bắn lên cao, nhuốm đỏ cặp ngà.

" AAA. ”

Sĩ tốt quân Minh quằn quại dưới từng phát dẫm mạnh kinh hồn táng đảm của loài voi lớn. Cái vòi dài mạnh gấp sáu bảy lần roi da, hai cặp ngà sắc lẻm chẳng thua gì thương sắt. Lại thêm cả lớp da dày dạn và cung thủ, thương thủ ngồi trên bành tấn công, bầy voi càn qua doanh trại nhà Minh không gặp bao nhiêu khó khăn. Sức nóng của ngọn lửa có khiến chúng chùn chân một chút, nhưng không mấy hiệu quả.

Liễu Thăng vẫn ngồi trên lưng ngựa, nhưng hai bàn tay giữ cương ngựa đã chuyển màu trắng bệt. Môi cậu rách toạc, đỏ lòm những máu. Trong đôi mắt Liễu Thăng phản chiếu là ánh lửa ngùn ngụt, là đồng bào của cậu đang quằn quại trong cơn hấp hối chỉ với nửa người trên. Nghiến răng, cậu giật cương, định phóng ngựa chay thẳng về doanh trướng. Đúng lúc này Trương Phụ đuổi theo ngăn lại. Y lườm Liễu Thăng, trầm giọng nói:" Người làm tướng phải lấy đại cục làm đầu, không thể vì tình cảm cá nhân mà đưa ra quyết định sai lầm. Cút vào hàng cho ta! Nếu còn dám giục ngựa lao về phía quân Đại Ngu tức là làm trái quân lệnh, ta sẽ xử theo quân pháp. ”

Với một chút ướt át nơi khoé mắt, Liễu Tử Tiêm nhìn toán binh sĩ bị dùng làm vật hi sinh đằng xa một lần cuối. Có những gương mặt cậu đã quen, nhiều hơn là những diện mạo xa lạ. Bên đống lửa trại, một vài trong số đó từng cười tươi khi khoe về người vợ đang đợi ở quê nhà, số khác nói về mẹ già móm mém còn đang gửi người quen chăm sóc với vẻ hoài niệm. Ngọn lửa đang cháy tận trời kia như thiêu cháy từng câu chuyện, đốt trụi từng kỷ niệm của họ. Tình cảm hoá tro tàn, thịt xương đã sớm về cát bụi.

[ Hãy đợi đấy, một lát nữa thôi tôi sẽ trả thù cho các vị. ]

Liễu Thăng gác thương lên vai, thúc gót vào bụng ngựa cho nó quay về hàng. Phía sau cậu, Trương Phụ giấu đi một tiếng thở phào nhẹ nhõm.

May sao Nguyễn Tông Đỗ lại không dám giao chiến trực tiếp với quân địch mà chỉ biết lùa quân theo đuôi voi chiến, hò hét trợ uy. Ngựa chiến phương bắc cao to cường tráng hơn ngựa phía nam, vừa khoẻ lại nhanh. Quân Nam giục ngựa chạy hết lực cũng không thể vòng ra phía sau chủ quân nhà Minh, ngược lại còn bị đối phương dùng tên bắn bị thương một bộ phận nữa. Thành thử người Nam không thể tạo nên thế gọng kìm hạn chế phạm vi bỏ chạy của quân Minh lại.

Quân Minh có được một khắc quý giá ấy để ổn định đội hình, bình ổn quân tâm. Trương Phụ chia quân làm hai ngả, kị binh do Mộc Thạnh dẫn tách ra đánh thọc hai bên sườn để quấy nhiễu quân Đại Ngu, cản chậm bước tiến của voi chiến. Tổ còn lại do Trương Phụ dẫn đầu, vừa đánh trả kị binh vừa lùi lại. Trương Phụ để tiền quân bọc hậu, hai cánh tả hữu cảnh giới quân Đại Ngu tập kích đồng thời sẵn sàng tri viện chống đỡ quân voi. Còn trung quân và hậu quân tập trung làm chuột giả chuẩn bị phản kích. Liễu Thăng không giỏi cung tiễn, cũng ở lại trung quân bện chuột. Cậu lại nảy ra ý cho một ít thuốc nổ vào bụng chuột giả.

Kị binh của Mộc Thạnh dùng cung tiễn và tốc độ của ngựa đánh lại quân voi. Ngựa chiến phương bắc cao lớn to khoẻ, sức dai hơn ngựa phía nam nhiều. Kị binh Đại Ngu mấy bận vừa định xuất chiến ngăn cản, quân Minh đã ra roi cho ngựa lui về. Mặt mũi kị sĩ nhà Hồ ai nấy đều xám xịt như trời đêm dông. Quân Mộc Thạnh tiến lui nhịp nhàng có kỷ cương, khi công thì mạnh như sấm sét, lúc rút về lại nhanh tựa cơn giông. Dù không bằng khinh kị Mông - Nguyên xưa, nhưng so với trọng trang kị binh của nhà Hồ thì nhanh hơn không chỉ một bậc.

Graooooooo!

Kỉ luật của voi Đại Ngu lại không thể sánh bằng tượng binh của Chăm Pa, trình độ quản tượng cũng kém xa. Voi chiến trúng tên bắn vào từ hai cánh bị đau, dần dần nóng máu lên không nghe quản tượng điều khiển nữa. Kị binh nhà Hồ ở hai cánh rút cung cài tên bắn đuổi theo, nhưng tốc độ của ngựa chiến quân Minh quá nhanh nên hiệu quả không hề rõ rệt. Luận tài cưỡi ngựa, bắn cung thì quân Mông Cổ là số một thế giới, còn ở ta thì ngón ấy chẳng mấy nổi bật.

Trận thế voi chiến bị Mộc Thạnh xé nhỏ, áp lực lên quân Minh giảm mạnh.

Nguyễn Tông Đỗ thấy tình huống như vậy thì lại đâm ra bực mình, luôn miệng hò hét cho quân chỉnh đốn lại hàng ngũ. Vô hình trung lại khiến toàn thể ba quân co cụm vào thành một khối. Bộ binh Đại Ngu thấy lợi thế đột nhiên không còn, đều tức giận chửi thề mắng quân Minh hèn nhát.

Đoàng! Đoàng!

Tiếng đạn bay rền vang như sấm, hàng trăm khẩu hoả mai được quân Minh đồng loạt cho nổ súng. Tiếng la hét của đoàn người, thanh âm ngựa hí liên hồi và voi rống từng trận chẳng thể át được tiếng nổ. Nghe được âm thanh ấy giữa một trường hoà âm của người ngựa voi, Mộc Thạnh vội vàng cho kị binh lui ra xa, biết rằng ấy là tín hiệu đã sẵn sàng của Trương Phụ.

Lúc này quân Minh dưới trướng của Phụ đột nhiên xoay mình phản công. Mộc Thạnh hiểu ý, lập tức cho kị binh vòng ra hai cánh.

Vó ngựa nện côm cốp lên mặt đất, dây cung bật tanh tách vào không trung. Bay về phía đám voi hàng ngàn cục vải vụn, một đầu được lèn chặt thành hình thuôn thuôn như mõm chuột, đầu còn lại có chiếc đuôi dài. Trong đêm khuyu mây đen che phủ vầng trăng, dưới ánh đuốc mờ mờ, cơn ác mộng đáng sợ nhất của một con voi như được hiện thực hoá ngay tại bờ nam sông Thao. Hàng chục vạn con quái thú nho nhỏ đen ngòm tung mình khỏi mặt đất, bay vào mặt chúng với cái đuôi cháy sáng. Thân hình mềm mềm âm ấm đụng lên da voi nhẹ hều, không hề có lực sát thương nhưng bọn voi chiến đều rú lên trong sự sợ hãi thuần khiết nhất. Những con dẫn đầu đứng lên bằng hai chân sau, hai chi trước to bè chới với hoảng hốt. Quản tượng mất thăng bằng ngã xuống khỏi chiếc bành gỗ, lồm cồm nén đau bò dậy.

