THU NGUYỆT

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương sau

Chương con truyện Thu nguyệt - Chương 1 - Chương 5

Chương 1

Khuê Nguyên năm thứ ba, ta chết.

Độc phát chết bất đắc kỳ tử trước vương tọa, thi thể bị treo lơ lửng trên tường thành thị chúng.

(*Vương tọa: ngai vàng, chỗ vua ngồi)

Sở dĩ biết được những điều này là vì ta đã tận mắt chứng kiến.

Hay nói đúng hơn, hồn phách của ta đã nhìn thấy chính mình sau khi chết.

Ta chết đi, linh hồn liền rời khỏi thân xác, có lẽ do cái chết đến quá đột ngột, ba hồn bảy phách phút chốc không ý thức được sự sống đã không còn, nhất thời không tin cứ liên tiếp lao về phía thân thể, nhưng hết lần này đến lần khác đâm xuyên qua, lúc này mới biết mình đã thật sự chết.

Sau khi hiểu được điều đó, ý nghĩ đầu tiên hiện lên trong đầu ta là, thì ra hồn lìa khỏi xác sau khi chết là có thật, không đau cũng không lạnh, hoàn toàn không khủng khiếp như trong tưởng tượng.

Lúc nhỏ, có một quãng thời gian ta rất sợ chết.

Khi đó vẫn còn sống trên núi Bạch Linh, ta ôm con thỏ trắng yêu quý đã chết, khóc suốt ba ngày ba đêm.

Sư tổ cười ta, nói hoa nở có độ hoa rơi có thì, vạn vật vô thường chớp mắt là đi, sinh khởi rồi đoạn diệt, khoảnh khắc ngươi nhìn thấy vạn vật lần đầu tiên thì vạn vật đã được định kết cục. Nhân sinh như mộng, hết thảy đều về với cát bụi. Có cái gì mà khóc?

Thời điểm sư tổ nói những lời này, ta vừa lên sáu, nghe xong ta trố mắt một hồi lâu, sau đó ‘òa’ một tiếng bắt đầu gào khóc nức nở, khóc đến độ chim trên núi Bạch Linh hoảng hốt bay tán loạn, khóc đến nỗi sư phụ phải vọt vào phòng bế ta khỏi tay sư tổ.

Trong tiếng khóc váng trời đất của ta và ánh nhìn trầm lặng nhưng tràn ngập cảm giác áp lực của sư phụ, sư tổ phải bịt chặt tai lại, hai chân veo véo phóng ra ngoài chạy trốn như cơn gió, để lại ta đu trên người sư phụ, nước mắt nước mũi giàn giụa nấc nghẹn không đầu không đuôi hỏi người.

“Sẽ chết sao? Sư phụ, người và sư tổ đều sẽ chết sao?”

Phải mất một lúc thật lâu sư phụ mới hiểu được những lời ta nói, rồi phải mất một lúc thật lâu mới xoa dịu được tâm trạng của ta. Ta không còn nhớ người đã nói gì trong thời gian dài thật dài đó, mãi đến tận nửa đêm ta mới ngừng nức nở, cả khuôn mặt khóc thành một cái đầu heo.

Nhưng khái niệm về cái chết đã len thật sâu vào đầu ta, mấy tháng sau đó, ta đều rơi vào tâm trạng sợ hãi mất đi bọn họ, bỗng chốc thay đổi hết thói quen thuở trước, mỗi ngày đều vùi đầu trong phòng đọc sách và phòng thuốc, sư tổ hỏi ta muốn làm gì?

Ta ôm sách đáp người: “Con làm thuốc trường sinh bất lão cho sư phụ và người uống.”

Nghe vậy sư tổ cười ha hả, suýt chút nữa té thẳng xuống núi.

Vẫn là sư phụ kiên nhẫn, ngồi bên cạnh chỉ dạy ta từng lời: “Nguyệt Nguyệt, học y thuật dĩ nhiên là tốt, nhưng một người sống mãi bất diệt, cũng rất tịch mịch cô đơn, có sinh có tử, mới có thể quý trọng những lúc bên nhau, như vậy không phải tốt lắm sao? Người chết đi như ngủ một giấc dài, chết rồi thì không còn biết gì nữa, con thử nghĩ cẩn thận xem, cũng không có gì đáng sợ.”

Ta đặt sách xuống, ôm lấy đầu gối sư phụ: “Nhưng con sợ con còn sống mà người và sư tổ lại không còn, nếu không thì sư phụ hãy hứa với con, khi nào con còn sống, người sẽ luôn ở bên con.”

Thật lâu sau đó, sư phụ không nói gì, rồi cất lời, cũng chỉ một câu: “Được, ta sẽ cố hết sức.”

Từ trước đến giờ sư phụ chưa từng nói dối, có đôi khi ta không thích điểm này ở người tí nào.

Nhưng quyết tâm học y của ta cứ như vậy mà định, ngày ngày ta ôm sách đi tìm sư tổ hỏi đông hỏi tây, lúc mới đầu sư tổ làm mình làm mẩy bảo bây giờ mới nhớ tới ta, đi mà tìm sư phụ của ngươi ấy.

Ta vừa tâng bốc người vừa lý lẽ trình bày sự thật, sách vở sư phụ xem hàng ngày đều là sách binh pháp và võ học, cả phòng sách thuốc sách y thuật đều do một tay sư tổ người cất giữ, hơn nữa ta đọc tới chỗ nào không hiểu mới đến hỏi người, trên này còn mấy chữ ta vẫn chưa biết đọc.

Sư tổ hậm hực làu bàu: “Chữ vẫn chưa biết hết ngươi còn muốn đọc sách?”

Thực ra ta biết được không ít chữ. Lên năm tuổi, sư phụ đã bắt đầu dạy ta tập viết, đầu tiên là viết tên ta, sư phụ nắm tay ta, chấm vào mực viết một chữ ‘Nguyệt’. Ta hỏi người chữ này có nghĩa gì? Người giải thích: “Đây là tên của con, nghĩa là mảnh ngọc dưới ánh trăng.”

(*Chữ ‘Nguyệt’ tên nữ chính không phải ‘Nguyệt’ trong ánh trăng mà là ‘Nguyệt’ có nghĩa viên ngọc thần sáng như ánh trăng trong truyền thuyết Trung Quốc thời cổ đại – ngọc truyền quốc.)

“Có đẹp không ạ?” Ta lật đật hỏi.

“Đẹp.” Người khẳng định.

Ta liền cười rạng rỡ như một đóa hoa.Người lại viết tên mình, nhưng là hai chữ ‘Từ Trì’.

Ta thấy lạ: “Sao lại có đến hai chữ ạ?”

“Từ là họ của ta, Trì là tên ta.” Sư phụ chỉ vào hai chữ kia giảng giải.

“Vậy họ của con đâu, sư phụ?”

Sư phụ nghĩ ngợi một thoáng, đáp: “Sau này sẽ có, bây giờ còn chưa cần.”

Ta cũng không mấy quan tâm đến những chuyện này, chỉ ‘à’ một tiếng, sau đó hăm hở đồ đi đồ lại ba chữ kia.

Sư tổ lại tiếp tục hờn dỗi phụng phịu trước mặt ta: “Con nhóc nhà ngươi phiền hà rắc rối nhất trên đời, sớm biết như thế ta đã không cho A Trì mang ngươi về nuôi.”

Ta là đứa trẻ sư phụ nhặt được trong núi, thời điểm người nhặt ta, ta chỉ mới hai ba tuổi, ngồi khóc co ro trong giỏ tre, cũng không biết cha mẹ ta ở phương nào, có lẽ đã bị sói ăn thịt.

Sư tổ ngại phiền toái muốn đem ta cho người khác, nhưng sư phụ nói không được, bảo người sẽ nuôi ta.

Kỳ thực khi đó người cũng chỉ mới mười một mười hai tuổi, một đứa trẻ chăm sóc một đứa trẻ, không biết đã phải chịu bao nhiêu vất vả khổ cực.

Mỗi lần nghĩ đến điều đó, ta luôn cảm thấy mình thật may mắn, đại khái sư tổ cũng thấy vậy, thường ngồi chồm hổm trước mặt ta nghiền ngẫm.

“Sao hắn lại nhặt ngươi về nuôi nhỉ? Ta cũng chưa từng thấy hắn nhặt con sói, con hổ hay con báo nhỏ nào đâu chứ.”

Ta ngoài miệng không đáp nhưng trong lòng ùng ục phản bác, ta là người đó! Có thể so sánh với con sói, con hổ con báo nhỏ sao?

Sư tổ là thần y, y thuật tinh thâm vang danh khắp thiên hạ, nghe nói người có thể tái tạo da thịt trên xương trắng, có thuật cải tử hoàn sinh. Bản thân ta chưa từng nhìn thấy người làm cho người chết sống lại bao giờ, nhưng bất luận là người bệnh nào dù chỉ còn thoi thóp một hơi thở được đưa đến cho người chữa trị đều bình phục, chẳng những bình phục mà còn có thể tung tăng đi xuống núi, khiến cho thôn dân khắp xa gần đều tôn người làm thần tiên, mồng một ngày rằm không quên thắp đầy hương dưới chân núi thể hiện lòng thành kính.

