LIÊN THÀNH QUYẾT

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Liên thành quyết - Chương 36 - Chương 40

Chương 36: Dời tuyệt cốc về thăm cố thổ

Chàng toan len lén lảng ra xa, bỗng nghe hai người rảo bước đi tới.

Một người nói:

– Ông bạn từ bên này xục tới, tại hạ qua bên kia tìm lại, chúng ta đi thành vòng tròn rồi quanh về đây.

Người kia đáp:

– Phải rồi! Chỗ này vết chân hỗn độn, không chừng tiểu ác tăng còn ẩn ở quanh đây.

Người nói trước vừa cười vừa hạ thấp giọng xuống:

– Này lão Tống! Thủy cô nương đẹp như hoa tươi, tên tiểu ác tăng trong vòng nửa năm nay được hưởng diễm phúc không phải là nhỏ.

Người kia cười ha hả đáp:

– Đúng thế! Chẳng trách họ Uông cam tâm tình nguyện để đầu mọc sừng.

Hai người vừa nói vừa cười rồi chia ngã đi lùng Địch Vân.

Hai người đó dĩ nhiên không biết Uông Khiếu Phong và Thủy Sanh còn ở lại trong động chưa bỏ đi, mới nói những điều thô tục này chẳng úy kỵ gì. Ngờ đâu những câu đó lọt vào tai Uông Khiêu Phong và Thủy Sanh.

Địch Vân ngồi gần sơn động dĩ nhiên cũng nghe rõ, rất lấy làm khó chịu cho Thủy Sanh và Uông Khiếu Phong, chàng tự hỏi:

– Hoa Thiết Cán thật là độc ác, lão bịa những chuyện vô sỉ để bội nhọ Thủy cô nương thì lão được lợi gì?

Chàng ngửng đầu nhìn vào trong động thấy Thủy Sanh lùi lại hai bước, sắc mặt lợt lạt người run bần bật, nàng khẽ la:

– Biểu ca! Biểu ca đừng nghe những lời nói nhăng nói càn của họ.

Uông Khiếu Phong không đáp, da mặt gã co lại duỗi ra, hiển nhiên mấy câu nói của hai người vừa rồi khác nào rắn độc cắn vào trái tim gã.

Nửa năm nay Uông Khiếu Phong chờ đợi ở bên ngoài tuyết cốc, đêm cũng như ngày gã nghĩ thầm:

– Biểu muội lọt vào tay hai tên dâm tăng thì khi nào còn giữ được thanh bạch? Ta chỉ cầu nàng không tổn hại gì đến tính mạng là tạ Ơn trời phật rồi.

Nhưng lòng người khổ ở chỗ bất tri túc, trước kia gã nghĩ vậy nhưng bây giờ thấy mặt Thủy Sanh lại mong nàng giữ tuyết sạch giá trong. Vừa nghe hai người kia nói vậy, gã than thầm:

– Bạn hữu giang hồ đều biết vụ này, Uông Khiếu Phong đường đường một đấng trượng phu, há để người đời xỉ tiếu?

Nhưng nhìn thấy nét mặt đau khổ của Thủy Sanh, lòng gã lại nhũn ra, gã thở dài lắc đầu nói:

– Biểu muội! Chúng ta đi thôi.

Thủy Sanh hỏi:

– Biểu ca có tin lời họ không?

Uông Khiếu Phong đáp:

– Những câu chuyện rỗi mồm của người ngoài, mình hỏi đến làm gì?

Thủy Sanh cắn răng hỏi:

– Sao? Biểu ca tin lời họ ư?

Uông Khiếu Phong thẫn thờ hồi lâu mới đáp:

– Được rồi! Ta không tin lời họ là xong.

Thủy Sanh nói:

– Nhưng trong lòng đại ca yên trí những lời ô ngôn uế ngữ ngậm máu phun người của họ đều đúng sự thực.

Nàng dừng lại một chút rồi tiếp:

– Từ này biểu ca bất tất nhìn mặt tiểu muội nữa, tiểu muội chịu chết trong hang núi tuyết này là xong.

Uông Khiếu Phong hững hờ đáp:

– Bất tất phải như vậy!

Thủy Sanh trong lòng đau khổ, giọt châu tầm tã như mưa, nàng chỉ mong mau rời khỏi hang núi, cách xa bọn người đông đảo này, chạy đến một nơi không ai biết mình vĩnh viễn khỏi phải nhìn mặt lũ vô sĩ. Nàng liền cất bước ra ngoài.

Khi tới cửa, Thủy Sanh không nhịn được quay lại nhìn sơn động một lần.

Nửa năm nay, ngày đêm nàng an thân trong góc động, tuy nó chẳng có một thứ dụng cụ gì, nhưng nàng tính ưa sạch sẽ, lại thủ nghệ tinh xảo đã lấy da cây chế tạo đồ vật và kết thành chiếu nằm, ghế ngồi. Lúc này phải từ giã nơi đây, nàng đối với những sự vật bầu bạn nửa năm trời không khỏi sinh lòng quyến luyến.

Nàng lại ngó thấy tâm áo lông chim mà nàng đã chế tạo cho Địch Vân, bất giác động tâm tự nhủ:

– Bọn người kia mồm năm miệng mười kêu y bằng dâm tăng mà người nào cũng làm khó dễ y. Nếu chúng tìm thấy thì một mình y địch sao nổi? Vụ này biết tính thế nào đây?

Nàng dứng bước xoay mình cầm tấm áo lông lên, trong dạ bàng hoàng xao xuyến.

Uông Khiếu Phong ngó thấy tấm áo lông bỏ ở bên chiếu nằm của Thủy Sanh mà lại là tấm áo vừa rộng vừa dài, có vẻ để đàn ông mặc. Trong lòng rất đổi hoài nghi, gã hỏi:

– Áo gì thế này?

Thủy Sanh đáp:

– Tiểu muội chế ra đó.

Uông Khiếu Phong cất tiếng lạnh như băng hỏi:

– Áo của biểu muội ư?

Thủy Sanh toan đáp:

– Không phải của tiểu muội.

Nhưng nàng nhận ra nói vậy không ổn, ngần ngừ không đáp.

Uông Khiếu Phong lại hoi:

– Có phải áo đàn ông không?

Thanh âm gã lại đầy vẻ chua chát.

Thủy Sanh gật đầu.

Uông Khiếu Phong lại hỏi:

– Biểu muội may áo cho hắn ư?