Póc! Póc! Thuốc nổ trong bụng bén lửa khiến đám chuột nổ pong póc như như pháo tết. Đám voi thấy vậy vội vỗ mạnh đôi tai quạt thóc để những “ sinh vật lạ ” kia không thể bò vào lỗ tai chúng mà phát nổ,

“ Lũ ngu! Một lũ đầu đất!!! Giục voi chạy nhanh lên, bắn tên đi!! ”

Nguyễn Tông Đỗ đứng hẳn cả lên yên ngựa, một tay phất soái kì một tay khua gươm loạn lên. Mồm y thét be be, nhưng lúc này trận thế đã loạn, voi rú điên cuồng thì còn ai nghe thấy y nói cái gì nữa. Trên mặt quân Ngu nhuốm đầy vẻ kinh hãi, hoảng loạn. Nhạc quân còn quên cả nổi trống hiệu lệnh, cờ hiệu thì bị vứt sang một phía.

“ Bẩm… nguyên soái. Ta hết tên rồi. ”

“ Ngu!! Thuyền cỏ mượn tên! Đúng rồi! Mau dùng kế thuyền cỏ mượn tên. ”Nguyễn Tông Đỗ hét toáng cả lên, nhưng binh sĩ xung quanh y toàn những người ít học, bụng chẳng có mấy chữ thì làm sao biết thuyền cỏ mượn tên là có ý gì? Đừng nói họ không hiểu, cho dù có hiểu, thì trong tình huống hiện tại áp dụng kế ấy vào bằng cách nào??

Nguyễn Tông Đỗ nói một câu, thì một vòng mưa tên lao tới, tiếng thân tên xé gió vun vút nghe thật ghê tai. Dưới những ngọn đuốc mờ mờ, ánh thép nơi đầu mũi tên loé lên chi chít thay thế những vì sao đang vắng mặt trên nền trời đen kịt những áng mây. Một cảnh đẹp thật hoành tráng, nhưng đó cũng là cảnh cuối cùng mà lũ voi thấy được. Sự hoảng sợ trước lũ chuột nổ khiến chúng mở to đôi mắt theo bản năng, điều đó khiến cặp mí mắt dày không thể bảo vệ hai con mắt yếu ớt.

Tiếng thép đâm vào thịt vang lên gai người. Phập! Phập! Phập! Không cách nào đếm hết số âm tiết xuất hiện trong bản hoà tấu chết chóc ấy. Vì đau, lũ voi đi đầu chồm cả dậy, loạng choạng trên hai chân rồi rồi ngã ngửa. Tấm lưng bè bè đè nát những người quản tượng xấu số, trong khi lũ voi cũng trả giá ngay lập tức bằng tính mạng của chúng. Cặp ngà sắc bén của đồng loại phía sau chính là đôi thương dài đòi mạng chúng.

Voi chiến xung phong, người chặn người ngã, ngựa cản ngựa đổ. Nhưng nếu thứ ngăn bước tiến của chúng lại là xác của những con voi khác thì sao??

Con sau ùn lên con trước, cả đoàn voi chiến bị tắc nghẽn, trận thế đại loạn. Mộc Thạnh không hổ là tướng giỏi. Y cho quân giương cung lên cao rồi bắn xuống. Cưỡi trên đầu voi chính là quản tượng và binh lính. Bọn họ trúng tên rồi, lấy ai ra điều khiển voi??? Nháy mắt, đã có hơn chục quản tượng ngã khỏi mình voi bỏ mạng.

Quân voi chẳng ai điều khiển, theo bản năng sợ hãi loài quái thú không tên bắt đầu xoay mình muốn chạy. Ngặt nỗi bộ binh và kị binh nhà Hồ bám sát đằng sau. Thế là chúng chẳng ngại ngần gì, cứ nhè quân Đại Ngu mà dẫm mà đạp, miễn sao chạy thoát khỏi nơi này là được. Vạn vật đều có bản năng cầu sinh, đều muốn sống. Loài voi dù uy nghiêm, có sức mạnh vô biên đi nữa, cũng như vậy.

Tượng binh làm phản khiến quân nhà Hồ vỡ trận. Không muốn bị voi đè nát, quân Ngu chẳng còn cách nào khác ngoài rẽ sang hai hướng mà chạy. Nào ngờ, Trương Phụ đã liệu sẵn điều này.

Lúc này Trương Phụ lại cho quân dàn trận chữ tam ( ba hàng ngang đối xứng). Hàng trước nhất nằm, hàng sau quỳ một gối, hàng cuối đứng thẳng. Mấy trăm khẩu hoả mai nhất loạt nhắm về phía quân Đại Ngu đang tuồn ra từ hai bên dàn voi chiến. Quân tướng nhà Hồ vừa mất đi sự che chắn của bầy voi, nay đứng giữa chốn đồng không mông quạnh chẳng khác nào một hàng bia tập bắn của quân Minh.

Đoàng! Đoàng! Đoàng!

Tiếng nổ loé lên kèm theo ánh lửa, mùi khói mờ hoà lẫn trong mùi tanh nồng nồng của máu. Đội súng hoả mai chia làm ba hàng, hàng trước bắn xong một vòng thì hàng sau lập tức xả đạn yểm hộ. Ba đội luân phiên nhau vừa khai hoả vừa thay đạn thay thuốc, liên tiếp cho đến khi hết đồ hỏng súng mới thôi. Hai cánh tả hữu thì châm bắn tên cháy dội thẳng xuống không cho quân Ngu ổn định thế trận. Tiết trời đang độ thu, cây cối thay lá, hoa cỏ hanh khô. Lúc này bị lửa bén vào, nháy mắt đã làm bừng sáng cả mặt đông nam thành Đa Bang.

“ Các huynh đệ, theo ta!!!!! ”

Lúc này sĩ khí của quân Hồ đã loạn theo trận thế. Kẻ có gan thì tách khỏi bầy voi múa đao lao tới rồi chết dưới làn đạn, kẻ nhát chết thì bỏ giáp trụ khí giới trốn về thành Đa Bang. Mộc Thạnh thắng thế xua kị binh theo đuổi giết, chính y cũng vác siêu ( Siêu là loại đao có cán dài, dùng trên lưng ngựa. Thay vì đầu rồng ngậm lưỡi đao như long đao, siêu chỉ có miếng bảo hộ đơn giản) lao vào chiến trận. Quân Minh sĩ khí lên cao như mặt trời, tiến công dữ dội như thác đổ. Không chống đỡ nổi, quân Đại Ngu chết không biết bao nhiêu mà kể.

Liễu Thăng cũng tham gia vào quân truy kích của Mộc Thạnh. Niên kỉ cậu mới mười bốn mười lăm, nhưng khi ngồi trên lưng ngựa đã có cái uy và dũng của bậc đại tướng. Sát ý bị kìm nén nãy giờ trong Liễu Thăng nổ tung như núi lửa phun. Thanh kim thương đầu hổ trong tay cậu vung cao phạt thấp, chém ngang quét dọc tưởng như không gì cản nổi. Quân Đại Ngu đổ rạp dưới mũi thương, ngã nhào xuống chân ngựa như rạ. Mới thoắt cái đã gần năm mươi người thiệt mạng. Men say chiến thắng mồi cháy lửa hận trong lòng, Liễu Thăng càng đánh càng hăng, múa thương càng lúc càng nhanh.

Nguyễn Tông Đỗ - đại tướng đã nảy ra “ kì kế ”: “ đục thành lùa voi ra chiến ” – biết đại thế đã mất. Bây giờ bị quân Minh bủa vây tứ phía, xung quanh y voi chiến trọng thương, quản tượng chết hết. Quân Đại Ngu đã không tái chiến nổi nữa. Nghĩ thế, y vội vã ra roi thúc ngựa toan chạy, nhưng lại bị Mộc Thạnh đuổi kịp. Bộ tướng Lương Dân Hiến liều mình bọc hậu.