Sư tổ cái gì cũng tốt, chỉ là tính nết trẻ con trái khoáy oái oăm cứ tăng dần theo độ tuổi, còn thích chạy trốn người, mỗi lần cứu người là một lần chuyển nhà, núi Bạch Linh to như vậy, càng chuyển càng sâu, càng chuyển càng cao, đến cuối cùng chỉ còn thiếu điều chui vào trong mây ở.

Sư phụ nói, sư tổ chỉ cứu người hữu duyên, ta phồng má nói kỳ thực sư tổ ngại phiền phức rầy rà mà thôi, cần gì phải nói tao nhã cao siêu như vậy? Chờ sau này học thành y thuật ta sẽ xuống núi, hễ nhìn thấy ở đâu có bệnh là cứu, đừng nói là con người, cho dù là con hổ con báo con sói nhỏ đều cứu hết thảy.

Sư phụ nghe xong, vỗ vỗ đầu ta, mỉm cười.“Nguyệt Nguyệt, con là đứa trẻ ngoan.”

Lúc sư phụ nói những lời này người mười sáu tuổi, trong bóng chiều thu thưa nắng thiếu niên anh tuấn ấm áp hơn cả ánh mặt trời, trong lòng ta chỉ có duy nhất một ý nghĩ, may mà sư phụ không nhặt con hổ con báo hay con sói nhỏ, mà nhặt ta, một con người.

Ta học y, nguyên nhân lớn nhất là vì để sư phụ không rời xa ta, nào ngờ chưa đầy hai năm sau, người đã phải đi.

Khi biết tin này, ta khóc đến đất trời đen kịt, còn một mình bỏ nhà đi bụi để bày tỏ thái độ phản đối quyết liệt của mình.

Năm ấy ta tám tuổi, cái gọi là bỏ nhà đi bụi, chính là đi lung tung loạn xạ trên núi Bạch Linh, cuối cùng thật sự bị lạc đường, lại gặp phải mưa to, thế là nấp vào trong hang động ngồi khóc thui thủi một mình.

Sư phụ tới tìm ta, trên núi không có người, cỏ dại rậm rạp um tùm, những bụi cây thấp phủ kín cửa hang, ta thấp bé nên tìm được khe hở chui vào, sư phụ phải bươn qua bụi rậm giẫm cả lên gai mà tìm lối, khi người xuất hiện trước mặt ta toàn thân ướt đẫm, không biết là nước mưa hay mồ hôi, tay chân và khuôn mặt đầy những vết trầy xước rướm máu.

Sư phụ tìm ta vất vả như vậy, nhưng khi nhìn thấy ta người không hề la mắng lời nào, chỉ ngồi xổm xuống xoa đầu ta, hỏi dịu dàng: “Trở về nhé?”

Ta níu lấy tay người, thút thít: “Sư phụ không đi nữa sao?”

Người lắc đầu.

Ta đau lòng ngay cả sức để đứng lên cũng không có, sư phụ cõng ta về, suốt dọc đường không ngừng trò chuyện với ta.

“Nguyệt Nguyệt, con có biết vì sao ta lên núi Bạch Linh không?”

Ta khóc đến mệt lả, hai mắt sưng húp không thể mở ra được, chỉ biết áp đầu vào lưng người khẽ ngọ nguậy trái phải.

“Ngày bé sức khỏe ta không tốt, đến tám tuổi phụ thân đưa ta lên núi Bạch Linh thỉnh nhờ sư phụ chăm sóc, sau khỏe mạnh, rồi ở lại nơi này nghiên cứu luyện tập võ học binh pháp, mãi cho đến hôm nay.”

Ta đang thương tâm, chỉ hức hức một tiếng, xem như đáp lời.

Người cười, một lúc sau nói tiếp: “Ta xuất thân dòng dõi nhà tướng, giờ đã đến lúc xuống núi đền đáp non sông.”

“Đền đáp non sông?” Ta không hiểu lắm, cả thế giới của ta, chỉ là ngọn núi Bạch Linh này.

“Sau này có thời gian ta sẽ về thăm con, chờ con trưởng thành cũng có thể xuống núi tìm ta.”

“Giờ con sẽ đi với người.” Ta tỏ rõ quyết tâm.

“Hiện tại không được.” Người lắc đầu, rồi dịu dàng cất lời: “Không phải con muốn làm nữ thần y sao? Khi nào thành thần y rồi là có thể xuống núi.”

“Con không muốn đâu, con muốn được ở bên cạnh người.” Ta bắt đầu học bộ dạng mè nheo ăn vạ của sư tổ, còn vòng hai tay ôm lấy cổ sư phụ, nhưng cánh tay không có chút sức lực nào, mềm nhũn vắt xụi lơ trên cổ người.

Sư phụ vừa khuyên nhủ dỗ dành vừa cõng ta về tới hàng giậu trúc bao quanh nhà, ta mệt rũ dần chìm vào mơ màng trong giọng nói ấm áp và bước chân vững vàng của người, khi được đặt xuống giường chẳng mấy chốc đã đi vào giấc ngủ, nhưng trước khi ngủ vẫn không chịu buông sư phụ ra, ngón tay cứ níu chặt vạt áo của người không rời.

Ngày hôm sau tỉnh dậy, ánh mặt trời chói lóa chiếu vào mặt ta, trong phòng im ắng tĩnh lặng, ta chân trần phóng vọt xuống giường chạy thật nhanh ra ngoài, nhìn thấy sư tổ đang đứng ở cửa bóc hạt dẻ ăn, vừa bóc vừa nói: “Không cần tìm, Từ Trì đã đi rồi, ngoan ngoãn đọc sách thuốc đi, ta sẽ bố trí bài học cho.”

Ta ngẩn người đứng ngơ ngác thật lâu, cuối cùng mấp máy môi, sư tổ đã sớm chuẩn bị tâm lý, ném tọt đống hạt dẻ trên tay xuống bịt tai lại.

Nhưng ta không khóc, chỉ phịu mặt, làm việc lớn quyết không chùn bước đi tới kéo áo người.

“Làm gì?” Sư tổ bị hành động khác thường của ta dọa cho hoảng vía.

“Đi đọc sách.” Ta còn vô cùng nghiêm nghị trả lời người: “Con muốn làm nữ thần y.”

Chương 2

*Chương này có nội dung ảnh, nếu bạn không thấy nội dung chương, vui lòng bật chế độ hiện hình ảnh của trình duyệt để đọc.

Sư phụ bảo có thời gian người sẽ về thăm ta, nhưng bao lần lá rụng chim nhạn bay đi rồi quay về mà bóng người vẫn biền biệt.

Sư tổ nói người đi đánh giặc ở một nơi rất xa rất xa, xa đến độ sư tổ cũng không biết nơi đó hình dáng thế nào.

Ta lớn gan đoán thầm trong bụng, có lẽ sư tổ người cũng chưa đi được bao nơi.

May mà sư phụ có biên thư về.

Những lá thư được một con chim ưng đưa chuyển, nó rất lớn, mỗi khi giang rộng đôi cánh giống hệt như cả đám mây đen sà xuống, lần nào đến dưới chân cũng buộc một ống đựng thư bằng trúc.

Và lần nào đến nó cũng bày ra bộ tịch cõng nợ đời vượt ngàn dặm biển lửa núi đao, đối với ta cũng không có lấy một chút khách khí, thấy ta vui mừng hớn hở nhào tới, nó liền dùng đôi mắt lườm nguýt liếc xéo ngó ta, đến khi ta buộc túi thuốc và thư hồi âm vào chân nó, nó lại hung hãn đập cánh phành phạch tỏ vẻ biểu tình phản đối.  

Ta liền nhỏ nhẹ giải thích với nó: “Những viên thuốc này đều rất hữu ích, bổ khí dưỡng huyết, khử độc sát trùng còn có thể trị thương. Sư phụ đánh giặc khổ cực, mày giúp tao chuyển cho người, chờ sau này thành nữ thần y rồi, tao sẽ tự đi tìm người, không cần làm phiền mày nữa.”

Cũng không biết con ưng kia nghe có hiểu không, mặc dù dấm dẳng không tình nguyện, nhưng rốt cuộc vẫn mang túi thuốc bay đi. Qua mấy tháng nó lại quay về, chiếc túi kia cũng được mang về cùng, cứ như vậy đến rồi đi.

Chiếc túi được mang về thường không để trống, sư phụ sẽ đặt vào bên trong một viên đá màu nho nhỏ, một chiếc lông ngũ sắc hay một thứ gì thú vị khác.

Ta đọc thư của sư phụ, trong thư người không một lần viết về những hiểm nguy vất vả nơi chiến trường, ngập trang giấy đều là những chuyện vụn vặt bình thường. Lá thư đầu, người nói đại quân dừng chân đóng ở đất Ba Thục, nơi này núi non trùng điệp, sông nước vời vợi, phong cảnh đẹp như một bức tranh, dọc bên bờ sông tầng tầng đá cuội đủ màu sắc trải dài phát sáng lấp lánh trong đêm, trên núi có rất nhiều chim sẻ ngũ sắc, thú vị lắm. Người còn nói, những viên thuốc đó vô cùng hữu hiệu, con làm rất tốt.