Thủy Sanh lại gật đầu.

Uông Khiếu Phong cầm lấy tấm áo lông coi kỹ một lúc rồi nói:

– Chế tạo tấm áo này hay quá!

Thủy Sanh đáp:

– Biểu ca! Biểu ca đừng nghĩ ngợi hồ đồ là y cùng tiểu muội...

Nàng thấy khóe mắt của Uông Khiếu Phong lộ ra những tia khác lạ, nên khói nói nữa.

Uông Khiếu Phong cầm tấm áo lông liệng xuống chiếu nằm của nàng nói:

– Hừ! Áo của gã mà lại để... trên giường của biểu muội...

Thủy Sanh lòng lạnh như băng tuyết, nàng cảm thấy người biểu ca trước nay vẫn ôn nhu đại lượng, đột nhiên biến thành con người thô tục đáng chán, nàng không muốn giải thích nhiều, nhủ thầm trong bụng:

– Y đã ngờ vực ta để ta chịu nổi oan khuất, thì ta cũng chẳng cần y lượng giải làm gì.

Địch Vân ngồi trong bụi cỏ ngoài động thấy Thủy Sanh mắc tiếng oan, mặt nàng rất đổi thê lương, chàng rất lấy làm khó chịu nghĩ thầm:

– Địch Vân này từng chịu oan khuất đã nhiều thì chẳng có gì đáng kể, nhưng Thủy cô nương là một thiếu nữ băng thanh ngọc khiết sao lại để nàng chịu nổi oan khiên khôn bề giải tỏ?

Chàng nghĩ tới đây, bất giác nổi lòng nghĩa phẫn, tuy chàng biết ngoài động có đến mấy chục hào kiệt Trung Nguyên đang xục tìm chàng giết đi mới cam lòng, nhưng chàng không thể suy tính gì được nữa, chàng đứng phắt dậy tiến vào sơn động nói:

– Uông Khiếu Phong! Thiếu hiệp có ý nghĩ hoàn toàn sai lầm.

Uông Khiếu Phong và Thủy Sanh thấy Địch Vân đột nhiên sấn vào động đều giật mình kinh hãi.

Hiện nay tóc chàng đã mọc dài không giống bộ dạng một tiểu hòa thượng trọc đầu nữa.

Uông Khiếu Phong định thần nhìn lại mới nhận ra Địch Vân, gã rút trường kiếm khỏi vỏ đánh "Soạt" một tiếng, tay trái đẩy Thủy Sanh lui ra hai bước, gã đặt thanh kiếm nằm ngang trước ngực để trấn tĩnh tinh thần.

Địch Vân lại nói:

– Tại hạ không phải đến đấy để động thủ với Uông thiếu hiệp, tại hạ chỉ muốn nói Thủy cô nương là người băng thanh ngọc khiết. Thiếu hiệp lấy được cô làm vợ là phước khí tày đình, đừng nghĩ vớ vẩn nữa.

Thủy Sanh không ngờ Địch Vân lại nhảy ra lúc này chẳng sợ nguy hiểm để chứng minh sự thanh bạch cho nàng, lòng nàng vô cùng cảm kích, nhưng lại rất đỗi lo âu. Nàng vội giục:– Địch... Địch huynh chạy mau đi, rất nhiều người đang xục tìm Địch huynh để hạ sát, chỗ này nguy hiểm vô cùng!

Địch Vân đáp:

– Tại hạ biết rồi, nhưng tại hạ chẳng thể không nói rõ ho Uông thiếu hiệp hay, để cô phải chịu oan uổng, Uông thiếu hiệp! Thủy cô nương là người rất xứng đáng, thiếu hiệp... thiếu hiệp không nên nghi oan cho cô ta.

Chàng vốn là người ăn nói vụng về, ngay chuyện tầm thường muốn giải thích cho rõ còn khó khăn, huống chi việc vi diệu này, chàng nói đến bảy, tám câu cũng không tiêu giải được mối nghi ngờ trong lòng Uông Khiếu Phong.

Thủy Sanh lại giục:

– Địch huynh... chạy mau đi! Đa tạ lòn tốt của Địch huynh, kiếp sau tiểu muội xin báo đáp, chạy mau đi! chạy mau đi! Người ta sắp giết Địch huynh đó...

Uông Khiếu Phong nghe giọng Thủy Sanh tỏ ra rất quan hoài đến Địch Vân, lòng ghen tức nổi lên, gã quát lớn:

– Coi kiếm đây!

Gã phóng kiếm đâm Địch Vân đánh véo một tiếng.

Chiêu kiếm này tuy lợi hại, nhưng hiện nay thân thủ Địch Vân nào phải hạng tầm thường, chàng lại kiêm tu Thần Chiếu Công và Huyết Đao Pháp cùng những môn sở trường về võ học tuyệt đỉnh của phe chính tà, ngay Đinh Điển và Huyết Đao Lão Tổ phục sinh vị chi đã địch nổi chàng, chiêu kiếm của Uông Khiếu Phong phóng tới, chàng chỉ khẽ nghiêng mình là tránh khỏi.

Địch Vân nhắc lại:

– Tại hạ không muốn động thủ mà chỉ bảo thiếu hiệp lấy được Thủy cô nương là hay lắm, đừng nghi gì cổ nữa... cổ là một vị cô nương tốt.

Lúc chàng đang nói, Uông Khiếu Phong bên tả phóng hai kiếm, bên hữu ba kiếm, liên tiếp đâm luôn năm nhát.

Địch Vân vẫn thản nhiên như không có chuyện gì, chàng rất lấy làm kỳ tự hỏi:

– Bản lãnh gã này trước kia rất cao minh, mới nửa năm chưa gặp mặt mà sao kiếm pháp bữa nay lại vụng về đến thế?

Chàng có biết đâu chẳng phải là kiếm pháp của Uông Khiếu Phong thoái bộ, mà võ công chàng tiến quá mau, bản lãnh Uông Khiếu Phong bất quá chỉ vào hạng nhì hạng ba trong võ lâm, còn chàng đã kiêm thông những môn sở trường của hai phe chánh tà, ngoại trừ kinh nghiệm lâm địch chàng chưa lịch duyệt, chiêu thức luyện tập chưa thuần thục, còn về võ học chàng đã trở thành một nhân vật tuyệt đỉnh hạng nhất trong võ lâm.