“ Giặc Bắc chớ ngông cuồng, có Lương Dân Hiến ta đây!!! ”

Hiến vung vẩy thương dài, dẫn theo một cánh đao binh quay đầu đối kháng. Đối thủ của y chẳng ai khác chính là Mộc Thạnh. Y nghĩ: “ tướng giặc ngay trước mặt, chỉ cần giết được y quân địch chẳng đánh cũng bại. ”. Thế là dốc hết sức bình sinh, đâm mạnh một thương tới.

Thạnh thấy đối phương hùng hổ xông qua chỉ cười, vung siêu lên gạt phát đâm của Hiến. Cang một tiếng giòn tan, thương của Lương Dân Hiến bị Thạnh đẩy qua một bên. Y thấy đôi tay tê dại, hổ khẩu đau nhức như muốn rách toác. Vừa định thần lại, siêu của Thạnh đã hùng hổ chém qua, lưỡi bén chỉ còn cách cổ Hiến vài tấc mà thôi.

Con ngươi Hiến rụt cả lại, miệng khô đắng nghét và lông tóc ở gáy dựng hết cả lên. Y vội vàng cúi người ra trước, vừa né siêu của Mộc Thạnh lại vừa phản kích bằng một cú đâm hiểm ác. Mũi thương nhắm ngay vào mắt ngựa, nếu nó thọc trúng thì Thạnh tất nhiên phải bại.

Nào ngờ Thạnh chinh chiến nhiều năm, sớm đã lường được chước này. Y nhắm chuẩn ngay phần nối giữa mũi với cán thương, vung siêu chặt mạnh một nhát. Ấy là chỗ yếu nhất của thân thương, nay bị Thạnh chém trúng, mũi thương lập tức rơi xuống đất. Chỉ có thanh gỗ còn đâm về phía con ngựa, Thạnh lại ghìm cương cho ngựa hất đầu sang trái, né ngay được cú đâm mù mắt.

Hiến cho ngựa chạy nhanh, lại luồn xuống nhặt lấy mũi thương giắt vào thắt lưng. Ngay lúc ấy lại đụng phải một binh lính Tàu. Gã bộ tốt kia la lên, xốc vũ khí đâm tới, chắc mẩm mình may mắn hốt được mạng tướng nhà Hồ.

Ngờ đâu phú quý chưa thấy, nguy hiểm đã ập đến. Hiến rút ngay mũi thương ra, dùng thủ pháp phóng ám khí ném về phía tên bộ tốt. Gã nọ công phu kém cỏi, lại không nghĩ trên chiến trường còn có người giở chước này ra nên chẳng né được. Mũi thương Lương Dân Hiến ném găm ngay giữa yết hầu, y tuyệt khí bỏ mạng luôn. Hiến thúc ngựa chạy lại gần, tiện tay nhặt cây qua dài tên lính ấy cầm lên. Y vung vẩy mấy cái để lấy cảm giác vừa tay, rồi ghìm ngựa không chạy nửa mà quay đầu đánh giáp mặt với Thạnh.

Mộc Thạnh thấy y mất binh khí mà chẳng hề nao núng, trong phút nguy hiểm lập tức phản ứng lại kịp thì không khỏi ngợi khen một tiếng:

" Giỏi!! ”

Y nảy lên lòng ái tài, nhưng lại nghĩ đối phương sẵn sàng ở lại bọc hậu thì chắc sẽ không đầu hàng nhà Minh. Song Thạnh vẫn không nhịn được lên tiếng chiêu dụ, hứa sẽ cho Hiến nhiều vàng ngọc châu báu. Dù Hiến chỉ biết mấy câu tiếng Tàu, nhưng cũng nghe hiểu được đại khái. Tất nhiên hảo ý của Thạnh chỉ đổi lại được một bãi nước miếng nhổ toẹt xuống đất. Thạnh cũng không lấy làm giận, biết rõ ai phù chủ nấy, lòng trung của đối phương đã dành cho nhà Hồ rồi. Đối phương cứng cỏi như vậy mới đáng mặt nam nhi, nhược bằng vừa rồi Hiến xin hàng, có lẽ Thạnh sẽ vì thất vọng mà giết y luôn.

Có nói tiếp cũng thừa, nên cả hai xáp lại chiến tiếp một hồi nữa. Tiếc là Hiến mới hiểu được đại khái cách dùng qua, trong khi Mộc Thạnh là một tay hảo thủ đánh siêu đã có nhiều năm kinh nghiệm. Mới chiến ba mươi hiệp, Hiến đã lộ sơ hở nên bị Thạnh chém một siêu đứt lìa cả hai bàn tay. Ngã ngựa, nhưng Hiến đã nén đau lại, dùng bàn chân hất thanh qua lên không rồi đạp mạnh một cái. Thanh qua sắt lao đi như một mũi tên, lưỡi thép cứa ngay hông Thạnh. Cùng lúc ấy, một siêu của Mộc Thạnh đã bổ xuống đầu Hiến.

Lương Dân Hiến tử chiến dưới siêu của Mộc Thạnh. Tuy vậy, y cũng khiến Thạnh bị thương ở eo ngã ngựa, quân Minh phải dìu về doanh trướng.

Nguyễn Tông Đỗ nhờ thế thoát được vó ngựa quân Minh, vội vàng bỏ chạy vào thành. Nơi cửa thành Đỗ đã sắp sẵn một toán ca kỹ, cờ dong trống mở chờ đại quân thắng lợi trở về. Nay đám người ấy thấy chủ soái chạy về cùng một toán quân lác đác chẳng mấy mống, biết y đã thua. Thế là không ai bảo ai, cả đám bèn vứt hết nhạc cụ cờ hoa mà chạy, chỉ nháy mắt đã chẳng thấy bóng dáng tăm hơi đâu nữa.

*) Một chút chú thích về lịch sử: theo Minh Thực lục, ở trận này quân Minh đeo mặt nạ sư tử cho ngựa, voi sợ sư tử không dám tiến lên. Quân Minh lại dùng tên cháy bắn, khiến voi chiến sợ chạy thụt lùi, quân Đại Ngu đại bại. Tác giả nghĩ tình tiết này quá vô lí, nên sửa đổi một chút. Ngoài ra thời nhà Minh đã có súng hoả mai, nên mình cho vào để thêm phần đặc sắc.

*) Một chút thông tin về siêu: http://www.binhdinh-salongcuong.org/VN_KHAO%20LUAN_Binh-Khi%20Co-Truyen_Sieu-Dao-Phap.html

*) Qua: binh khí dài, lưỡi bẻ một góc 100 độ so với thân. Tìm dagger axe sẽ thấy hình ảnh của loại võ khí cổ này

*) sông Thao: dòng chính của sông Hồng

Chương 4: Hồi hai (2)

Lại kể tới chỗ Tông Đỗ nhờ được bộ tướng là Dân Hiến liều mạng cản bước quân Minh mà chạy được về thành Đa Bang. Y thúc ngựa phi ngay về tướng phủ của mình, oang oang cái miệng ra lệnh cho hạ nhân.

" Mau rót nước, đem hết vàng bạc châu báu lụa là gấm vóc ra đây, càng nhiều càng tốt. ”

Hạ nhân y lệnh mà làm, một đứa tì nữ bưng chén nước nóng lên.

" Lão… lão gia… nước chè đây ạ. ”

Tông Đỗ đánh trận đã lâu, cổ khô họng bỏng bèn vơ lấy chén nốc cả. Nước trà mới pha xong hãy còn ấm, y lại uống vội, tí nữa thì phun cả ra ngoài. Sẵn cơn lộn ruột vì thua trận, y quát to:

" Á à, con khốn nhà mày dám láo với ông hả?? Láo này!!! Ông cho mày láo này!! ”

Tên tướng dồn hết tức giận lên chén sứ trong tay, táng một phát vào đầu cô bé. Thiếu nữ đáng thương ấy chẳng kịp kêu một tiếng, chỉ nghe choang một tiếng, cô đã vật ra đất. Trán cô nứt toác, máu chảy be bét, cô tì nữ chết bởi sự bạo ngược của Đỗ.