(*Ba Thục: biệt danh của Tứ Xuyên thời tam phân thiên hạ)

Rồi một năm qua đi, trong thư người viết đã hành quân đến quan ngoại, nơi đó có rừng Hồ Dương, loài cây ngoan cường chống chọi với hạn hán, bền bỉ vững vàng đương đầu trong gió cát nơi hoang mạc bàn ngàn. Tương truyền nó sống nghìn năm không chết, chết mà nghìn năm không đổ, đổ mà nghìn năm không mục nát, sừng sững đứng đó ghi lại năm tháng bể dâu. Khi ánh mặt trời chiếu qua, những phiến lá vàng óng ánh như một biển rừng màu vàng kim. Còn có những cồn cát nhấp nhô trải dài bất tận, dưới ánh trăng cát trắng như tuyết, đoàn lạc đà dài dằng dặc rong ruổi giữa gió cát đi trong tiếng lục lạc rung lanh canh. Nguyệt Nguyệt chưa từng nhìn thấy lạc đà phải không! Ta dùng gỗ hồ dương khắc cho con một con, nhìn nó con sẽ hình dung được chúng có hình dáng thế nào.      

(*Quan ngoại: vùng đất phía đông Sơn Hải Quan. Sơn Hải Quan là một trong các cửa ải chính của Vạn lý trường thành.

**Hồ Dương còn g̣ọi là cây Hồ Đồng, là loại cổ thụ chỉ có ở sa mạc Gobi. Do hình lá cây thay đổi theo mùa, nên nó còn có một tên gọi khác là cây Tam diệp, mùa xuân lá có hình dài như lá liễu, mùa hè thì lá lại trở nên vừa to vừa tròn, còn mùa thu thì lá lại giống như lá Phong.)

Về cùng lá thư là một con lạc đà nhỏ được tạc từ gỗ, bốn cái chân thật dài, trên lưng có hai cái bướu trông giống như đỉnh núi, đôi mắt được khắc rất to, đầu ngẩng cao đầy khí thế.

Lần nào ở cuối thư, sư phụ cũng viết, chờ khi nào có thời gian, ta sẽ về thăm con.

Ta cẩn thận cất những món đồ lạ lẫm thú vị đó vào trong một chiếc hộp gỗ, rồi lật giở những trang thư đọc đi đọc lại đến thuộc lòng từng con chữ, buổi tối còn đặt chúng dưới gối đầu mà ngủ, hy vọng khi thức dậy sư phụ sẽ bất ngờ xuất hiện trước mặt ta.

Một lần chờ đợi, đằng đẳng bảy năm.

Mười lăm tuổi năm ấy, sư tổ đột nhiên nói với ta, người muốn đi ngao du sơn thủy.

Ta nhìn người hỏi: “Núi Bạch Linh không tốt sao ạ? Sư phụ nói người sẽ về thăm chúng ta, sư tổ đi rồi, sẽ không gặp được sư phụ.”

Sư tổ bắt đầu giở tính nết trái khoáy quen thuộc trước giờ ra, nhìn thấy ngày xuân cỏ xanh tươi tốt liền nằm uỵch ra đất lăn lộn ăn vạ.

“Ta mặc kệ, ta mặc kệ, ta đã ngần này tuổi rồi, nếu bây giờ mà không ngao du đây đó, sau này muốn đi cũng không đi nổi.”

Ta nhìn người, thở dài: “Con đâu có ngăn không cho người đi đâu, người mau đứng lên đi ạ, dưới đất lạnh lắm.”

Sư tổ đứng phắt dậy, phủi hết đám bông cỏ bám trên người, không biết lại nghĩ tới gì đó, hỏi ta: “Vậy còn ngươi phải làm sao bây giờ?”

Ta lạnh nhạt: “Sư tổ đột nhiên nhớ tới con sao?”

Sư tổ: “…”Ta nói tiếp: “Chờ người đi rồi, con sẽ xuống núi hành nghề y.”

Sư tổ lập tức quắn quéo: “Núi Bạch Linh không tốt sao? Từ Trì nói sẽ trở về thăm chúng ta, ngươi đi rồi, sẽ không gặp được nó đó.”

Mặc dù đã sớm có chuẩn bị, nhưng ta vẫn không kìm được trừng mắt liếc người một cái: “Con sẽ viết thư cho sư phụ, báo cho người biết con đang ở đâu.”

“Ngươi trừng ta, ngươi trừng ta, ngươi trừng ta.” Sư tổ ôm ngực.

Ta thở dài một tiếng, sư tổ tuổi càng cao thì hành vi lại càng ngây thơ hệt trẻ con, ta chỉ có thể giả vờ như không nhìn thấy, trực tiếp ngó lơ những hành động vượt quá lẽ thường của người. Thói quen này đã khiến cho về sau rất nhiều người không hài lòng về ta, nói ta tuổi còn nhỏ mà đã già dặn như vậy, hỉ nộ ái ố đều không thể hiện ra mặt, thâm sâu khó lường, chẳng ai biết trong bụng nghĩ gì. Mỗi lần nghe thấy những lời đánh giá đó, ta thực sự rất muốn để bọn họ tiếp kiến sư tổ của ta, gặp một trưởng bối thích mè nheo chơi xấu thiệt hết sức đau đầu, năm tháng khiến người ta già, còn sư tổ thì khiến ta trưởng thành sớm.  

“Con muốn làm nữ thần y, không xuống núi làm sao bốc thuốc chữa bệnh được ạ? Không phải người cũng sắp đi sao? Hành trang cũng đã chuẩn bị sẵn sàng hết rồi.” Ta lý luận, nói xong đưa tay chỉ cái túi đồ to đùng sư tổ lén giấu sau cánh cửa.

Sư tổ liền cười ‘hắc hắc’ nói với ta: “Không gấp, trước tiên sư tổ sẽ xuống núi cùng ngươi tìm một nơi ở thu xếp ổn thỏa, sau này còn biết chỗ đi tìm ngươi.”

Ta nghĩ ngợi một lát: “Vậy chúng ta phải đợi Ưng nhi đến rồi hãy đi, nếu không lần sau nó đưa thư tới sẽ không tìm thấy con.”

Sư tổ phiền não: “Cái con chim đó rất hung dữ, không biết nó có chịu đi theo chúng ta không nữa.”

Ta lấy từ trong ngực ra một chiếc lọ bạch ngọc, rồi vạch đống cỏ sau cửa lôi cái lồng chim bằng liễu gai khổng lồ mà ta đã đan trước đó ra: “Con đã chuẩn bị xong rồi, hạ ‘Thập nhật túy’ thế nào ạ?”

Sư tổ ‘ẹc’ một tiếng, thình lình ôm chầm lấy ta: “Nguyệt Nguyệt, ngươi đúng là niềm kiêu hãnh của sư tổ.”

Một lúc sau Ưng nhi đến, liền bị chúng ta hạ thuốc mê, sau đó cho thẳng vào lồng mang đi.

Ta và sư tổ xuống núi, sư tổ nói đã chữa bệnh bốc thuốc thì phải đi đến những nơi náo nhiệt đông người. Hai người chúng ta càng đi càng xa, mới đầu là những lối mòn quanh co trên núi, bóng người thưa thớt, rồi dần dần có đường, đường lớn, người mỗi lúc một nhiều hơn.

Dọc đường đi, lúc nào ta cũng được nghe thấy người ta nhắc đến sư phụ, nói Từ Trì Từ Bội Thu chiến công hiển hách thế nào, phong thái uy phong lẫm liệt ra sao, suốt bao năm nam chinh bắc chiến, chỉ thắng bất bại, đánh đuổi biết bao quân xâm lược ra khỏi bờ cõi đất nước, mới ngoài hai mươi tuổi đã được phong làm tướng quân, không hổ danh là tướng môn hổ tử.

(*Tướng môn hổ tử: chỉ con cái những nhà quyền quý, vũ dũng, có tài năng như cha ông, tiếp nối được truyền thống hào hùng của thế hệ trước.)Bội Thu là tên tự của sư phụ, nam tử qua hai mươi tuổi mới có tên tự, trong thư gửi về người đã viết như vậy.

(*Tên tự là tên gọi của người con trai trưởng thành sau khi làm lễ ‘gia quán’ vào năm 20 tuổi.)

Ngày đó, ta và sư tổ dừng chân nghỉ tại khách điếm, có một nhóm người trẻ tuổi sắp sửa lên đường tòng quân ngồi tụ tập bàn luận về những truyền thuyết nơi sa trường, thời điểm nhắc đến sư phụ, thanh âm cũng vang dội hơn rất nhiều, nói người còn trẻ mà dụng binh như thần, trí dũng thiên phương, chiến công hiển hách, dung mạo lại tuyệt mỹ, được hoàng thượng phong là Đại tướng quân trẻ tuổi nhất của triều đình, không biết có bao người kính ngưỡng.

Ta nghe vậy vô cùng kích động, không kìm được muốn xông qua nói với bọn họ một câu ‘Người là sư phụ của ta!’

Sư tổ ngồi bên cạnh, nhìn thấy khuôn mặt đỏ phừng phừng của ta liền bảo: “Khiêm tốn, khiêm tốn.”

Ta cúi đầu ‘dạ’ một tiếng, nhưng trong lòng rất vui, cảm thấy sau khi xuống núi, ta đã cách sư phụ thật gần.

Cuối cùng ta và sư tổ dừng chân tại Diêm thành, trên đường đi tình cờ gặp mấy người bệnh, ta đã khám và bốc thuốc cho họ, kết quả rất tốt. Có người nọ, con trai của cụ bà được ta chữa bệnh còn quỳ sụp xuống trước mặt ta, vừa dập đầu vừa nói: “Cô nương là Bồ Tát chuyển thế, là thần y.”