Uông Khiếu Phong đâm chàng mãi không trúng, chiêu kiếm nào cũng bị né tránh một cách dễ dàng, gã càng phẫn nộ, càng ra chiêu mau lẹ.

Địch Vân nhấn mạnh:

– Uông thiếu hiệp! Thiếu hiệp ưng thuận hết lòng ngờ vực về sự thanh bạch của Thủy cô nương là tại hạ lập tức đi ngay, bạn bè của thiếu hiệp đều muốn giết tại hạ, tại hạ không thể chần chờ được nữa.

Chàng vừa nói vừa né tránh, hoàn toàn không coi kiếm chiêu của Uông Khiếu Phong vào đâu.

Kiếm pháp của Uông Khiếu Phong càng đánh càng lẹ, khinh công của Địch Vân chưa đến trình độ xuất thần nhập hóa mà cứ né tránh hoài thì có thể xảy ra ứng phó không kịp. Chàng liền bật đầu ngón tay một cái.

Keng! Một tiếng vang lên, ngón tay giữa bật trúng lưỡi kiếm.

Uông Khiếu Phong thấy hổ khẩu đau nhói, tay cầm không chắc trường kiếm tuột mất rớt xuống đất, gã vội cúi xuống lượm.

Địch Vân tay đập vào vai gã, phát chưởng này chàng chưa vận dụng đại lực mà Uông Khiếu Phong đã không chống nổi, người gã lộn đi mấy vòng rồi đập vào vách động đánh "Binh" một tiếng.

Thủy Sanh vốn lòng dạ thiện lương, huống chi nàng đã giao hảo với biểu ca từ thủa nhỏ, thấy gã bị té thảm, vội chạy lại nâng đỡ.

Địch Vân ngơ ngác đứng ngẩn người, chàng không ngờ mình mới khẽ đẩy một cái đã làm cho Uông Khiếu Phong té nhào, chàng chỉ muốn cản trở không cho gã lượm kiếm đánh mình nữa, dè đâu chưởng lực của chàng đụng vào Uông Kiều Phong chẳng khác người lớn hất ngã đứa con nít.

Chàng liền tiến lại một bước nói:

– Xin lỗi thiếu hiệp, chẳng phải tại hạ có ý như vậy.

Thủy Sanh dắt tay Uông Khiếu Phong miệng hỏi:

– Biểu ca! Biểu ca có sao không?

Uông Khiếu Phong vừa ghen vừa tức không nhẫn nại được gã lại nhận định Thủy Sanh thiên về Địch Vân, hai người liên thủ đánh ngã gã rồi chế diễu gã, gã vung tay trái đánh Thủy Sanh một cái bạt tai thật mạnh, miệng lớn tiếng quát:

– Cút đi!

Thủy Sanh giật mình kinh hãi, nàng không ngờ biểu ca lại ra tay đánh mình, đưa tay lên sờ má đứng ngẩn người ra.

Địch Vân tức giận hỏi:

– Người ta tử tế với ngươi, sao ngươi còn đánh đập?

Bỗng nghe ngoài sơn động có tiếng bước chân lạo xạo, mấy người la lên:

– Trong động có tiếng gây lộn, chúng ta mau vào coi. Phải chăng tiểu ác tăng ẩn trong đó?

Thủy Sanh lại giục Địch Vân:

– Địch huynh chạy mau đi! Chạy mau đi! Tiểu muội... tiểu muội... đa tạ hảo ý của Địch huynh.

Địch Vân nhìn Uông Khiếu Phong, lại ngó Thủy Sanh nói:

– Được rồi! Tại hạ đi đây!

Chàng trở gót đi về phía cửa động.

Uông Khiếu Phong đột nhiên lớn tiếng la:

– Tiểu dâm tăng ở trong này! Tiểu dâm tăng ở trong này! Mau bít cửa động lại, đừng để gã chạy thoát.
Thủy Sanh vội hỏi:

– Biểu ca! Biểu ca làm thế chẳng là hại người ư?

Uông Khiếu Phong càng hô lớn:

– Mau bít cửa động lại! Mau bít cửa động lại!

Bảy, tám hán tử ở ngoài động nghe Uông Khiếu Phong hô hoán liền chạy đến đứng chắn cửa động không để Địch Vân chạy thoát.

Địch Vân bước lẹ tới, một người quát:

– Chạy đâu cho thoát?

Hắn vung đao chém xuống đầu chàng.

Địch Vân đưa tay ra đẩy trước ngực đối phương, người kia lập tức bị hất ngửa về phía sau, đụng vào người bên cạnh, thế là cả ba bốn tên cùng té nhào.

Bọn chúng quát tháo chửi bới om xòm, Địch Vân rảo bước ra khỏi cửa động.

Quần hào nghe tiếng huyên náo từ bốn mặt tám phương đổ đến thì Địch Vân đã chạy ra xa rồi.

Bảy, tám tay cao thủ hối hả rượt theo, Địch Vân không muốn đánh nhau với họ, liền ẩn vào trong bụi cỏ rậm. Bóng đêm tối mò không ai tìm thấy chàng.

Quần hào cho là Địch Vân chạy trốn ra ngoài hang núi liền lật đật rượt theo.

Địch Vân thấy Uông Khiếu Phong và Thủy Sanh đi sau cùng, hai người mỗi lúc một xa, nhưng lại theo ngã khác tiến bước. Bóng hai người chỉ trong chớp mắt đã biến vào trong bóng đêm.

Trong tuyết cốc lúc trước nhốn nhau một hồi, bây giờ trở yên lặng như tờ.

Quần hào Trung Nguyên đi rồi, Hoa Thiết Cán đi rồi, Thủy Sanh đi rồi. Chỉ còn lại một mình Địch Vân, chàng ngẩng đầu lên nhìn thì cả những con chim ưng đêm tối thường bay quyện trên không, nay cũng không thấy chúng đâu.

Thật là tịch mịch! Thật là hiu quạnh!

Địch Vân lưu lại trong tuyết cốc nữa tháng để luyện cho thật thuần thục đao pháp và nội công trong Huyết Đao Kinh, không thể nào quên được nữa, chàng đem Huyết Đao Kinh đốt thành than tản lên trên một Huyết Đao Lão Tổ.

Địch Vân tự nhủ:

– Ta cũng đi thôi! Hừ! Tấm áo lông này chẳng đem theo làm gì, bao giờ xong việc, ta sẽ trở lại tuyết cốc không ai lần tới này, ẩn cư cho mãn đời, người thế gian lòng dạ thâm hiểm ta không thể đối phó được.