Vơ vét tài sản trong phủ tướng xong xuôi, Đỗ vội vàng nhảy lên ngựa, cứ để mặc xác cô tì nữ ở lại. Đoạn y cho người mở rộng cửa tây, bỏ thành chạy trốn trong đêm về phía Hoàng Giang. Dân tình nghe tiếng vó ngựa rền vang bèn tỉnh giấc. Ra xem thì thấy tường thành đông, nam thủng lỗ chỗ. Chỉ cần quân Minh kéo đến, không cần mở cửa thành cũng vào được. Quân Hồ đóng trú trong thành thì đã biệt vô tăm tích. Người dân ngơ ngác nhìn nhau, hoang mang không biết làm gì.

Lại kể chuyện Liễu Thăng tung hoành giữa chiến trường không ai địch nổi, chỉ thoáng chốc đã giết thẳng đến tường thành. Bộ tướng thứ hai của Nguyễn Tông Đỗ ở Đa Bang là Thái Bá Nhạc giục ngựa ra cản. Liễu Tử Tiêm vừa rồi dùng bộ Nhạc gia thương pháp của danh tướng Nhạc Phi đánh đâu thắng đó không có đối thủ. Vừa thấy Thái Bá Nhạc, nhìn thủ pháp đã biết y là cũng là danh gia dùng thương, nhất thời nổi lòng háo thắng. Cậu bèn vung roi ngựa, múa thương đón đầu.

Keng!!!!!

Thương dài của hai người đụng nhau, toé cả lửa. Ánh thép trong đêm rọi sáng khuôn mặt hai vị tướng đang quần thảo lẫn nhau. Thái Bá Nhạc thấy đối phương còn rất trẻ, không khỏi khinh thị. Nào ngờ Liễu Thăng đột nhiên giở quái chiêu. Cậu nằm sát xuống thân ngựa, người trượt nghiêng sang bên tựa như sắp ngã. Ngọn thương trong tay rung lên, quét thẳng vào hai chân trước con ngựa của Nhạc. Điều đó khiến Thái Bá Nhạc giật nảy cả mình, may mà nhanh tay ghìm cương, khiến chiến mã trồm lên kịp thời. Nếu không, để cho Liễu Thăng dùng thương phạt đứt hai chân ngựa, thì y chết chắc.

Liễu Thăng thắng thế một chiêu, cười lớn:

" Tướng An Nam hoá ra cũng chỉ có thế, nội trong bốn chiêu nữa ắt lấy được mạng nhà ngươi. ”
Biết người thiếu niên này chẳng phải hạng xoàng, Nhạc vội vàng thay đổi thái độ, nghiêm cẩn đối địch. Y chẳng thèm nói một lời, cứ lầm lì như cục đất dốc hết những ngón tủ, độc chiêu của mình ra mà đánh. Ba chiêu qua đi, hai người ngang tay. Đến chiêu thứ tư, Liễu Thăng rơi xuống hạ phong.

Hai người múa thương giục ngựa chạy thành vòng tròn, giao chiến càng lúc càng thêm ác liệt. Đánh tiếp hơn năm mươi hiệp, Liễu Thăng dần dần thất thế. Cậu ta còn là thiếu niên, trong khi đối thủ đã là đàn ông trưởng thành. Về mặt sức lực Bá Nhạc chiếm ưu thế rất lớn. Kinh nghiệm chiến trận của Liễu Thăng lại càng không bằng Nhạc. Lúc gã dùng đến các đường biến hoá thương thuật hiểm ác cậu đã phải chật vật lắm mới hoá giải nổi. Trong đó, một lần Liễu Thăng còn suýt chết dưới ngón Hồi Mã Thương bất ngờ của Nhạc.

Đánh thêm hai mươi hiệp, Liễu Thăng đã thấy kim thương nặng trìu trĩu như bị đổ chì. Cơ bắp nóng bừng lên như có lửa, họng bỏng rát, còn người thì cứ ướt nhẹp vì mồ hôi. Động tác cậu thoáng chậm lại để hô hấp lấy sức. Nhạc chớp được thời cơ ấy bèn đâm liên tiếp hai phát, quả nhiên Liễu Thăng nâng thương đỡ không kịp chỉ đành ngả người ra sau hết cỡ, lưng chạm sát lưng ngựa để né. Nhưng cậu nào biết đó chỉ là hư chiêu của Thái Bá Nhạc. Thấy đâm không trúng nhát thứ nhất, lúc ngọn thương lao ra lần thứ hai Nhạc đã xiết chặt tay quanh thân thương, sau đó đổi từ đâm thành đập. Thân thương bằng sắt giáng vào ngực một phát nặng như sét đánh, khiến Liễu Thăng hộc cả máu mồm. Biết là đánh tiếp thì chỉ có đường chết, thiếu niên vội vàng thúc ngựa bỏ trốn, tráng chí bị đả kích một phen không nhẹ. Nhớ lại lời lẽ ngông cuồng khi trước, Tử Tiêm thẹn đến nỗi chỉ ước sao có bìa đậu phụ rơi từ trên trời xuống nện chết cậu đi cho rồi.

Thái Bá Nhạc đang định thu quân cố thủ, chợt nghe thuộc hạ báo lại đại tướng Nguyễn Tông Đỗ đã bỏ thành tháo chạy, tức thì như bị dội cho một gáo nước lạnh. Y lòng nguội như tro, chợt nghĩ đến thảm cảnh sau khi thành bị phá, lửa giận lại nổi lên nữa.

Nhạc đã có ý liều mạng, vội vàng đổi một con ngựa khoẻ truy đuổi Liễu Thăng, thề rằng có chết cũng phải kéo theo một tướng của đối phương.

Liễu Thăng hăng máu tiến quá gần chân thành Đa Bang. Hơn nữa trước đó còn giục ngựa chạy gấp suốt nửa canh giờ đuổi đánh bại binh nhà Ngu. Thắng thì cũng thôi, nay vừa thua trận làm sĩ khí mất hết, sức lực cuồn cuộn khi nãy như tiêu tan hẳn. Cậu cảm thấy mỏi mệt chỉ muốn ngủ, nhưng cuối cùng vẫn cố cắn môi cho bật máu. Cơn đau khiến Liễu Thăng thoáng tỉnh táo lại.

Tiếng vó ngựa hoà lẫn trong tiếng gầm của Thái Bá Nhạc truyền tới từ sau lưng, Liễu Thăng biết truy binh đã đuổi tối, lúc này mà ngủ thì chỉ có chết. Hai gót thúc liên tục vào bên sườn chiến mã, hai tay đánh cương không ngừng giục nó chạy nước đại. Thế nhưng người biết mệt, lẽ nào ngựa thì không? Chiến mã rong ruổi chở Liễu Thăng vừa chạy vừa đánh suốt gần một tiếng không nghỉ, đã bắt đầu thấm mệt nên tốc độ giảm xuống. Thái Bá Nhạc mới đổi ngựa khoẻ, chiến mã của Liễu Thăng lại không thuộc địa hình quanh thành nên chẳng mấy chốc đã bị bắt kịp.

Vút!Liễu Thăng nghe tiếng gió, đoán biết là bị đánh lén. Cậu nghiêng người trên yên ngựa né hiểm được một thương thọc từ sau lưng. Mồ hôi lạnh toát ra đầy lưng, biết vừa rồi chỉ chậm một tích tắc là gáy đã bị mũi thương xuyên thủng. Sợ hãi tạo nên động lực, bản năng muốn sống khiến Liễu Thăng chẳng kịp nghĩ nhiều, tiếp tục vung cương thật gấp. Nhưng trời tối mờ làm chiến mã của cậu lọt chân đúng vào hố đất. Chỉ nghe cộp một tiếng giòn tan, chân ngựa đã gãy đoạn. Con chiến mã ngã khuỵu ra trước, đẩy Liễu Thăng văng khỏi lưng nó ngã mạnh về phía xa.