Ta vui như có cả triền hoa nở trong lòng, lập tức quay đầu nói với sư tổ: “Anh ta gọi con là thần y.”

Sư tổ khụ khụ hai tiếng: “Hắn cao hứng quá độ, thần trí không tỉnh táo.”

Ta: “…”

Sau đó ngẫm lại, sư tổ nói cũng đúng, được một người gọi là thần y sao có thể tính? Ít nhất phải như sư phụ, đi đến đâu cũng đều được người ta nhắc đến với sự ngưỡng mộ kính trọng thì mới phải?

Sư tổ thuê cho ta một gian phòng nhỏ ở Diêm thành, lại hỏi ta: “Có biết tiền là gì không?”

“Sư tổ, sau khi sư phụ đi, hàng năm đều là con cùng người mang thảo dược xuống chợ đổi lấy tiền mua đồ đạc.” Ta nhắc nhở ông.

“Ờ, nhưng bây giờ ngươi muốn hành nghề y, đem bán thảo dược đổi lấy tiền, thì lấy cái gì để chữa bệnh?”

Ta lồng hai tay vào trong ống tay áo, đáp người: “Con thu tiền chẩn bệnh, người có tiền thì thu nhiều một chút, để giúp cho những người không có tiền.”

Sư tổ ‘éc’ một tiếng, đột nhiên ôm chầm lấy ta: “Chuyện này ngươi cũng biết luôn hả, Nguyệt Nguyệt, ngươi đúng là niềm kiêu hãnh của sư tổ.”

Ta: “…”

(Cây Hồ dương)

cây hồ dương

rừng hồ dươngchim ngũ sắc

Cùng ngắm chim chú chim Ngũ Sắc6

chim sẻ cánh vàng

Chương 3

Thời điểm Ưng nhi tỉnh lại, dáng vẻ và biểu hiện của nó, chỉ có thể dùng bốn từ ‘tột cùng phẫn nộ’ để hình dung. Hẳn nhiên ta phải xuống nước ngon ngọt dỗ dành, tìm mọi cách để làm cho nó bình tĩnh lại, rồi phải mất không biết bao nhiêu công sức mới năn nỉ được nó mang thư bay đi.

Sau đó, sư tổ cũng đi.

Ngày sư tổ đi, ta đưa người ra ngoài thành, quỳ trên mặt đất, cung kính hướng về phía người dập đầu bái biệt.

Sư tổ nhận khấu lạy của ta cao hứng không để đâu cho hết nhưng ngoài miệng lại nói: “Quên đi, quên đi, không cần phải long trọng như vậy.”

Ta liền ‘dạ’ một tiếng loẹt xoẹt đứng dậy phủi bụi trên đầu gối.

Sư tổ: “…”

Hôm đó, bầu trời trong vắt, ta đứng dưới ánh mặt trời đưa mắt dõi nhìn theo sư tổ, thấy người đi thật xa mới giơ tay lên, đưa lưng về phía ta vẫy vẫy, một chút lưu luyến cũng không có.

Ta có phần hâm mộ ngẫm nghĩ, có lẽ ngao du là chuyện gì đó hết sức tuyệt vời.

Sau đó ta bắt đầu ở lại Diêm thành hành nghề y.

Trong số những người được ta chữa bệnh dọc đường, nào ngờ có mấy người sống ở Diêm thành, sau khi gặp lại ta ở đây vô cùng hào hứng giúp ta tuyên truyền khắp thôn sâu ngõ nhỏ, trong nhất thời có rất nhiều người nghe danh mà đến.

Trong lòng ta đã có suy tính rõ ràng, đối với những người có tiền, ta sẽ thu phí chẩn bệnh cao hơn một chút, người có gia cảnh bình thường thì thu ít một chút, còn những người nghèo khổ tứ cố vô thân chỉ cần đến, ta sẽ không từ chối.

Tựa như một sớm nọ vừa mở cửa ra, ta nhìn thấy một đứa bé đứng rụt rè nép sát mình trong góc cửa dòm ta sợ sệt, quần áo trên người rách tả tơi, đôi chân trần nhỏ bé giẫm trên đất, nói với ta.

“Có thể xem bệnh cho bà nội của đệ được không? Phải cần bao nhiêu tiền mới được? Đệ, đệ chỉ có mấy cái này.”

Vừa nói vừa mở hai bàn tay vẫn luôn nắm thật chặt ra, trong mỗi lòng bàn tay là một đồng xu.

Ta gật đầu, đeo hòm thuốc lên lưng rồi đi theo nó, đứa bé dẫn ta tới một ngôi miếu Quan đế* bỏ hoang  ngoài thành, không ngờ bên trong vô cùng náo nhiệt, rất nhiều ăn mày và người lưu lạc tha hương tá túc ở đây. Bà nội của thằng bé nằm trên chiếc chiếu xác xơ trong góc tối không một tia sáng, thân hình gầy trơ xương, đang rơi vào hôn mê chỉ còn thoi thóp chút hơi tàn.

(*Miếu Quan đế: Miếu được xây để thờ Quan Vũ.)

Ta bắt mạch cho bà cụ rồi kiểm tra tưa lưỡi, cũng may không phải chứng bệnh gì hung hiểm, bà cụ bị bệnh nhiệt sốt cao nhưng nếu để kéo dài không điều trị kịp thời sẽ trở thành bệnh lao, vô cùng nguy hiểm.

Thằng bé dòm ta đầy lo lắng, ta liền híp mắt cười với nó.

“Không sao đâu, tỷ sẽ chữa cho bà bà.”

Vẻ thấp thỏm lo lắng trên gương mặt bé nhỏ lem luốc thoắt cái tan ra, đôi mắt sáng bừng lên lấp lánh.

Một tuần sau đó, ngày nào ta cũng chạy đến miếu, chẳng mấy chốc bà cụ đã có thể ngồi dậy ăn cơm, thằng bé vui đến nổi không thốt nên lời, cuống quýt lấy hai đồng xu kia nhét vào tay ta.

Ta nắm tay giấu ra sau lưng, cười tít mắt: “Ít quá, tỷ không cần đâu.”

Cu cậu sững người ngơ ngác, cũng là những người ăn mày tha hương bên cạnh vây lại, ấn đầu nó nói: “Còn ngây ngốc cái gì? Tiểu Nguyệt cô nương tấm lòng Bồ Tát không thu tiền của ngươi, còn không mau quỳ xuống khấu đầu lạy tạ Bồ Tát.”

Ngay cả bà bà thân thể vẫn còn đang yếu ớt cũng gắng gượng bò dậy khỏi chiếu, chống hai tay xuống đất dập đầu với ta.

Ta lật đật đỡ bà cụ dậy, còn thật là phiền não nói: “Bà bà đừng dập đầu, sư tổ của con nói con là lớp hậu bối, nếu có người dập đầu với con thì con phải dập đầu đáp lễ, mọi người cứ dập đầu như vậy, đầu của con sẽ bị mẻ mất.”

Diêm thành bốn bề sông nước mênh mông, những con rạch chằng chịt uốn quanh mang gió lộng từ bờ sông thổi tới, khí hậu hết đỗi dễ chịu ôn hòa. Ta ở nơi này hành nghề y bốc thuốc chữa bệnh, cuộc sống trôi qua yên ả êm đềm, chớp mắt đã hai tháng qua đi.

Chỉ có điều ta êm ả yên bình, nhưng giới y dược của Diêm thành lại sùng sục sôi trào. Hai tháng sau, có một ngày nhóm thân hào trong làng dẫn theo mấy người xa lạ đến đập cửa hiệu thuốc nhỏ của ta, hùng hùng hổ hổ muốn nói chuyện với ta.
(*Thân hào: người có địa vị và thế lực trong xã hội cũ.)

Ta nghe xong nửa ngày mới hiểu, những người đó là ông chủ các hiệu thuốc bắc và các y quán danh tiếng trong thành, đi cùng với các thân hào tới lên án ta đã phá hỏng quy củ phép tắc.

“Quốc có quốc pháp, gia có gia quy, giới y thuật cũng có luật lệ riêng của mình. Chẩn bệnh, bốc thuốc, thu tiền khám, tất cả các y quán trong Diêm thành đều áp dụng một biểu giá thống nhất, cô nương làm việc tùy ý như vậy là phá hỏng hết quy củ còn gì!” Một ông lão vừa nói vừa kích động đến độ nước miếng văng tung tóe, ta nhẹ nhàng yên ắng lùi ra sau một bước, nhưng lại có người từ phía sau ông ta xông vọt lên.

“Cô nương, thầy thuốc kê đơn, hiệu thuốc bốc thuốc, đây chính là đạo lý bất biến từ hàng ngàn năm qua, sao cô nương có thể vừa kê đơn vừa bốc thuốc cho mấy kẻ nghèo kiết xác này, khiến cho việc làm ăn của bọn ta bị giảm sút đáng kể, tất cả mọi người đều mở cửa hiệu buôn bán để kiếm cơm, cô nói xem mấy chuyện này là sao chứ?” Người nói những lời này là ông chủ một hiệu thuốc, dáng người nung núc béo tròn, vừa nói vừa xắn cao tay áo, một bộ muốn lập tức đòi lại công bằng.