Thế rồi chàng ra khỏi hang núi nhằm hướng đông mà tiến.

Việc đầu tiên của chàng là trở về tòa nhà cũ của sư phụ Thích Trường Phát ở Ma Khê Phố, chàng muốn biết tình hình của sư phụ thế nao?

Địch Vân được sư phụ nuôi dưỡng từ thủa nhỏ cho đến khi khôn lớn và lão là người thân nhân duy nhất của chàng trên cõi đời này. Tuy tâm tình chàng hiện nay đối với sư phụ khách hồi còn nhỏ, nhưng chàng cũng muốn coi cho biết rõ ngọn ngành.

Từ biên giới Tây Tạng đi tới Tương Tây phải vượt qua Tứ Xuyên, Địch Vân nghĩ tới chuyện nếu gặp quần hào Trung Nguyên tất không tránh khỏi một trường tranh đấu, giữa chàng và bọn họ vốn chẳng có thù oán gì, đầu mối mọi việc hoàn toàn do cái đầu trọc gây ra rồi đi tới sự hiểu lầm, chàng tự nhủ:

– Hà tất ta cùng họ chiến đấu một cách vô vị? Huống chi đối phương người nhiều, mà ta ở vào thế kém.

Chàng liền thay đổi cách ăn mặc, lại lấy nhọ nồi và cục than bôi mặt cho đen đi, hóa trang làm một tên khất cái dơ dáy.

Dọc đường tiến về phía Đông, thỉnh thoảng Địch Vân chạm trán nhân vật giang hồ, nhưng chẳng ai nhận ra chân tướng chàng.

Địch Vân đi liền hơn hai chục ngày mới về tới chốn cũ ở Ma Khê Phố.

Hồi này đang thời kỳ khí trời nóng nảy, nhưng ở nơi điền dã cũng được mát mẻ, Địch Vân gần tới ngôi nhà cũ trong lòng rất xúc động, mặt chàng nóng bừng, trái tim bắt đầu đập nhộn lên.

Địch Vân đi trên con đường sơn lộ quen thuộc hồi nhỏ tuổi thẳng đến trước cửa, chàng dương mắt nhìn vào bất giác giật mình kinh hãi, cơ hồ không tin ở thị tuyến của mình.

Nguyên ba gian nhà nhỏ cạnh gốc liễu bên lạch nước đã thành một tòa nhà lớn tường trắng ngói đen, tòa nhà này rộng lớn ít ra là gấp ba lần cái nhà nhỏ ngày trước. Chàng liếc mắt nhìn vào nhận thấy không có vẻ gì tinh xảo, lại ra chiều dựng lên một cách vội vã, mặc dầu khí thế rất hùng vĩ.

Địch Vân vừa kinh ngạc vừa mừng thầm, chàng nhìn kỹ lại cảnh vật xung quanh thì đúng là chỗ ở của sư phụ ngày trước, bất giác miệng lẩm bẩm:

– Sư phụ ta đã phát tài trở về quê quán, nếu vậy càng hay!

Chàng lớn tiếng hô:

– Sư phụ!

Nhưng chỉ hô một tiếng rồi dừng lại, nghĩ thầm:

– Ta ăn mặc như tên tiểu khiếu hóa mà sư phụ ngó thấy e rằng lão nhân gia không được vui lòng, để ta coi động tĩnh rồi sẽ tính.

Chàng còn đang ngấm nghía thì thấy một người ở trong nhà lớn đi ra, người này nghếch mắt dòm ngó Địch Vân lộ vẻ khinh khi hỏi:

– Ngươi làm gì vậy?

Địch Vân thấy hắn đội mũ lệch, đầy mình cát bụi, không cân xứng với tòa nhà đồ sộ, bộ tịch hắn có vẻ là người làm ăn, thợ thuyền, chàng cất tiếng hỏi lại:

– Xin hỏi chú một câu:

Thích sư phụ có ở nhà không?

Người kia hắng đặng đáp:

– Ở đây chẳng có Thất sư phụ, Bát sư phụ nào hết.

Địch Vân sửng sốt hỏi:

– Có phải chủ nhân ở đây họ Thích không?

Người kia hỏi lại:

– Ngươi hỏi câu đó làm gì? ngươi đi ăn xin chứ có phải đi kết bạn đâu?

Không có, không có họ Thất họ Bát nào cả. Tiểu khiếu hóa! Ngươi đi đi! Cút đi cho lẹ.

Địch Vân tưởng nhớ sư phụ đã lặn lội đường xa ngàn dặm về tới đây, khi nào nghe hắn nói một câu mà chịu bỏ đi, chàng liền nói:

– Tiểu nhân không phải xin cơm chỉ muốn hỏi thăm một điều, ngày trước có một vị họ Thích ở đây, không hiểu hiện giờ lão nhân gia còn ở trong nhà này nữa không?

Người kia cười lạt đáp:

– Thằng nhỏ này mới thật là kỳ! Ta đã bảo chủ nhân không phải họ Thích, cũng không phải họ Thất, họ Bát, họ Cửu, họ Thập gì hết, mời ông nội đi cho.

Hai người đang đối đáp thì lại một người nữa ở trong nhà đi ra, người này đầu đội mũ hình trái dưa, quần áo diêm dúa, ra vẻ một tên quản gia cho một tài chủ, y hỏi:

– Lão Bình! chuyện gì mà lớn tiếng? Lại gây lộn với ai rồi?

Người kêu bằng lão Bình cười đáp:

– Cao gia coi đó, tên tiểu khiếu hóa này rắc rối không? Gã xin ăn thì cứ việc xin ăn, lại còn hỏi thăm chủ nhân chúng ta họ gì?

Quản gia nghe nói hơi biến sắc, y ngắm nhìn Địch Vân một lúc rồi hỏi:

– Ngươi hỏi danh tánh của chủ nhân chúng ta làm gì?

Nếu vào lúc năm, sáu năm về trước thì Địch Vân đã nói huỵch toẹt ra rồi, nhưng hiện nay chàng đã có phần lịch duyệt, biết rõ lòng người hiểm ác, chàng thấy khóe mắt quản gia lộ vẻ nghi kỵ, liền động tâm nghĩ thầm:

– Ta không nên nói thật vội, để thủng thẳng dò la rồi sẽ liệu, không chừng trong vụ này có điều chi cổ quái.