Lăn một vòng trên cỏ, lực của cú ngã đã bị Liễu Thăng hoá giải một phần nhưng đá nhọn dưới đất vẫn cứa rách mặt, má và hai tay câu. Máu pha lẫn với bùn lạo xạo trong miệng, cậu đau đến mức muốn khóc to lên. Nhưng Liễu Thăng không muốn thành một oan hồn dưới thương của người khác, nên chỉ còn cách cắn răng gượng dậy chạy trốn. Cậu cũng hiểu mình chạy không thoát vó ngựa của Bá Nhạc, nên chỉ cầu quân tiếp viện có thể tìm đến đúng lúc.

Không có ai. Đồng cỏ phía trước thì ngày càng rậm rạp. Dưới con trăng đang lên cao dần, thiếu niên xé đồng mà chạy, cảm giác ánh trăng nhàn nhạt như đang giễu cợt mình. Cỏ khô cao lút mặt, gai cỏ chọc vào vết thương khắp người làm cậu khó chịu khôn cùng. Bóng đêm bao trùm khiến cậu hơi có chút thần hồn nát thần tình, nhìn thấy cái cây ụ mối ven đường cũng liên tưởng đến quân giặc. Tử Tiêm cứ dốc hết sức mà chạy, không khí như bị rút cạn khỏi hai lá phổi. Chạy thêm chẳng được mấy chốc, Liễu Thăng cũng chịu chung số phận với chiến mã. Cậu vấp phải một hòn đá và ngã ra, xoay mấy vòng trên thảm cỏ. Nằm thở hồng hộc, trước mắt hiện lên ánh thép, Liễu Thăng quay vội đầu đi và nhắm mắt, đón chờ mũi thương xuyên qua cuống họng mình.

Máu nóng bắn lên đầy mặt cậu.

Một tiếng nổ rền vang, theo sau là tiếng hét thảm khốc vang lên ngay cạnh. Phịch… cuối cùng, âm thanh vật nặng rơi xuống mặt cỏ kéo tấm màn im lặng lên cả không gian. Liễu Thăng sờ lên trán, rồi cổ, thấy yết hầu không có đau. Mó tay xuống ngực bụng cũng không tìm thấy miệng vết thương, cậu nghĩ thầm: [ Hay là đối phương nảy dạ từ bi tha cho mình? ]

Liễu Thăng từ từ mở mắt, phát hiện nằm ngay bên cạnh là thi thể của tướng truy sát mình – Thái Bá Nhạc. Máu tươi rỉ ra từ bên dưới cơ thể y, đọng thành một vũng. Ở giáp lưng có một lỗ thủng cỡ ngón trỏ. Xa xa, con chiến mã của Nhạc đang phi nước kiệu, bỏ chạy vì sợ tiếng hoả mai thình lình vang lên.

Phía sau cậu chừng mấy chục thước, Tạng Cẩu ngồi phịch xuống, khẩu hoả mai rơi khỏi tay. Thằng nhóc mở to đôi mắt, kinh hoảng nhìn xuống đôi tay mình rồi lại nhìn Thái Bá Nhạc. Nói đoạn, nó khóc rống lên.

Tạng Cẩu thấy hai bên đánh nhau chí tử, người chết như rạ thì sợ lắm. Sẵn tiện trong góc lều của Liễu Thăng cũng có một khẩu hoả mai, thế là cậu ta vơ luôn để phòng thân. Sau đó, Tạng Cẩu còn nhìn quân của Trương Phụ bắn súng, cũng học theo cho thuốc súng với đạn vào nòng. Quân Minh dần thắng thế, cậu mới ra khỏi chỗ nấp, vòng qua hai dãy lều trại, đang định bám theo đại quân. Lúc này, Tạng Cẩu mới nghĩ: [ Ngốc, hai bên đánh nhau chí choé còn để ý gì tới mày? Không chạy còn đợi khi nào? ]

Cậu không biết Mộc Thạnh Trương Phụ vẫn còn nghi ngờ cậu là gian tế, đã đặc biệt phái một binh sĩ để ý cậu gắt gao. Tạng Cẩu bèn đổi hướng, nhằm thẳng về phía ngược lại với đại quân mà đi. Cậu thấy như có người thúc thúc mãi vào lưng. Cảm giác khá giống một luồng gió nhẹ nhưng lại có gì đó hơi khang khác. Còn chính xác là khác ở chỗ nào thì cậu chẳng rõ. Tạng Cẩu không biết rằng nó đang đi theo sự chỉ dẫn của " luồng gió ” ấy trong vô thức. Đúng lúc gặp ngay Liễu Thăng bị tướng địch đuổi tới. Tạng Cẩu nhìn xa xa, nhận ra kim thương ngân giáp của Tử Tiêm. Lại thấy người cứu mạng mình sắp chết dưới thương của người lạ, sợ đến độ luống cuống cả chân tay, vậy mà lại gạt chúng cần đánh lửa của khẩu súng.

Phải nói Tạng Cẩu rất may, vác theo khẩu hoả mai đã nạp đạn mà không táy máy nổ súng. Thấy có ánh lửa, Tạng Cẩu giật mình đánh rơi khẩu súng. Cần đánh lửa mồi cháy thuốc súng từ trước, trùng hợp thế nào lúc rơi họng súng lại ngẩng lên, chĩa ngay vào Thái Bá Nhạc. Một viên đạn sắt hình tròn phụt ra khỏi họng khẩu hoả mai và lao về phía Nhạc. Ngực y bị bắn thủng, thương rời tay. Bộ giáp trụ đang mặc cũng bị viên đạn phá hỏng, mảnh giáp mảnh đạn thi nhau cắm ngược vào tim khiến y chỉ ú ớ được mấy tiếng rồi chết mà không kịp nhặt thương đâm Liễu Thăng nhát cuối cùng.

Dạo một vòng quỷ môn quan, Liễu Thăng đến giờ vẫn không kịp hoàn hồn. Còn Tạng Cẩu vừa sát nhân lần đầu, sợ đến nỗi khóc không mở được mắt.

Tông Đỗ thì chạy, hai hãn tướng là Bá Nhạc và Dân Hiến thi nhau tử trận, quân Đại Ngu đã thành một đống rắn mất đầu. Chẳng kiên trì nổi bao lâu, quân Minh đã dày xéo sự phản kháng yếu ớt ấy. Trương Phụ cưỡi ngựa vác đao dẫn đầu, xua quân mượn những lỗ voi trên tường ùa thẳng vào thành. Người dân trong thành lúc này mới phản ứng lại, nhao nhao bỏ trốn tứ tán, nhưng than ôi sức người sao chạy kịp vó ngựa?? Thảm cảnh của thôn Điếu Ngư lại tái hiện, tiếng khóc than vang cả vòm trời. Chỉ tiếc là Tạng Cẩu đang nằm khóc ở một nơi khá xa thành nên chẳng nhìn thấy được.

Chương 5: Hồi ba(1)

Giang chi điếu văn vong chi chứng

Nước thay rượu đục cỏ làm nhang

Quân Minh đại thắng trận Đa Bang, lục tục tiến quân vào thành.

Vì mượn danh phù Trần diệt Hồ, nên Mộc Thạnh và Trương Phụ không để quân truy lùng người dân đã chạy trốn được. Cảnh giết người, phóng hoả dù vẫn nhan nhản nhưng ít nhất đã được hạn chế một chút. Tuy nhiên không ngăn nổi quân sĩ cướp bóc tài sản, cưỡng bức thiếu nữ nhà lành. Trong thành Đa Bang… khắp nơi là tiếng khóc của người dân.