Ta lại yên ắng lùi ra sau một bước, một vị trong nhóm thân hào dẫn bọn họ tới đã bước lên hòa giải, người này thì ta biết, tháng trước ta còn giúp ông ta chữa dứt căn bệnh phức tạp nghe đâu đã quấy nhiễu ông ta dai dẳng bao nhiêu năm trời. Thật ra đó chỉ là bệnh rối loạn đường ruột, chướng bụng khó tiêu, chỉ cần châm cứu kích thích khí huyết lưu thông phối hợp với thuốc điều trị dạ dày, phục hồi nhu động của đại trực tràng là được. Nhưng thấy ông ta toàn thân xiêm y rực rỡ, trên đai lưng điểm xuyết đầy châu ngọc lấp lánh, ta liền thu tiền chẩn bệnh cao hơn chút đỉnh, khi đó ông ta còn nói không đắt không đắt, chẳng bõ bèn gì so với số tiền mà ông ta đã bỏ ra để mua mớ dược liệu hảo hạng suốt mấy năm qua. Làm hại ta hối hận đã thu của ông ta ít như thế, hối hận cả một thời gian dài.

“Mọi người bình tĩnh đừng kích động, đừng làm tiểu Nguyệt cô nương sợ.” Vị thân hào đó vừa nói vừa kéo hai người kia lại.

Ta nhìn ông ta một cái, đợi ông ta nói tiếp.

Ông ta đứng trước mặt ta gật gà gật gù ra vẻ thấu hiểu: “Tiểu Nguyệt cô nương, chúng ta đều biết cô nương mới đến, không nắm rõ quy củ trong thành, có phải không?”

Ta nghĩ ngợi một thoáng, cảm thấy ông ta nói cũng đúng, bèn gật đầu.

Ông ta hài lòng sờ sờ râu nói tiếp: “Kỳ thực nếu cô nương có thể diệu thủ hồi xuân mang người bệnh từ cõi chết trở về, có thể chữa được những bệnh lý nan y phức tạp mà người khác không thể chữa khỏi thì những bệnh nhân ấy có lựa chọn đến chỗ của cô nương cũng là điều hẳn nhiên.” Nói xong còn cố tình như lơ đãng nhìn lướt qua mấy tay chủ y quán đứng phía sau mình.

Mấy chủ y quán này đồng loạt thay nhau ho khan, ngó nghiêng đầu sang chỗ khác, vờ không nghe thấy.   

“Có điều,” vị thân hào đổi ngữ điệu: “Nếu cô nương đã mở cửa hiệu khám bệnh, thì tiêu chuẩn thu phí cũng nên đối xử bình đẳng có phải không? Vì sao có thể cùng một loại bệnh, người thì không thu xu nào, mà người khác lại bị thu gấp bội chứ? Ta bị ăn không tiêu, đến khám ở đây, cô nương lấy một lạng bạc! Nhưng mấy hôm trước, ta nghe nói lão ngư đánh cá ở thành Đông cũng bị chứng bệnh như vậy mà cô nương lại xem bệnh miễn phí, điều này quả thật không công bằng.”

Ta lắc đầu: “Lão bá bán cá đó có trả tiền, không phải miễn phí.”

“Hả? Trả bao nhiêu?”

Ta đưa tay chỉ cái vại ngoài sân: “Ở trong vại.”

Có người lập tức đi ra nhìn lướt qua, sau đó kêu ré lên: “Hai con cá!”
Ta cảm thấy chuyện chẳng có gì đáng kinh ngạc mà bọn họ lại giật mình thảng thốt như vậy thực không có phong độ, nhưng ta vẫn giữ nguyên thái độ rụt rè mà một cô nương nên có, chỉ gật đầu không nói gì.

Lúc lão bá đó đưa hai con cá này cho ta, ta còn thoáng đau đầu.

Sư phụ đi rồi, ta và sư tổ liền bắt đầu ăn chay, sư tổ nói ăn chay giúp duy trì sự thanh khiết cho cơ thể, tăng cường chức năng não bộ, bất luận là phân biệt dược liệu hay vọng, văn, vấn, thiết cho người bệnh đều vô cùng có lợi. Nhưng ta biết kỳ thực trên núi vắng vẻ heo hút, không có nơi nào bán thịt, người lại lười, không muốn thường xuyên xuống núi mua đồ, còn chuyện tự mình đi săn, ta và người đều không có bản lĩnh đó.

(*Vọng, văn, vấn, thiết – tứ chẩn: bốn phương pháp chữa bệnh của Đông y: nhìn, nghe, hỏi, sờ.)

Ta biết nói ra thật có lỗi nhưng sư tổ thiệt uổng hoài được sư phụ gọi một tiếng ‘sư phụ’, đến cả cái đuôi gà người cũng không bắt được, ta thì càng khỏi nói, từ nhỏ đã đặt hết tâm tư vào việc học y, không nghĩ gì tới chuyện học võ, cũng không có người dạy.

Vì vậy suốt bao nhiêu năm nay ta đã quen ăn chay, không hề chạm vào thức ăn mặn, đến cả cá cũng chưa từng giết thì nói gì đến ăn.

Nhưng lão bá đánh cá đó đã xách hai con cá này chạy tới chỗ của ta từ sớm tinh mơ, rồi đứng ở bên ngoài chờ đến khi ta mở cửa hiệu, chờ thật lâu, lúc ta nhìn thấy ông ấy, chiếc áo tơi trên người còn vương đẫm sương sớm, vừa nhìn thấy ta liền toét miệng cười tươi rói, nói cái này là ông ấy đặc biệt mang đến cho ta, bất luận thế nào ta cũng phải nhận.

Mấy ngày nay, thường xuyên có người mang đồ đến cho ta như vậy, đều là những cô bác nghèo khổ đã từng đến nơi này của ta chữa bệnh, ta không nhận, bọn họ liền lén đặt ở cửa, phần lớn là rau dưa và hoa quả, những quả dưa cuống căng mọng nước phủ đầy lông tơ, rau thì lá xanh non mơn mởn còn vương cả hơi đất, vừa nhìn là biết họ tự tay trồng vừa mới được hái xuống.

Đứa bé lần trước cầu xin ta chữa bệnh cho bà nội nó cũng đã tới không biết bao nhiêu lần, lần nào cũng tíu tít bám theo dúi đồ vào người ta, ta không có cách nào từ chối. Có khi là một nắm dâu dại, vừa dúi vừa giương đôi mắt đầy tha thiết mong đợi nhìn ta: “Tỷ mau ngửi thử đi, ngửi thử đi, có phải thơm nức mũi không ạ? Cái này ngọt lắm, đệ đã ăn thử rồi, ngon ơi là ngon.”

Có khi là một bó ngải cứu thơm ngát.

“Ngải cứu có thể phòng côn trùng, bà nội đệ nói, hiệu nghiệm lắm ạ.”

(*Ngải cứu: là một vị thuốc bắc giúp chữa được nhiều loại bệnh như đau đầu, sơ cứu vết thương, trị mụn hay mẩn ngứa… ngoài ra, những món ăn chế biến từ ngải cứu cũng rất ngon và vô cùng bổ dưỡng, ngải cứu còn giúp đuổi muỗi một cách tự nhiên.)

Khiến ta ngượng ngùng đỏ cả mặt.

Xem bệnh cho bọn họ đối với ta mà nói chỉ là một việc hết đỗi nhỏ nhoi bình thường, nhưng bọn họ lại đem tất cả những gì tốt nhất mình có ra để báo đáp, điều này khiến ta cảm thấy vô cùng khó xử, từ chối thì bất kính mà nhận lấy thì hổ thẹn không thôi.

Thấy ta im thít không có phản ứng gì, mấy vị tai to mặt bự trong thành bắt đầu nổi lửa giận, âm lượng nhất loạt vặn cao hết cỡ, ta đút hai tay vào tay áo vặn qua vặn lại một hồi, nghĩ xem có nên dùng một ít thuốc để bọn họ yên tĩnh một chút không.

‘Thập nhật túy’ cũng được, nhưng nhiều người như vậy say bí tỉ rồi lăn ra ngủ trong cửa hiệu của ta, ta còn phải khiêng bọn họ ra ngoài, rất phiền phức.

Hoặc là dùng ‘Điên gia tán’, nhưng nếu tất cả bọn họ cùng nhau phát cơn điên, ta lại sợ mình không chống đỡ nổi.

(*‘Điên gia tán’ bạn nhỏ Nguyệt Nguyệt tính dùng là bột cà độc dược. Cà độc dược Atropa belladonna cho ra những bông hoa màu tím dịu dàng và những quả đen bóng rất đẹp mắt nhưng có thể  khiến người nếm thử hương vị bị ảo giác, mê man và có thể dẫn đến tử vong.

Tuy nhiên, Atropa belladonna lại có rất nhiều công dụng, có thể chiết xuất ra thuốc dành cho những bệnh nhân tim mạch, chữa bệnh Parkinson…)

Phàm là thuốc đều có ba phần độc, sư tổ cả đời chuyên tâm dốc lòng vì ‘đạo làm thuốc’, đối với độc tính và phương pháp sử dụng của các loại dược thảo đều nghiên cứu hết sức chuyên sâu, đích thân người đã sắp xếp Dược Kinh sát ngay bên cạnh Độc Kinh. Sư tổ thường nói làm thầy thuốc mà ngay cả thứ gì độc nhất trên đời cũng không biết thì làm sao có thể tìm ra phương pháp chữa trị? Thời điểm Thần Nông nếm trăm cây thuốc, còn đích thân bị trúng độc đó, ông ấy bò dậy giải độc cho mình rồi lại tiếp tục thử. Độc á độc á trúng riết thành quen, thân thể càng ngày càng cường tráng, khẩu vị càng ngày càng ăn ngon.