Chàng liền đáp:

– Tiểu nhân hỏi thăm họ của chủ nhân là để hô lão nhân gia bố thí cho ít cơm ăn, phải chăng các ha..... là chủ nhân lão gia?

Chàng cố ý làm bộ ngu ngốc, ngẩn ngơ để đối phương khỏi sinh lòng nghi hoặc.

Quản gia cười khanh khách, lão thấy tên tiểu khiếu hóa này tuy ngớ ngẩn, nhưng ngộ nhận y là chủ nhân lão gia, trong lòng cũng lấy làm thích thú, liền cười đáp:

– Ta không phải là chủ nhân lão gia, này tiểu tử! Sao ngươi lại tưởng ta là lão gia?

Địch Vân ấp úng đáp:

– Coi tướng các ha..... rất bệ vê..... rất oai phong... ra vẻ một tài chủ.

Cao quản gia thích chí cười nói:

– Gã ngốc kia! Nếu sau này ta làm tài chủ, ngươi sẽ có phận nhờ.

Chương 37: Lão khất cái chính là ngôn đạt bình

Quản gia lại hỏi:

– Này! Bạn nhỏ kia! Ta coi ngươi thân tráng lực cường sao không chịu làm ăn mà phải đi xin?

Địch Vâm đáp:

– Không ai mướn tiểu nhân làm cả, tài chủ lão gia, lão gia cho tiểu nhân một bữa cơm được chăng?

Quản gia vỗ vai tên họ Bình cười nói:

– Lão nghe đó, gã một điều kêu ta bằng tài chủ lão gia, hai điều kêu ta bằng tài chủ lão gia, không thưởng cho gã một bữa không xong rồi, lão bảo gã vào gánh đất rồi cho gã một phần tiền công.

Tên họ Bình đáp:

– Đúng thế! Cao gia dạy thế là phải.

Địch Vân nghe khẩu âm hai người nhận ra tên cái thợ họ Bình người ở ngay Trương Tây bản địa, còn lão gia họ Cao là người ở phương Bắc, nhưng chàng không lộ vẻ gì, kính cẩn nói:

– Tài chủ lão gia! Tài chủ thiếu gia! Tiểu nhân xin đa tạ hai vị.

Người cai vừa cười vừa thóa mạ:

– Con mẹ nó! Thằng lỏi này chỉ nói nhăng nói càn.

Cao quản gia lại cười hỏi:

– Ta là tài chủ lão gia, ngươi ta tài chủ thiếu gia, như vậy chẳng tiện nghi cho ngươi ư?

Tên cai véo tai Địch Vân cười nói:

– Vào đi, vào đi! Ngươi hãy ăn một bữa no, đến tối hãy làm công.

Địch Vân không kháng cự gì hết liền theo họ Bình vào nhà, chàng tự hỏi:

– Sao lại đến đêm mới làm công?

Khi vào hậu viện phải xuyên qua một tòa nhà khiến chàng giật mình kinh hãi, vì chàng thấy hiện trạng rất kỳ quái, giữa căn nhà này đào một cái huyệt thật lớn rất sâu, bốn cạnh huyệt cơ hồ liền với vách nhà, chỉ để hở một lối nhỏ hẹp.

Trong huyệt bỏ đầy thuổng cuốc, thúng mủng, đòn gánh, toàn là dụng cụ đào đất, hiển nhiên công việc đào huyệt còn đang tiếp tục. Đứng ngoài coi tòa nhà hùng vĩ đường hoàng, ai ngờ trong nhà lại đào một cái huyệt lớn.

Tên cai dặn:

– Công việc trong này không được nói ra bên ngoài, ngươi đã hiểu chưa?

Địch Vân đáp:

– Dạ dạ! Tiểu nhân đã hiểu rồi! Nơi đây phong thủy đẹp, chủ nhân lão gia muốn làm phần mộ thì cho người ngoài biết thế nào được?

Tên cai thợ cười khành khạch nói:

– Phải đấy! Thằng ngốc này thế mà thông minh, ngươi hãy theo ta đi ăn cơm.

Địch Vân xuống nhà bếp ăn no một bữa.

Tên cai thợ bão gã ngồi chờ ở mái hiên, đừng có chạy loạn lên.

Địch Vân vâng lời nhưng trong lòng càng thêm ngờ vực.

Chàng thấy cách trần thiết trong nhà hủ lậu, trong bếp cũng không xây chỗ thổi nấu mà chỉ làm một cái bếp lò lớn, xanh chảo, bàn ghế đều là những đồ dùng của nhà nghèo nàn, không đi đôi với tòa nhà lớn.

Vào lúc xế chiều, số người đến mỗi lúc một đông, đều là hương dân tuổi trẻ sức mạnh, ở gần đó, bọn họ ăn cơm uống rượu nhốn nháo cả lên.

Địch Vân ngồi ăn với họ, chàng lại nói tiếng thổ âm nơi đây rất sõi, nên quản gia và cái thợ chẳng nghi ngờ gì cả, họ cho chàng là một thanh niên du thủ, muốn ăn không muốn làm.

Ăn cơm xong, người cai thợ họ Bình dẫn nhân công vào trong nhà đại sảnh rồi bảo họ:

– Các anh em hết sức đào huyệt, đồng thời thử xem đêm nay ai hên vận, nếu đào được vật gì hữu dụng sẽ có trọng thượng.

Mọi người vâng lời tiến hành công việc, những tiếng thuổng cuốc đào đất sậm sột vang lên.

Một người nhà quê khá lớn tuổi khẽ nói:

– Đào hơn hai tháng nay mà chả được cái đếch gì hết, dù nơi đây có bảo bối cũng còn tùy thuộc ở phúc khí có lọt vào tay được hay không?

Địch Vân nghe nói tự hỏi:

– Té ra họ tìm bao vật, nơi đây có bảo vật gì?

Chàng chờ cho tên cai thợ xoay lưng cất bước, mới từ từ đến bên người lớn tuổi kia khẽ hỏi:

– Đại thúc! Người ta tìm bảo vật gì vậy?

Người kia khẽ đáp:

– Chưa biết bảo vật là cái gì, chủ nhân nơi đây còn trông vào phước khí, lão không phải người bản địa, lão ở xa ngó thấy hào quang bốc lên, biết là dưới đất có bảo vật rồi đến mua khu đất này, nhưng sợ hành động lộ ra ngoài nên phải làm tòa nhà lớn này che đi, rồi kêu bọn ta đến bảo ban đêm làm việc đào bảo vật, còn ban ngày ở nhà ngủ.