Tạng Cẩu vẫn còn ám ảnh vụ ngộ sát Thái Bá Nhạc, suốt ngày ru rú trong lều không ra gặp ai. Nó hận quân Ngu thật đấy, nhưng nó đâu phải một kẻ máu lạnh mà giết người không gớm tay được. Trương Phụ, Mộc Thạnh muốn khen thưởng công Tạng Cẩu hạ sát tướng địch cũng không gặp được nó, đành phải ghi lại công lao để tâu lên vua nhà Minh lúc ấy là Thành Tổ Chu Đệ.

Liễu Tử Tiêm nghỉ ngơi một đêm, mấy vết thương ngoài da đã cầm máu. Nhớ lại ngày hôm qua Tạng Cẩu cứu sống mình, cực kì cảm động. Mới sáng sớm, Liễu Thăng đã lôi Tạng Cẩu dậy, ngỏ ý muốn kết bái làm anh em. Dù còn nhỏ, lại là cô nhi, nhưng chí ít Tạng Cẩu cũng biết cái gọi là ân đền oán trả. Vì thế, nghe Liễu Thăng đề nghị cậu cũng không tiện phản đối, bởi xét cho cùng thì hai bên đều đã cứu nhau một mạng. Tạng Cẩu lại nghĩ: [ mình cô khổ cả đời, nay có một người anh thì thật tốt lắm. Ít nhất không cần phải lẻ loi như trước. ]

Xa xa, dòng nước dữ sông Thao gầm rú liên hồi. Trong thành Đa Bang khói đen bốc cao, trên mặt tường còn nhìn thấy những chỗ hổng lớn.

Liễu Thăng quỳ bên Tạng Cẩu, lư hương rỉ sét đặt trên mặt đất. Ba nhánh cỏ được cắm trong đó thay hương trầm, mấy cái chén con đựng nước trắng dùng như rượu ăn thề… Hai đứa giơ ba ngón tay chỉ trời phát thệ, lấy dao cắt máu nhỏ vào li rồi dập đầu ba cái.

“ Trời đất, anh linh tướng sĩ hai bên làm chứng. Hôm nay Tạng Cẩu, Liễu Thăng kết làm huynh đệ. Nguyện có phúc cùng hưởng có hoạ cùng chịu. Tuy không sinh cùng năm cùng tháng cùng ngày nhưng nguyện chết cùng ngày cùng tháng cùng năm. Nếu trái lời thề, cam nguyện bị thiên lôi đánh chết. ”

Liễu Thăng nói tiếng Việt không sõi, nên xướng bằng tiếng Tàu. Tạng Cẩu dù nghe câu hiểu câu không nhưng trí nhớ rất tốt, có thể đọc theo trôi chảy ngay lần đầu tiên.

Nó lại âm thầm khấn trong lòng:

[ Cái người bất hạnh chết dưới tay ta ơi, ngài sống khôn chết thiêng đừng biến thành ma đến bắt ta. Dù ta hận quân Ngu tàn ác nhưng ngài với ta không thù không oán, khi ấy ta thực sự không cố ý hại ngài đâu. Ở đây không có rượu, ta kính ngài chén nước sông, ngài uống rồi đầu thai lại làm kiếp người. ]

Tạng Cẩu tự xưng là “ ta ” vì nó rất hận quân Ngu, không muốn tự hạ thấp mình trước kẻ đã giết hết người thân của nó hay tất cả những ai liên quan.

Hai đứa dốc cạn hai chén, lại rót nước trong chén còn lại xuống sông để tế điện trời đất vong linh.

Liễu Thăng hơn Tạng Cẩu sáu tuổi, nhưng để giải thích chuyện nó không biết nói tiếng Hoa, Tạng Cẩu nói mình chỉ mới năm tuổi đầu. Vóc người nước Nam vốn nhỏ bé hơn dân phương bắc, Tạng Cẩu lại là trẻ lang thang đói ăn từ nhỏ nên càng còi cọc. Bởi thế nó nói là Liễu Thăng tin ngay. Hai người kết nghĩa, Liễu Thăng làm anh. Cậu muốn Tạng Cẩu lấy họ Liễu như mình, còn nhờ Trương Phụ Mộc Thạnh đặt cho cậu em trai mới kết nghĩa của mình một cái tên mới. Tạng Cẩu ra sức từ chối, nhưng Liễu Thăng ép dữ quá bèn chỉ xin theo họ Liễu.

Trương Phụ Mộc Thạnh gặp Tạng Cẩu, bèn ngợi khen cậu bằng những mĩ từ như hào kiệt không đợi lớn, anh hùng xuất thiếu niên…v.v… Liễu Thăng dịch lại đại ý cho Tạng Cẩu, cậu bé lúc này mới biết người bị mình ngộ sát hình như là nhân vật lớn.

Quân Minh đuổi theo quân Hồ về phía Hoàng Giang. Trên đường, Liễu Thăng bẻ cành cây làm kiếm, dạy cho Tạng Cẩu mười sáu chiêu Tuyết Trai kiếm pháp để phòng thân. Chiều tối thì dùng than thay phấn, chỉ Tạng Cẩu học tiếng Tàu.

Cậu nhóc ăn mày đầu óc sáng láng, học rất nhanh nên chẳng mất bao lâu đã thuộc nằm lòng động tác kiếm thuật, nhưng vì tiếng Hoa mới bõm bẽm nói được nghe được nên còn chưa thể nắm vững được các biến hoá của đường kiếm.

Nó cũng vẫn không quên câu chuyện của mình nên phải giả vờ ngốc. Liễu Thăng dạy đi dạy lại một mẫu Hán tự mấy lần, Tạng Cẩu đều ra vẻ chưa hiểu, hoặc lúc Thăng hỏi lại thì nó cố tình đáp sai. Riết rồi Liễu Tử Tiêm cũng đâm chán, quyết định để Tạng Cẩu tự học, lúc nào thông thì đến tìm cậu sẽ dạy cho cái mới.

Tạng Cẩu học nửa ngày là xong Tuyết Trai Kiếm Pháp, lại tranh thủ học quyền cước của binh sĩ. Môn võ lính lác nhà Minh dùng tên là Thái Tổ Trường Quyền, nghe đồn là do hoàng đế khai quốc nhà Tống là Triệu Khuông Dần sáng chế, cả thảy còn ba mươi sáu chiêu chưa thất truyền.

Khuông Dần hiếu võ, có một thanh thanh long đại đao khá nặng, song đã mất tích đến nay cũng không rõ đã lạc tới chốn nào. Nghe đồn trong quá khứ Thái Tổ Trường Quyền có nhiều hơn 36 chiêu, nhưng đã thất truyền mất. Bài quyền phổ thông tới nỗi, thời bấy giờ nông phu miền sơn dã cũng biết đánh vài chiêu, đi một đường. Sĩ tốt nhà Minh biết đánh cũng chẳng có gì là lạ.

Gặp Tạng Cẩu muốn học, đám người ấy dù có nhạo báng mấy câu nhưng vẫn nhiệt tình chỉ dạy. Ngờ đâu nó tiến bộ thần tốc, chỉ mấy canh giờ đã đánh được đủ ba mươi sáu chước Thái Tổ Trường Quyền, thậm chí cách Cẩu đi quyền nay còn lâm li ảo diệu hơn người dạy mấy lần nữa. Ấy cũng là do quyền pháp này chú trọng những đòn rộng, mạnh mẽ chứ không phải sự biến hoá ảo diệu. Nói ngắn gọn lại thì dù hàm chứa kình lực rất mạnh, nhưng quyền lộ thì quá mức đơn giản.

Cả đám binh lính trố mắt ngoạc mồm ra mà nhìn Tạng Cẩu càng đánh càng hăng, không khỏi hoài nghi liệu cậu có biết quyền pháp này từ trước, chỉ giả đò không hiểu gì hết để hí lộng họ mà thôi hay chăng. Nhưng đến khi Tạng Cẩu đánh ra chiêu thứ ba mươi bảy, ba mươi tám, ba mươi chín… thì cả đám ngoài vỗ tay tán thưởng ra không biết phải làm gì hơn.