(*‘Đạo làm thuốc’ là một nhân thuật, có nhiệm vụ giữ gìn tính mạng cho người ta, phải lo trước cái lo của người và vui sau cái vui của mình mà không cầu danh lợi, kể công’ – Đây là lời của cụ Hải Thượng Lãn Ông.

** Thần Nông sống cách đây khoảng 5000 năm, được tôn kính như là ông tổ của y học Trung Hoa, thường được biết với tên gọi Viêm Đế – một vị thần huyền thoại. Ông được cho là từng nếm thử hàng trăm loại cây cỏ để kiểm tra các tính chất dược học của chúng và trong dân gian có câu ‘Thần Nông nếm thử trăm thứ cỏ, ngày trúng phải 72 thứ độc’.)

Ta…

Sư tổ chính là như vậy, nói một hồi lạc luôn biên ải, ta riết rồi cũng quen.

Ta phiền não chốc lát, rốt cuộc cũng không quyết định được đến cùng phải làm thế nào để bọn họ rời đi, bỗng đột nhiên ngoài cửa vang dậy tiếng ồn ào, tiếp theo sau đó lại có một tốp người lao vọt vào.

Chương 4

*Chương này có nội dung ảnh, nếu bạn không thấy nội dung chương, vui lòng bật chế độ hiện hình ảnh của trình duyệt để đọc.

Lao vọt vào là những người thường ngày hay mang đồ đến tặng cho ta, không biết là ai đưa tin mà họ tất tả chạy tới, trên vai còn đang quẩy quang gánh, không kịp đợi ta mở miệng đã lập tức xông lên bao vây nhóm thân hào và mấy ông chủ hiệu thuốc kia lại, ai nấy tranh nhau nói, tiếng ồn ào vang lên không ngớt.

“Mấy người muốn làm gì?”

“Cái gì mà quy củ không quy củ, chẳng phải mấy người sợ tiểu Nguyệt cô nương lấy hết mối làm ăn sao?”

“Người trong y quán của mấy người làm cao như thế, bọn ta đến xem bệnh đều bị đuổi đi, chẳng lẽ còn không cho người khác xem bệnh cho bọn ta ư?”

“Mà có chẩn ra bệnh rồi cũng không thể mua thuốc, dược liệu trong đơn thuốc cái nào giá cũng trên trời, ai mua cho nổi? Chẳng phải là bảo chúng ta ở nhà chờ chết sao?”

“Đi ra ngoài, đi ra ngoài, cả đám người như vậy tới đây bắt nạt một tiểu cô nương, các người có biết xấu hổ không thế?”

“…”

“…”

Đợi đến khi âm thanh trong cổ họng ta có thể miễn cưỡng thốt ra, những người kia đã bị đuổi ra ngoài.

Sau đó bọn họ quay vào nhà an ủi ta, bảo ta đừng sợ.

Quang gánh, rổ rá đựng thức ăn rau cải đều bị bỏ lăn lốc dưới đất. Một bà bà lớn tuổi nắm lấy tay ta: “Đứa nhỏ đáng thương này, bị làm cho sợ đến mức không thốt nên lời, mau đi rót cho con bé chén nước.”

Ta lật đật lắc đầu: “Con không sao, thật sự không sao đâu ạ.”

Nếu như bọn họ đã từng gặp qua sư tổ của ta, sẽ không hiểu lầm phản ứng của ta.

Nếu ai đó lớn lên cùng một trưởng bối tính tình oái oăm trái khoáy bất kể lúc nào cũng có thể ngã lăn ra đất mè nheo ăn vạ, nhất định sẽ tập thành thói quen cho dù núi Thái Sơn có đổ sụp xuống trước mắt thì mặt cũng sẽ không đổi sắc, huống chi ta cũng không cảm thấy những người tới hôm nay có chỗ nào khiến ta thấy sợ hãi.

Đó là thời điểm mà ta còn tràn ngập niềm tự tin vào bản thân, rằng cho dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ta cũng đều có thể tự bảo vệ mình.

Các thân hào và mấy ông chủ y quán lần đầu tiên đến truy vấn lại nhận lấy kết quả thảm hại như vậy, hiển nhiên không cam lòng. Qua mấy hôm sau, người của huyện nha tới, nói ta mở cửa hiệu bốc thuốc không có đến huyện nha xin phép, lệnh cho ta phải lập tức đóng cửa, đi theo bọn họ một chuyến.

Ta nghĩ ngợi thoáng chốc, bảo họ cho ta chút thời gian để ta xem xong lá thư trên tay.

Trùng hợp hôm nay là ngày Ưng nhi đến, lần đầu tiên nhận được thư của sư phụ sau khi đặt chân tới Diêm thành, trong lòng ta hân hoan vui sướng tột độ, bị bọn họ quấy nhiễu như vậy, ta giận lắm.

Mấy gã quan sai mặc đồ đen hùng hùng hổ hổ xông vào lôi ta đi: “Huyện thái gia muốn gặp ngươi, ngươi còn dám lần lữa từ chối, muốn nói cái gì thì tới quỳ ở công đường mà nói.”

Ngoài cửa rất nhiều người vây quanh, có mấy lão bá tiến lên ngăn cản, đám quan sai liền giương mày trợn mắt hung hãn quát: “Ai dám cản trở quan sai làm việc? Đưa hết lên huyện nha, y theo luật hai mươi đại bản!”

Ta sợ có người vì ta mà bị bắt, lâp tức nói: “Ta đi với các người là được.” Rồi an ủi mọi người: “Không sao đâu ạ, con chỉ đi lên huyện nha xin phép, chẳng mấy chốc sẽ về ngay.”

Vừa bước vào huyện nha, ta liền biết đây là một bữa tiệc Hồng Môn.

(*Hồng Môn Yến là một sự kiện lịch sử diễn ra vào năm 206 TCN tại Hồng Môn. Các bên tham gia chính trong bữa tiệc là Lưu Bang và Hạng Vũ, kết thúc với sự thất bại của Hạng Vũ và sự thành lập Triều đại nhà Hán với Lưu Bang là hoàng đế đầu tiên.)

Trong công đường có một nhóm người đã đứng sẵn ở đó, chính là các thân hào và mấy ông chủ y quán đã tới cửa hiệu của ta hôm trước. Huyện thái gia ngồi cao cao sau bàn xử án, thấy ta đi vào, câu đầu tiên mà tay sư gia đứng bên cạnh nói là:

“Hỗn xược, nhìn thấy huyện thái gia còn không mau quỳ xuống!”

Ta nhíu mày, không hiểu lắm ý của bọn họ.

Ngay sau đó có người tiến lên ấn ta xuống, ta lại nhíu mày, rốt cuộc không kìm được nữa.

Người nọ vừa mới chạm ngón tay vào y phục của ta, trong nháy mắt ngã vật ra đất ôm bụng cười sặc sụa. 
Những người còn lại trên công đường thấy vậy sợ ngây người, có người xông lên lôi hắn dậy, hắn vừa cười vừa tuôn nước mắt đầm đìa, còn dùng ngón tay run rẩy chỉ vào người ta, tay sư gia thét ầm lên:

“Yêu nữ dùng độc! Mau trói ả ta lại!”

Nhưng những người đến gần ta đều bị té lăn ra đất vừa khóc vừa cười khằng khặc, trong đó có cả ông chủ hiệu thuốc nung núc béo tròn lần trước, đứng giữa mớ bòng bong hỗn loạn đột nhiên ta cảm thấy ngồ ngộ, thế là bất giác nhoẻn miệng cười.

Còn đang mải phân tâm thì chiếc ống trúc đựng lá thư sư phụ gửi về trên tay bị một kẻ quơ quào điên loạn hất văng xuống đất.

Ta lo lắng ‘ối’ một tiếng, định cúi người nhặt, nhưng chiếc ống trúc đã lăn ra xa và bị người ta lấy mất.

Người nhặt ống trúc là một sai nha, hắn quay đầu lại ho tô: “Bẩm huyện thái gia…” Lúc này mới phát hiện huyện thái gia đã trốn ra sau bàn xử án, bèn khom lưng trình ống trúc lên.

Huyện thái gia hỏi: “Cái gì thế?”

Người nọ định mở ra.

Tay sư gia đứng bên cạnh hét toáng: “Cẩn thận, coi chừng bên trong là độc dược của yêu nữ.”

Ta đang định chạy tới lấy chiếc ống trúc kia lại, nghe vậy không kìm được phụt một tiếng phì cười. Người nọ hoảng sợ giật nảy mình, cái ống trúc tuột khỏi tay, nhanh như chớp lăn tới trước mặt tên sư gia, tên sư gia sợ tới mức thiếu điều tè ra quần, ba chân bốn cẳng quýnh quýu bước giật lùi ra sau.

Cảnh tượng càng lúc càng buồn cười, ta cố nén cười, lách qua đám đông bước tới trước, trong công đường tràn ngập tiếng khóc cười hỗn loạn, không còn ai dám đến gần ta, ta thuận lợi đi tới trước mặt huyện thái gia, đang tính xoay người nhặt ống trúc lên thì đã bị huyện thái gia giật mất.

“Trả lại cho ta, cái này là của ta.”