Địch Vân gật đầu hỏi:

– Té ra là thế! Đại thúc có phong thanh là bảo bối gì không?

Người kia đáp:

– Theo lời bác cai thì dường như là một tụ bảo bồn, bỏ một đồng tiên vào chậu để qua một bên, sáng hôm sau sẽ biến thành đầy chậu tiền, đặt một lạng vàng vào chậu, sáng mai sẽ biến thành đầy chậu hoàng kim, ngươi tính có phải bảo vật không?

Địch Vân gật đầu lia lịa đáp:

– Đúng là bảo vật! Đúng là bảo vật!

Người kia lại nói:

– Bác cai đặc biệt dặn bảo phải hạ thuổng cuốc thật nhẹ cho khỏi bể bảo vật, đó không phải là chuyện chơi. Y còn nói đào được bảo vật rồi có thể cho chúng ta mỗi người sử dụng một đêm, ai muốn bỏ gì vào cũng được, chú nhỏ! Chú định bỏ gì vào?

Địch Vân ngẫm nghĩ một chút rồi đáp:

– Tiểu nhân thường đói bụng không có cơm ăn, sẻ bỏ một hạt gạo để sáng mai có một chậu đầy bạch mễ là tốt lắm rồi.

Người kia cười khanh khách nói:

– Hay lắm! Hay lắm!

Tên cai thợ nghe tiếng cười liền tiến lại quát:

– Đừng làm mất thì giờ, đào lẹ lên! Đào lẹ lên!

Địch Vân bụng bảo dạ:

– Trên đời làm gì có tụ bảo bồn? Lão chủ nhân nhà này chẳng phải hạng ngu ngốc thì nhất định có mưu kế nào khác, bịa chuyện tìm tụ bảo bồn để lừa gạt mọi người.

Chàng lại hỏi khẽ:

– Chủ nhân ở đây họ gì? Đại thúc bảo lão nhân gia không phải người bản địa ư?

Người kia đáp:

– Ngươi coi kìa! Chủ nhân đã ra đó.

Địch Vân nhìn theo nhãn quang lão thì thấy một người từ hậu đường đi ra, người này thân hình ốm nhắt, cặp mắt lấp loáng ánh thần quang, lối ngoài năm chục tuổi, y phục cực kỳ hoa lệ.

Địch Vân vừa ngó thấy lão đả trống ngực đánh thình thình quay đi chỗ khác, không dám nhìn lâu, chàng không ngớt tự hỏi:

– Lão này ta đã gặp ở đâu? Lão này ta đã gặp ở đâu? Lão là ai?

Chàng thấy tướng mạo rất quen, nhưng trong lúc nhất thời không nhớ ra được là đã gặp ở đâu.

Bỗng nghe chủ nhân lên tiếng:

– Đêm nay anh em lại đào mặt đông sâu xuống ba thước, bất luận gặp giấy rách, mẫu gỗ, mảnh sành, mảng gạch nhất thiết đừng bỏ đi và giữ lấy đưa cho ta.

Địch Vân nghe đến thanh âm, trong lòng run lên chàng tỉnh ngộ lẩm bẩm:

– Đúng rồi! Té ra là lão.

Nguyên chủ nhân tòa nhà lớn này chính là lão Khất Cái mà chàng đã gặp ở nhà Vạn Chấn Sơn tại Kinh Châu. Lão còn dạy chàng kiếm pháp.

Ngày ấy lão ăn mặc rách rưới, đầu tóc bù xù, toàn thân dơ dáy, nhưng bữa nay lão là một đại tài chủ, y phục rất hoa lệ, toàn thân biến đổi, nên Địch Vân nghe thanh âm của lão mới nhận ra được.

Địch Vân muốn ở dưới huyệt nhảy lên để nhìn nhận lão, nhưng mấy năm nay chàng bị tai nạn đau khổ đã nhiều, khiến chàng gặp việc gì cũng thận trọng không dám nóng nẩy lỗ mãng.

Chàng nghĩ thầm:

– Lão khất cái bá bá này ngày trước đối xử với ta rất tử tế, năm ấy ta đấu với tên đại đão Lữ Thông đã thất bại, nhờ lão ra tay giải cứu. Sau lão lại dạy ba chiêu kiếm pháp tinh diệu mới thắng được bọn đệ tử ở Vạn Môn, bây giờ ta nghĩ lại ba chiêu kiếm pháp đó cũng tầm thường chẳng lấy gì làm kỳ, nhưng khi ấy nó giúp cho ta khỏi bị nhục nhã.

Rồi chàng tự nhủ:

– Bữa nay trùng hội, đáng lý ta phải tạ Ơn lão một phen, nhưng nơi đây là chỗ cũ của sư phụ, mà lão lại đến khai quật tìm tòi vật gì? Tại sao lão phải xây tòa nhà lớn để che mắt mọi người? trước lão là một người khất cái, sao nay lại giàu có đến thế?Trong lòng ngấm ngầm quyết định chủ ý:

– Để ta coi cho biết rồi sẽ tính, lão là ân nhân của ta nhưng việc bái tạ hà tất phải vội vàng trong lúc nhất thời, sao lão không sợ sư phụ ta trở về? Chẳng lẽ...

chẳng lẽ... sư phụ ta chết rồi chăng?

Chàng nghĩ tới đây, bất giác vàng mắt đỏ hoe, vì chàng vốn coi sư phụ như phụ thân.

Đột nhiên ở góc đông nam có tiếng kịch khẽ vang lên, một người hương dân đụng đầu thuổng vào vật gì.

Lão chủ nhân liền nhảy vào huyệt cúi xuống lượm lên.

Bao nhiêu thợ đều dừng lại, liếc mắt nhìn thì thấy trong tay lão cầm một cái đanh sắt rỉ, mặt đầy vẻ thất vọng, lão xoay xở ngắm nghía cái đanh một lúc rồi bỏ xuống một bên, giục:

– Động thủ đi thôi! Đào cho lẹ! Đào cho lẹ!

Địch Vân cùng bọn hương dân đào huyệt suốt đêm, chủ nhân đứng bên ngoài giám sát để hết tinh thần chú ý mọi sự cho đến lúc trời sáng mới thu công.