Tạng Cẩu rơi vào một cảnh giới kì lạ, đi quyền hoàn toàn theo bản năng. Lúc này đường quyền của cậu khi thì nhanh như gió hiểm như băng giữa cơn bão tuyết, lúc lại chầm chậm như sương lạnh còn đọng nơi lá cỏ. Bộ pháp của cậu lại càng thêm kì dị.

Không còn đơn thuần chỉ có cái phóng khoáng, đại khai đại hợp của Thái Tổ Trường Quyền nữa mat được thêm sự nhẹ nhàng. Nhìn Tạng Cẩu, người ta chợt liên tưởng tới lớp tuyết đầu đông lất phất rơi dưới hiên nhà.

Trong đám lính có một gã người Sơn Đông, nhãn quan nhìn võ thuật cũng cao nhất bọn. Y trầm tư ngắm một lúc, rồi như bừng tỉnh đại ngộ:

" Quyền chiêu và bộ pháp của nó… ta thấy có hơi hám Tuyết Trai kiếm pháp. Tại sao lại như thế được?? ”

Cả đám nghe lời mới cố quan sát thật kỹ, cũng dần nhìn ra một chút manh mối trong ấy.

" Quả nhiên là thế. ”

" Nhóc này không phải mới luyện môn võ công này vài ngày trước ư??? ”

Trong thời gian này, quân Minh lại đánh một trận với thuỷ quân nhà Hồ. Hai phe mỗi bên chiếm một bờ sông, dùng thuyền chiến đánh lẫn nhau. Theo Minh Thực lục ghi lại, quân nhà Hồ có tới 500 chiến thuyền do chính đại tướng Hồ Nguyên Trừng – con trai Hồ Quý Li – cầm đầu.

Trương Phụ chia binh làm hai đường thuỷ, bộ. Bộ binh, chiến thuyền và một nửa quân kị đều do bản thân y thống lĩnh, giao chiến trực diện với quân nhà Ngu. Còn phân nửa chi kị binh của Mộc Thạnh thì vòng hẳn lên thượng nguồn, tìm đường xé rừng vượt sông.

Phụ đứng trên đầu tàu, nhìn đội thuyền chiến nhà Hồ hùng dũng tiến gần tới mà không hề nao núng. Y giương cao thanh đại đao của mình, phất lá cờ Đại Minh về phía quân tướng nhà Hồ:

" Sát!!!!!!!!!!! ”

Tiếng quát oai hùng, dõng dạc trung khí mười phần của Phụ truyền đi thật xa. Thùng! Thùng! Thùng!!! Tiếng trống trận bắt đầu nổi lên, hoà nhịp với đôi hàng mái chéo của những con thuyền. Cả mặt sông lúc ấy bị khuấy động bởi mấy ngàn chiếc chèo gỗ, sóng nước cứ lan mãi về bờ, ì oạp ì oạp rửa trôi lớp đất còn nhuốm máu khô.Đầu thuyền bên kia, Hồ Nguyên Trừng mặc chiến giáp xuất hiện. Gương mặt anh tuấn, với nét thanh tú của một quan văn và cái nhìn trí tuệ, sắc bén như gươm của bậc võ tướng. Chàng mặc chiến giáp nhẹ, lưng khoác áo bào trắng phau như tuyết. Ánh mắt Nguyên Trừng quét qua ba quân, đầy nghiêm nghị. Chàng khẽ đảo tay, phất mạnh áo bào một cái. Chẳng cần cờ xí để hiệu lệnh tam quân, cũng chẳng cần gióng trống khua chiêng nhằn bổ uy trợ thế, quân sĩ răm rắp như một dạ ran một tiếng.

“ Rõ!!!! ”

Dõng dạc, hào khí ngút trời mà lại đều tăm tắp, tinh binh của Hồ Nguyên Trừng chẳng ai bảo ai, nhất loạt nâng pháo bỏ đạn, lắp cung cài tên đợi sẵn.

“ Bắn!! ”

Hồ Nguyên Trừng chỉ giương soái kì của mình, hàng trăm khẩu pháo Thần Cơ đã nhất loạt bắn tới tấp vào thuyền của Phụ. Điểm mạnh của súng Thần Cơ do Nguyên Trừng chế tạo là tính nhẹ và cơ động. Thuở ấy công nghệ đóng thuyền không quá phát triển, vẫn chưa có sự xuất hiện của súng thần công cỡ lớn trên tàu chiến, còn súng cổ thời đầu Tống hoả lực lại quá yếu. Súng Thần Cơ đúc theo phương pháp mới đã gọn còn nhẹ, uy lực lại mạnh nên có thể tác chiến được trên thuyền, một chiếc nhỏ thì chở được một khẩu, lớn thì được từ bốn tới năm khẩu.

Súng Thần Cơ bắn sang, đội chiến thuyền quân Minh hoả lực yếu hơn lập tức ăn thiệt lớn. May thay Trương Phụ đã sớm lường trước được điều này, nên đã dùng bao rơm bọc phía trước thuyền làm vật cản. Nếu đạn sắt của súng Thần Cơ có bắn trúng mà không làm thủng đáy thuyền, thuyền sẽ không chìm.

Trương Phụ ra sức đốc thúc tam quân, lại dò hỏi một tham tướng là Lý Bân:

“ Không phải mi nói có thể phỏng chế hoả pháo của địch quân sao? Đâu? Giờ pháo đâu??? ”

Lý Bân bị Phụ xách cổ, nghẹn khí chỉ đành thở khò khè lấy hơi cho khỏi chết. Trương Phụ khinh thường hừ một cái, mới thả tay. Bân thoát nạn vội ôm cổ mình, ánh mắt nhìn Phụ như muốn sát nhân. Nhưng rồi y cũng cố gắng thu lại được sát tâm của mình, nói:

“ Chuyện này… còn một chút vấn đề. ”

“ Một chút cái đầu con bà nhà mi!!! Thằng hãm tài vô dụng!! Lần sao làm được hẵng lên tiếng! ”

Trương Phụ sút một cú, nhắm ngay giữa háng Lý Bân khiến y sụp hẳn xuống, tay ôm chặt chú chim non gãy cánh. Y nằm trên sàn tàu mà co, mà giật, mà kêu gào. Đến nỗi Trương Phụ nhìn gai cả mắt, nghe ngứa cả tai cho nhét luôn đống giẻ lau vào mồm.

“ Giờ chỉ còn dựa cả vào chi kì binh của Mộc Thạnh mà thôi. ”

Trên mặt sông, quân nhà Hồ áp đảo quân Minh. Nhưng một tướng lão luyện như Trương Phụ ắt còn có lưu hậu chước. Đang từ thượng nguồn đánh ập lại chính là chi kị binh của Mộc Thanh. Chỉ cần sang được bờ, muốn phá tan doanh trại đối phương chẳng phải dễ như bỡn sao?? Bên cạnh đó khi ấy quân Hồ gặp thế gọng kìm hai mặt cùng thụ địch, trận cước không loạn mới là lạ.

Mộc Thạnh y theo lời vác siêu cưỡi ngựa, đi đầu đoàn quân phi nước đại về phía hạ lưu. Trên đường, y vừa dùng siêu chặt cây phạt cỏ, vừa dặn:

“ An Nam thiện nhất là nghề đánh lén, các huynh đệ phải thật thận trọng khi hành động, chớ có rơi vào phục kích. ”

Dưới vòm trời này, từ cổ chí kim mấy ngàn năm ròng thử hỏi dân tộc nào có thể biến hai chữ “ du kích ” ấy thành một thứ nghệ thuật như người Việt??