Ta giơ tay về phía hắn.

Huyện thái gia tựa như không nghe thấy ta nói gì, hai mắt nhìn trừng trừng lớp xi gắn trên ống trúc, hai cánh tay bắt đầu run bần bật.

(*Xi gắn: loại sáp chảy mềm nhanh khi nung nóng và đóng rắn nhanh khi làm lạnh dùng để niêm phong thư từ… Hiện đại gọi là con dấu sáp niêm phong.)

Tay sư gia một lòng trung trinh bò tới trước muốn bảo vệ huyện thái gia, lại bị huyện thái gia đẩy một cái té lăn quay ra đất. Ta nghe thấy giọng nói của huyện thái gia, vô cùng dè dặt cẩn trọng, hoàn toàn khác với thanh âm vang dội sấm rền trước đó.

“Phong thư này của cô nương… là từ trong quân gửi về?”
Lần nào gửi thư, sư phụ cũng dùng sáp dán kín ống trúc, rồi đóng một ấn tín nho nhỏ bên trên.

Ta gật đầu.

Ông ta lại trừng trừng quan sát cái ấn tín kia lần nữa, tiếp tục run lẩy bẩy hỏi thêm một câu, âm thanh càng hạ xuống thấp hết mức có thể: “Xin hỏi… cô nương trao đổi thư từ với ai?”

Ta cũng không giấu diếm, chỉ nói: “Sư phụ ta.”

“Sư phụ của cô nương là…”

Ta thở dài, ông ta vẫn nắm chặt ống trúc, ta không cách nào lấy lại nó từ trong lòng bàn tay ông ta, đành phải tiếp tục trả lời: “Sư phụ ta họ Từ, Từ Trì Từ Bội Thu.”

Sắc mặt huyện thái gia đột nhiên xám ngoét không còn một giọt máu tựa như bị thiên lôi giáng sét. Bên ngoài truyền tới tiếng ồn ào náo động, chính là vừa nãy có người vọt đi xin cứu viện, trong nháy mắt đã có một tốp quan sai ùn ùn kéo đến, người nào người nấy vung đao múa gậy hùng hổ xông vào, đồng thời hét lớn.  

“Yêu nữ đâu!”

Ta ngớ người sửng sốt, huyện thái gia còn kích động hơn cả ta, thoăn thoắt bò ra khỏi gầm bàn xử án, đầu đụng côm cốp cũng không mảy may quan tâm, đập kinh đường mộc hét to: “Cút hết ra ngoài cho ta, phải rồi, lôi luôn mấy tên nằm dưới đất kia ra.”

(*Kinh đường mộc: là khối gỗ cứng hình chữ nhật các quan viên ngày xưa hay dùng đập bàn khi xử án trên công đường.)

Những người còn lại trong công đường đứng đực ra chưng hửng, chỉa vào ta: “Còn yêu nữ này…”

Huyện thái gia giận tím mặt: “Yêu nữ ở đâu hả? Còn nói năng bừa bãi lập tức lôi ra ngoài đánh năm mươi đại bản.”

Ông ấy như vậy khiến ta rất ngượng ngùng, vội đi qua giải trừ tình trạng khóc cười điên loạn cho những người đang nằm lăn lộn trên mặt đất, còn dặn dò bọn họ: “Mọi người hãy uống nhiều nước, đừng nói chuyện, nghỉ ngơi một lát sẽ khỏi ngay.”

Huyện thái gia đổi xoạch hoàn toàn thành một người khác, sau khi đuổi hết đám sai nha ra ngoài, không ngừng xin lỗi… xin lỗi ta, bảo rằng chuyện trước đó đều do bọn thủ hạ bị mấy kẻ xảo quyệt trong thành xúi giục làm càn, chỉ là một sự hiểu lầm, bảo ta đừng để trong lòng.

 Ta ngơ ngác: “Ta đến để xin phép hành nghề chữa bệnh, không phải nói nếu ta không đến nha môn xin phép thì không được mở y quán sao?”

Huyện thái gia lập tức nói: “Cô nương là đồ đệ của Từ tướng quân, có thể ở đây bốc thuốc chữa bệnh cho mọi người là niềm vinh hạnh của bổn thành, chúng ta giơ tay đón chào còn không kịp, về phần xin phép, để lát nữa ta cho thủ hạ đi lo liệu là được, cô nương không cần phải bận tâm.”

Ta gật đầu: “Vậy ta đi về.”

Huyện thái gia lại cười tươi rói: “Tiểu Nguyệt cô nương hôm nay đã bị hoảng sợ, tối nay hạ quan mở tiệc ở lầu Túy Bạch, trước là chào mừng cô nương mở y quán ở bổn thành, sau là để tạ lỗi, rất mong cô nương hạ cố đến dự.”  

Ta lắc đầu: “Không cần đâu ạ, buổi tối ta còn phải viết thư hồi âm cho sư phụ.”

Huyện thái gia nghe xong những lời này người lại thấp thêm một khúc: “Phải phải phải, viết thư hồi âm cho Từ tướng quân quan trọng hơn, chỉ là hôm nay trên công đường hạ quan có nhiều mạo phạm, hết thảy chỉ là do hiểu lầm, cô nương ngàn vạn lần đừng để trong lòng…”

Ta đáp: “Chuyện nhỏ như vậy ta sẽ không viết vào thư đâu.”

Dường như ông ta thở phào một hơi nhẹ nhõm, kéo tay áo lên lau mồ hôi đầm đìa trên trán, sau đó vô cùng khách khí đưa ta ra cửa huyện nha.

Ta nhất mực từ chối đề nghị cho người chuẩn bị kiệu đưa ta về của huyện thái gia, một mình chậm rãi đi về cửa hiệu nhỏ của mình. Con ngõ nhỏ hẹp dài tĩnh lặng, ta bước đi bước đi, rốt cuộc không kìm được, giơ ống trúc lên, đặt ở bên môi, hôn khẽ một cái.

P/s: Truyện này qua tết mình mới có thời gian làm, mọi người chờ được nhiều rồi hẳn đọc nghen.

Kinh đường mộc

kinh đường mộc

Chương 5

Tối đó, dưới ánh đèn, ta đặt bút viết cho sư phụ một lá thư thật dài, tường tận kể lại cho người nghe cuộc sống ở Diêm thành trong khoảng thời gian này, về những người những việc mà ta đã gặp trong lúc hành nghề y. Đã rất lâu rồi ta và sư phụ không có thư đi tin lại, vừa đặt bút liền cảm thấy biết bao lời không thể nói hết, ngọn đèn dầu chập chờn leo lét, dải lụa mỏng mỗi lúc một dài, rốt cùng đến cả Ưng nhi cũng bất mãn bay đến trên bàn dùng móng vuốt giẫm giẫm lên thư của ta, ra vẻ kháng nghị.

Ta ‘ối’ một tiếng, vội vàng gấp dải lụa mỏng lại, sợ móng vuốt sắc bén của Ưng nhi sẽ làm xước lá thư, miệng thì giải thích với nó: “Đây là lụa mỏng được dệt từ tơ tằm, nhẹ lắm, cuộn lại chỉ còn bé xíu, không nặng một chút nào. Mày lợi hại như vậy mà đến một cuộn lụa nho nhỏ cũng không mang đi được, cẩn thận coi chừng bị mấy con chim truyền tin khác nó cười.”

Nó nghe vậy càng bất mãn không thôi, vỗ hai cánh phành phạch, còn dùng mỏ mổ lên vai ta, sức lực được khống chế rất tốt, ngay cả áo cũng không bị thủng, chỉ là làm cho ta giật nảy mình.

Ta đành phải cất lá thư còn đang viết dang dở đi, định bụng sẽ ngủ một lát rồi thức dậy viết tiếp.

Mới vừa ngả đầu xuống gối chưa được bao lâu, bên ngoài đột nhiên vang lên tiếng gõ cửa dồn dập, ta mở mắt thấy trời còn chưa hửng sáng liền lật đật đứng dậy đi ra mở cửa, nghĩ thầm có lẽ có người bị bệnh nguy cấp đến tìm.

Cửa vừa mở ra, quả nhiên nhìn thấy những khuôn mặt đầy hớt hải lo lắng, bọn họ có cả thảy ba người, hai ông bà lão và một cô nương, cô nương kia đã không thể đi lại, được ông lão cõng trên lưng, rên rỉ từng cơn đau đớn.

Hai ông bà lão chừng như đã chạy một quãng đường rất xa, trán túa đầy mồ hôi, hơi thở đứt quãng, nhìn thấy ta môi mấp máy, bao nhiêu lời muốn nói nhưng không thốt ra được chữ nào.

Ta bảo họ mau vào trong, cửa hiệu có kê một chiếc giường đơn sơ dành cho người đến khám bệnh. Bệnh nhân kia được đỡ nằm xuống, là một cô nương tuổi chừng mười mấy, cũng xấp xỉ tuổi của ta, ngũ quan vốn thanh tú xinh đẹp, nhưng trên người nổi chi chít mẩn đỏ, khiến người ta nhất thời không dám nhìn.

Hai ông bà lão vừa bước vào cửa liền quỳ sụp xuống đất: “Thần y ơi, xin hãy cứu con gái của ta, cứu con gái của ta.”