Phần đông hương dân giải tán về nhà, chỉ có bảy tám người ở xa quá nên giải chiếu nằm ngủ trên hành lang phía đông toàn nhà lớn.

Địch Vân cũng ngủ ở hành lang.

Chàng ngủ cho tới chiều mới cùng mọi người dậy ăn cơm.

Người chàng dơ dáy không ai muốn đến gần, lúc ăn cũng như lúc ngủ họ đều tránh xa, Địch Vân chỉ mong vậy.

Những năm gần đây tuy chàng học được tính cẩn thận, không dám tin người một cách khinh xuất, nhưng việc cải trang, giả dối, chàng vẫn cảm thấy khó chịu, chỉ sợ lâu ngày hành tung sẽ bại lộ, không ai đến gần là hay lắm.

Ăn cơm xong Địch Vân đi vào thôn xóm cách đó chừng ba dặm để hỏi dò xem sư phụ đã về đây hay chưa? Chàng ngó thấy từ đằng xa mấy người bạn chơi hồi còn nhỏ tuổi, nay đã thành người lớn cả rồi.

Ở nơi điền dã công việc bận rộn, Địch Vân không muốn tiết lộ thân phận nên không chạy lại hô hoán, chàng đi kiếm một thằng nhỏ chừng, tuổi để hỏi về tình hình tòa nhà lớn kia thì gã cho biết:

Tòa nhà này mới được dựng lên vào mùa thu năm ngoái, chủ nhà rất giàu có, đến đây để đào tụ bồn nhưng đào đến nay vẫn chưa thấy gì.

Gã thiếu niên vừa nói vừa cười, tỏ ra câu chuyện đào báu vật chỉ là trò chơi.

Gã còn nói:

– Nguyên trước chỗ đó có căn nhà nhỏ, nhưng lâu ngày không người trú ngụ, cũng chẳng thấy ai trở về. Khi dựng nhà lớn lên, dĩ nhiên dỡ căn nhà nhỏ đi.

Địch Vân từ biệt gã thiếu niên, trong lòng buồn bã lại đầy mối hoài nghi mà không sao đoán ra được công việc cao thâm khôn lường của lão khất cái, lão hành động này với dụng ý gì?

Chàng thả bước nơi điền dã đã đi qua một khu vườn rau giống toàn không tâm thái.

Những tiếng hô "Không Tâm Thái! Không Tâm Thái" lại văng lên tron đầu chàng.

Không Tâm Thái là một món rau tầm thường nhất ở Trương Tây, thứ rau này trồng rất mau, nhánh nó không ruột. Sư muội chàng là Thích Phương dùng nó để đặt tước hiệu cho chàng, ngụ ý cười chàng là con người thẳng như ruột ngựa, chẳng có tâm sự gì.

Địch Vân sau khi rời đất Trương Tây hết bị giam trong nhà ngục ở Kinh Châu, lại bị hãm trong tuyết cốc gần Tây Tạng, mãi đến nay chàng mới lại ngó thấy không tâm thái. Chàng đứng nhìn vườn rau ngơ ngẩn xuất thần, sau chàng cúi xuống tỉa một cây rồi từ từ đi về phía tây.

Phía tây toàn là hoang sơn, đá mọc lởm chởm, cả những thứ sơn trà cũng không nảy được.

Trong dẫy hoang sơn mé tây có một sơn động chưa ai biết tới, mà lại là một nơi trước kia chàng cùng Thích Phương thường tới đó chơi đùa.

Chàng nghĩ tới cảnh hoan lạc ngày trước liền đi về phía sơn động, chàng vượt qua hai sườn núi, chuồn qua một cái sơn động lớn, đi tới trước sơn động bí ẩn hoang lương.

Nay cửa động bị cỏ mọc cao đến ngang vai lấp kín, trong lòng buồn bã, Địch Vân chui vào trong hang động thấy mọi vật chàng cùng Thích Phương bỏ lại ngày trước vẫn còn y nguyên, không ai động tới.

Thích Phương lấy đất dẻo nặn hình người, chàng dùng cây kim bắn chim, làm bẫy bắt thỏ rừng, Thích Phương lúc thả trâu thường thổi ống địch, những cái đó vẫn còn bỏ trong thạch động.

Bên kia Thích Phương để một cái giỏ kim chỉ, ngày trước nàng thường vào sơn động ngồi bên chàng làm đế giầy, có khi thêu cả mũi giầy, dao kéo trong giỏ đều đã nổi rỉ vàng khè.

Địch Vân tiện tay cầm một cuốn sách trong giỏ kim chỉ ra, cuốn sách này Thích Phương dùng để làm mẫu thêu hoa.

Trong đầu óc chàng hiện lên những hình ảnh năm trước, những ngày mùa đông nhàn hạ, chàng thường ở trong sơn động này nhổ cỏ đan giầy, hoặc đan giỏ tre, Thích Phương ngồi bên chàng làm giầy. Nàng lấy những mảnh vải vụn đệm vào đế giầy rồi dùng kim khâu may lại, những giầy của chàng và của sư phụ trên mặt bằng vài xanh, mặt giầy của Thích Phương có khi thêu bông hoa, có khi thêu con chim. Những đôi giầy thêu chỉ những ngày tết mới dùng tới, còn ngày thường nàng cũng đi giầy vài xanh, khi xuống ruộng trồng trọt thì đi chân không.

Địch Vân tiện tay lật cuốn sách lấy ra một tờ giấy coi, tờ giấy này cắt hình một con bướm, Thích Phương dùng làm mẫu thêu giầy.

Địch Vân lại cảm thấy bao nhiêu hình ảnh ngày trước hiện lên tròng đầu óc:

Đôi bướm lớn, một con vàng một con đen bay tới cửa động, lúc ở bên này lúc ở bên kia, nhưng thủy chung hai con vẫn không chia lìa.

Thích Phương la lên:

– Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài!

Nguyên một giải Trương Tây, người ta kêu loại bướm lớn nhiều màu sắc bằng "Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài" vì loại bướm này đi đôi nhất định một con đực một con cái.

Địch Vân đang ngồi đan giầy, đôi bướm bay đến bên, chàng câm chiếc giầy đan dở đập một cái, một con bướm chết ngay.

Thích Phương "Ối" lên một tiếng, nàng tức giận hỏi:

– Sư huynh!.... sư huynh làm gì vậy?

Địch Vân thấy nàng nổi giận, bất giác chân tay luống cuống, chàng ấp úng đáp:

– Sư muội thích... thích chơi bướm, để tiểu huynh... bắt cho mấy con.