Thì ra, trước khi dẫn quân sang nước Nam, Trương Mộc đã tập hợp hết sử liệu về các cuộc giao tranh trong quá khứ giữa hai nước, sau đó nghiên cứu cẩn thận. Hai người nhận ra, mặc dù đám sử gia người Tàu luôn cố gắng lấp liếm, song với kiến thức cùng kinh nghiệm chinh chiến sa trường của mình, hai người vẫn lọc được một vài nguyên nhân vì sao quân bắc lại thất bại.

Thời Nam Hán, trận Bạch Đằng. Thuỷ quân phương bắc bị lùa vào trận cọc, lại trúng phục kích, chết vô số. Hoằng Tháo tử trận.

Thời Bắc Tống, trận sông Như Nguyệt, Quách Quỳ Triệu Tiết trúng kế dương đông kích tây, trại của Triệu bị tập kích bất ngờ. Quân bắc thảm bại.Thời Nguyên - Mông…

Càng tìm hiểu, Thạnh và Phụ càng tin chắc dân Nam là một dân tộc khó nhằn, giỏi lấy yếu thắng mạnh dùng ít phá nhiều, chẳng những thạo nghề sông nước lặn sâu, còn giỏi việc dựng chông lập cạm. Hai người chẳng dám vì những chiến thắng vang dội giành được lúc trước mà buông lỏng cảnh giác. Họ e sợ khả năng quân Đại Ngu vẫn đang âm thầm chuẩn bị một đòn phản kích quyết định.

Mộc Thạnh và quân của y tiến lên với mười hai phần cẩn trọng. Thậm chí chỉ một tiếng gió thổi cỏ lay hơi khác thường thôi cũng khiến họ giật mình thon thót, không biết liệu sẽ có bao nhiêu binh nhà Hồ nhảy ra khỏi các tán cây rậm rạp. Thình lình một tiếng chim kêu, bất chợt một tràng vượn hót bật lên trong rừng vắng thực chất chẳng phải chuyện gì bất thường, nhưng với Mộc Thạnh và người của hắn thì chúng lại là cả một sự tra tấn về mặt tinh thần.

“ Kia!! Quân Hồ!! ”

Phập!!!

Mộc Thạnh vừa thấy loáng thoáng chóp nón đỏ tươi, lập tức giương cung cài tên, bắn một mũi tên về phương ấy. Nghề thiện xạ của y dù không bằng món đánh siêu, nhưng cũng là một cao thủ. Mũi tên lướt đi trong gió, xuyên thủng một chiếc lá bàng rồi găm trúng phóc vào mục tiêu cần bắn, không chệch lấy một li. Tài bắn cung cỡ ấy đã có thể xưng là thần hồ kỳ kỹ, bách bộ xuyên dương.

Kị binh nhào tới chỗ mũi tên, vốn định bắt sống hoặc thủ tiêu cái xác người lính Đại Ngu nọ, nào ngờ…

“ Bẩm tướng quân… là một con bù nhìn rơm! ”

“ Bù nhìn?? ”

Mộc Thạnh và cánh quân của mình hết nhìn người nọ lại ngó người kia. Tất nhiên, chẳng ai tìm được đáp án trong mắt đối phương. Kể cả Mộc Thạnh thân là đại tướng, cũng không hiểu tay Hồ Nguyên Trừng này muốn giở trò gì. Song trên chiến trường, một khắc cũng là vô giá. Mộc Thạnh biết rõ chiến thuyền của Trương Phụ không thể chống lại hoả lực của Pháo Thần Cơ trong thời gian dài, nên y chẳng dám nghĩ nhiều nữa, chỉ dặn quân sĩ phải hết sức cẩn thận rồi tiếp tục lên đường.

" Lẽ nào là thuyền cỏ mượn tên?? Không đúng, muốn dùng kế này, đặt người nộm trong rừng thì biết đến bao giờ được mười mũi?? Hồ Nguyên Trừng này không phải bị lừa đá trúng đầu đấy chứ? ”

Mộc Thạnh tự hỏi, cứ vừa thúc ngựa vừa lầm bầm một mình.

Trong đội có người lên tiếng:

" Tướng quân, đằng này lại có!! ”

" Đằng kia cũng vậy!! ”

Tâng!!

Tiếng dây cung bật lên khô khốc, hai mũi tên của Mộc Thạnh đã vọt vào trong tàng cây, khuất sau những tán lá dày. Liền đó, bình bịch hai tiếng, hai con bù nhìn rơm khoác quân phục nhà Hồ rơi xuống. Thấy sự lạ, Mộc Thạnh thoáng nhíu mày, rồi chợt vỗ mạnh trán mình.

" Ta biết rồi… khá khen cho tiểu tử Hồ Nguyên Trừng ngươi. ”

" Tướng quân… lời ấy có ý gì? ”

" Bại tướng ở Đa Bang chắc chắn đã nói cho hắn biết chiến thuật chia binh hai ngả của ta và Trương nguyên soái. Tiểu tử này bèn tương tế tựu kế, dùng những người nộm này khiến chúng ta cảnh giác, thực chất trong rừng không có gì đáng sợ.

Người An Nam giỏi dùng phục kích, hắn biết chúng ta chim sợ cành cong, sẽ phải cẩn thận đề phòng lục soát khu rừng tìm kiếm phục binh mà tiêu diệt, từ đó hoang phí thì giờ một cách vô ích. Tranh thủ thời gian ấy, hắn mới dùng đại quân quét ngang đội thuyền của Trương nguyên soái. Khi chúng ta chạy tới nơi, e rằng sẽ lọt vào thiên la địa võng.

Hay cho một chiêu Không Thành Kế, lại được tiểu tử này vận dụng một cách nhuần nhuyễn ngoài hoang ngoại. Thế nhưng, chẳng chịu tốn một binh một tốt nào mà muốn lừa Mộc Thạnh này ư, tiểu tử An Nam này cũng quá coi thường ta đấy. ” - Mộc Thạnh nghiến răng, cây tên trong tay bị y bẻ gãy cái rụp.

" Thế thì nguy lắm, chúng ta đã tốn khá nhiều thời gian rồi. ”

" Mau!!! Dùng hết tốc lực, hoàn thành thế gọng kìm!! ”

Nhánh kỵ binh này theo Mộc Thạnh chinh chiến đã nhiều năm, biết lúc nào nên làm gì. Thấy tướng quân sắc mặt trầm trọng, điên cuồng thúc ngựa chạy nhanh về phía cửa rừng đông nam, cả đám cũng liền vội vàng vọt theo.

Cửa rừng đã ở trước mặt, nếu phóng tầm mắt qua khỏi các tán cây là có thể nhìn thấy đội thuyền của hai bên đang chiến nhau dữ dội. Thạnh thấy khói xám bốc lên bay qua đầu mình, đoán biết Trương Phụ đã bị dồn vào thế khó. Thực tế, Phụ đã không dám so hoả lực nữa mà phải để chiến thuyền ngạnh kháng từng trận bão đạn mưa tên của quân Hồ, từ từ áp sát lại, để quân tràn sang đánh giáp lá cà. Thạnh không khỏi nôn nóng, tay nắm siêu sắt thêm chặt.

Cộp! Cộp! Cộp!

Bầy ngựa phi hết tốc lực, chẳng mấy mà đã vượt qua khỏi sự che chở của lá cây. Ánh nắng buổi ban trưa như đổ lửa xuống đầu, đôi mắt khẽ híp lại một lúc vì chói nhưng Thạnh nào dám thả chậm mã tốc?? Chưa đến nơi, y đã hét vang:

" Thằng ranh con Hồ Nguyên Trừng, ông nội Mộc Thạnh của mi tới rồi đây!! ”

Y đang muốn gác siêu lại để với lấy cây cung, định bụng cứ bắn rụng soái kì quân Ngu trước để thị uy đã. Nào ngờ dưới chân ngựa bỗng hẫng đi nghe sụt một cái, sau đó cảnh vật trước mặt cứ dâng cao dần.

" Hỏng rồi!!! Bẫy chông!!! ”

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương sau