Ta vội vàng đỡ họ dậy rồi đi lấy y cụ, một lát sau mới biết bọn họ vốn là người sống ở Lý gia thôn bên ngoài thành. Cô gái bị mắc bệnh hung hiểm, đã chạy chữa ở nhiều thầy lang xa gần nhưng bệnh tình vẫn không thuyên giảm, thậm chí họ còn đi đến miếu thỉnh bà cốt, nhưng bà cốt cũng bất lực đầu hàng, sau đó nghe người ta tán thưởng y thuật của ta, trời còn chưa hửng sáng đã vội vã vào thành tìm đến đây.  

(*Bà cốt – theo mê tín: là người đàn bà làm nghề ma ám, lên đồng. Có khả năng đặc biệt, có thể cho thần linh, ma quỷ, hồn người đã chết mượn thể xác (xương cốt) của mình trong chốc lát, qua đó nói các linh hồn này có thể phán bảo, giao tiếp với người đang sống.)    

Nghe thấy bọn họ gọi mình là thần y, trong lòng ta vô cùng kích động, nhủ thầm giá sư tổ có mặt ở đây thì tốt biết mấy, thể nào ta cũng sẽ yêu cầu người xác nhận phải chăng ta đã có đủ năng lực để đi tìm sư phụ hay không. Nhưng ý nghĩ này cũng chỉ vụt lóe lên trong tíc tắc đã lập tức tan biến, trước mặt là bệnh tật hiểm nghèo, ta không khỏi tập trung toàn bộ tinh thần.

Trong quá trình kiểm tra, ta phát hiện bệnh tình của cô nương Lý gia không mấy khả quan, vội vàng hỏi bọn họ triệu chứng bệnh bắt đầu phát khi nào? Hai ông bà lão nói mấy hôm trước trời nóng bức, trong thôn bắt đầu có người bị nổi sởi, ban đầu mọi người đều cho rằng không có gì lớn, bất quá chỉ là rôm sảy do nắng nóng, chỉ cần tắm rửa sạch sẽ bằng nước giếng rồi dùng khăn ẩm đắp lên, uống chút đồ uống có tính hàn là khỏi. Không ngờ sau đó bệnh bắt đầu lan ra khắp thôn, rất nhiều người mắc phải, con gái của bọn họ hiện tại hít thở khó khăn, đến cả nước cũng không thể uống được nữa.

Ta kinh hãi: “Sao ạ? Đã có rất nhiều người bị mắc bệnh này rồi sao?”

Các nếp nhăn trên mặt ông lão như xoắn lại với nhau: “Đúng vậy, có mấy đứa nhỏ cũng bị, chịu không nổi đi rồi, đứa nhỏ nhất kia mới có một tuổi.”Bà lão liền bật khóc, nước mắt tuôn dài: “Thần y, xin ngài hãy cứu con gái của ta, mấy năm trước Đại Ngưu nhà ta đã ra chiến trận, một lần đi không hẹn ngày trở về, chúng ta chỉ còn lại đứa con gái Kim Hoa này, ngài nhất định phải cứu lấy nó.”

Trong lòng ta đã hơi lo lắng sốt ruột, triệu chứng này xem ra đích thị là bệnh dịch, còn là loại có khả năng gây chết người. Ngay cả ta cũng không chắc có thể cứu được nàng ấy hay không, nếu lan rộng sẽ càng nguy hiểm hơn, người trong thành đều có nguy cơ bị lây nhiễm.

Ta nghĩ ngợi một thoáng, quyết định thật nhanh: “Đại nương, ngài vào bếp nấu ít nước, khi nào sôi mang vào cho con, con có việc cần dùng. Đại thúc, chúng ta không thể ở lại trong thành, con sẽ đi theo hai người trở về thôn. Con đi bốc một ít thuốc cho Kim Hoa uống trước, chờ con thu dọn cửa hiệu xong chúng ta sẽ lập tức đi ngay. Còn nữa ạ, lúc nãy khi người đến, có dừng chân nghỉ ở nơi nào khác không, có để ai tiếp xúc với Kim Hoa cô nương không ạ? Nếu có, xin người nhất định phải nói cho con biết, con sẽ nhờ người mang sang cho họ một ít thuốc.”

Hai ông bà lão nghe ta nói vậy, càng sợ hãi hơn, đang định nói gì đó, ta đã bắt tay vào chuẩn bị dược liệu đồng thời an ủi một câu: “Hai người đừng sợ, con sẽ đi cùng với hai người, đại nương, phòng bếp ở bên tay trái đó ạ.”

Chờ nước sôi réo vang lên, ta đã đắp xong thuốc cho Kim Hoa, sau đó đổ thuốc bột vào nước sôi, mang chăn đệm nàng ấy đã tiếp xúc ra ngâm, rồi vẩy thuốc nước khắp nhà.

Ta lại lấy một loại bột thuốc khác hòa vào nước, tự mình uống một phần rồi đưa cho hai ông bà lão uống, lúc này mới lên tiếng:

“Đại thúc đại thẩm, có thể đi được rồi, chúng ta hãy nhanh chóng trở về thôn đi ạ, con muốn xem những người khác thế nào.”

Đang nói, ngoài cửa bỗng vang lên tiếng ồn ào, ta còn chưa kịp quay đầu lại, cửa đã bị người ta đẩy ra, nhóm sai nha xông vào, ai nấy như lâm đại địch, cả người trùm kín kẽ không một khe hở, ngay cả khuôn mặt cũng được trùm bằng vải bố. 
“Ở đây rồi, mau, mau lôi bọn họ ra ngoài!”

Trong lúc ta còn đang ngây người, mấy tay sai nha kia đã vọt vào lôi một nhà ba người của ông bà lão ra khỏi cửa, ném lên xe ván gỗ đang dựng bên ngoài.

“Các người làm gì vậy?” Ta bị chặn ở bên trong, chỉ kịp hỏi một câu này.

Tay dẫn đầu đám sai nha bị vải bố che mặt, ánh mắt lia qua khe hở nhỏ nhìn ta, nói mù mờ không rõ: “Tiểu Nguyệt cô nương, Lý gia thôn bên ngoài thành ôn dịch lan tràn, Huyện thái gia hạ lệnh phong tỏa thôn, mấy người này lọt lưới trốn chạy vào thành, phải lập tức đưa bọn họ về.”

Ta bị một đám người níu tay giữ chặt trong phòng, còn đang định nói chuyện thì chiếc xe ván gỗ ngoài cửa đã bị phủ vải bạt vẩy nước vôi đi thẳng một mạch, người kéo xe giục ngựa như bị ma đuổi, cả người trùm kín mít chỉ lộ ra đôi mắt, miệng không ngừng hét lớn, yêu cầu người dân hai bên đường đóng chặt cửa lớn cửa sổ, ai dám ló mặt ra sẽ bị đưa đi hết.  

Sau khi chiếc xe ván gỗ khuất dạng, mấy tay công sai còn lại thở phào nhẹ nhõm, viên đầu lĩnh hướng về phía ta chắp tay: “Tiểu Nguyệt cô nương, đắc tội, tình hình bệnh dịch dữ dội như mãnh hổ, hôm nay đã mạo phạm nhiều, xin cô nương thứ tội.” 

Ta biết dịch bệnh lan tràn nghiêm trọng, nhưng vẫn có phần không kìm được, lên tiếng hỏi: “Vậy sao không lôi ta ra ngoài chung với mọi người?”

Tay sai nha kia liền nở nụ cười: “Sao dám làm kinh động Tiểu Nguyệt cô nương? Cô nương là bậc diệu thủ hồi xuân Hoa Đà tái thế, nhất định sẽ không bị lây nhiễm bệnh dịch, nói không phải phép còn muốn thỉnh cầu cô nương ban cho ít thuốc hay, chiếu cố giùm các huynh đệ.”

Những lời anh ta nói tuy khách sáo lễ độ, nhưng ý tứ trong đó ta hiểu được, dịch bệnh ập đến, người người cảm thấy bất an tránh như tránh tà, nếu không phải trên dưới huyện nha biết sư phụ ta là ai thì hiện tại ta đã bị ném lên xe ván gỗ tống khỏi thành.

Ta ngẫm nghĩ một lúc, đem phần thuốc bột phòng dịch còn lại pha vào trong một chiếc chậu lớn rồi lấy cái chén nhỏ đưa qua bảo bọn họ uống. Những người đó đa số ánh mắt lộ ra vẻ chần chừ, nhưng tay đầu lĩnh kia lại không chút do dự, bưng chén lên ngửa đầu uống ‘ực’ một hơi, động tác vô cùng nhanh nhẹn dứt khoát, đến nỗi quên mất trên mặt mình còn đang quấn tầng tầng vải bố. Sau khi để cái chén xuống, phần vải trắng nơi miệng ngấm màu nâu của thuốc, nhìn qua giống hệt một con sâu lông to béo kỳ dị.     

Ta nhất thời không kìm được phì cười.

Hắn ngây ra nhìn ta, ta liền làm mặt lạnh nói với hắn: “Nhìn cái gì?”

Hắn gãi gãi đầu không trả lời, tháo tấm vải trùm trên mặt xuống, quay lại lớn giọng nói với những người khác: “Còn không mau uống thuốc! Không muốn sống nữa hả?”

Ta bất chợt nhìn thấy toàn bộ khuôn mặt của hắn, thì ra là một tiểu tử mày rậm mắt to, đôi con ngươi đen láy sinh động, khóe miệng cong cong, ngay cả lúc xụ mặt cũng giống hệt đang cười.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương sau