Lúc ấy con bướm chết nhào xuống đất không cử động nữa, Còn con sống vẫn bay quyện xung quanh con chết.
Thích Phương nói:

– Sư huynh coi đó, một cặp vợ chồng đang vui vẻ với nhau mà suy huynh làm chúng phải chia lì, thật là ác nghiệt!

Địch Vân thấy nàng buồn rười rượi, trong lòng rất áy náy, đành xin lỗi:

– Hỡi ơi! Đúng là tiểu huynh có điều không phải.

Sau Thích Phương cắt giầy theo hình con bướm chết để làm mẫu thêu vào mũi giầy của nàng.

Đến ngày tết, Thích Phương may cho Địch Vân một cái túi, mặt túi cũng thêu hình con bướm này, cánh nó màu vàng pha lẫn màu đen. Bên mình có chút màu đỏ, màu xanh, cái túi này chàng vẫn đeo luôn trong mình, nhưng khi chàng bị bắt giam vào ngục ở Kinh Châu rồi bị ngục tốt lấy mất.

Địch Vân tay cầm con bướm giấy, tai tựa hồ nghe văng vẳng tiếng Thích Phương la gọi:

– Sư huynh coi đó, một cặp vợ chồng đang vui vẻ với nhau mà sư huynh làm cho chúng phải chia lìa, thật là ác nghiệt!

Chàng ngẩn người ra hồi lâu rồi lại kẹp tờ giấy hình con bướm vào trong cuốn sách, tiện tay chàng lật xuống dưới thấy trong sách còn có nhiều hình bằng giấy đỏ, tỷ như hình con cá chép, ba con sơn dương. Những hình này làm hoa dán cửa sổ vào dịp tết cũng đều do Thích Phương cắt.

Địch Vân đang tiếp tục lật coi, bỗng nghe ngoài xa mấy chục trượng có tiếng lao xao vang lên, hiển nhiên có người đang đi tới.

Chàng tự hỏi:

– Nơi đây trước nay không có người nào đến, hay là dã thú?

Chàng liền nhét cuốn sách vào bọc.

Bỗng nghe tiếng người nói:

– Nơi đây rất đỗi hoang lương, chắc là không có.

Lại nghe tiếng khàn khàn của lão già cất lên:

– Hừ! Càng hoang vắng càng khiến cho người ta đem bảo vật đến cất dấu, chúng ta tìm kỹ nơi đây đi!

Địch Vân tự hỏi:

– Sao họ lại đến đây tìm bảo vật?

Chàng vội lạng mình ra khỏi sơn động, ẩn vào sau một gốc cây lớn.

Chẳng bao lâu có người đi tới, nghe tiếng bước chân đến bảy tám người, Địch Vân ngoảnh đầu trông ra thấy người đi trước y phục hoa lệ, đầu tóc bóng mượt, mặt mũi trắng trẻo, tướng mạo rất quen. Tiếp theo là một người tay cầm cấy thiết sạn, người này thân thể cao lớn, khí vũ hiên ngang.

Địch Vân vừa ngó thấy bất giác lửa giận bốc lên ngùn ngụt, chàng muốn xông ra đập chết gã ngay.

Nguyên người này chính là Vạn Khuê, gã đã đoạt sư muội của Địch Vân, lập mưu đưa chàng vào ngục, khiến chàng phải chịu trăm cay ngàn đắng.

Vạn Khuê đến đây làm gì?

Gã đi bên Vạn Khuê nhỏ tuổi hơn một chút, chính là tiểu sư đệ Thẩm Thành ở Vạn Môn.

Hai gã đi qua rồi, phía sau cũng toàn là đệ tử Vạn Môn đủ mặt, Lỗ Khôn, Tôn Quân, Bốc Viên, Ngô Khảm, Phùng Thản.

Vạn Môn có tám tên đệ tử, nhị đệ tử Chu Kỳ đã đã bị Địch Vân giết chết ở trong khu vườn hoang tại Kinh Châu, hiện giờ còn bảy tên.

Địch Vân rất lấy làm kỳ tự hỏi:

– Bọn này đến đây tìm bảo bối gì?

Bỗng nghe Thẩm Thành la gọi:

– Sư phụ! Sư phụ! Chỗ này có sơn động.

Thanh âm lão già lại hỏi:

– Thế ư?

Giọng nói lộ vẻ vui mừng.

Kế đó một người cao lớn đi tới, chính là Ngũ Vân Thủ Vạn Chấn Sơn.

Địch Vân lâu ngày không gặp, nay thấy lão tinh thần quắc thước, bộ lý trầm ổn, chẳng có vẻ gì già nua chút nào.

Lão rảo bước tiến vào sơn động, tiếp theo trong động có thanh âm mọi người vọng ra ngoài.

Một người nói:

– Nơi đây có người ở.

Người khác nói:

Tro bụi tích lại đấy đến thế này tức là lâu năm không ai tới.

Người kia cãi:

– Không phải! Không phải! Ngươi coi kìa! Chỗ này có vết chân mới.

Người khác nói:

– Ủa! Trong này còn vết bàn tay mới, quả có người vào đây chưa lâu.

Một người nữa nói:

– Nhất định là Ngôn sư thúc, lão... lão đến đây lấy cắp Liên Thành Quyết đem đi.

Địch Vân vừa kinh ngạc vừa bật cười, tự hỏi:

– Bọn họ kiếm Liên Thành Quyết ư? Vụ này xảy ra đã lâu rồi mà họ vẫn không tìm thấy ư? Ngôn sư thúc nào? Sư phụ đã nói người có nhị sư huynh tên gọi Ngôn Đạt Bình thất tung lâu ngày không được tin tức gì, e rằng không còn ở nhân thế nữa, sao bây giờ lão lại chường mặt ra đoạt Liên Thành Quyết? Hiển nhiên vết chân vết tay là do ta để lại, khiến bọn này nghi thần nghi quỉ, thật đáng tức cười.

Lại nghe Vạn Chấn Sơn hô:

– Các ngươi đừng làm ồn ào, hãy tĩnh tâm tìm khắp nơi coi.

Rồi tiếng người hỏi:

– Ngôn sư thúc đã tới đây, khi nào lại không lấy đem đi?

Một người khác đáp:

– Thích Trường Phát tâm kế sâu xa, lão có đem kiếm quyết cất dấu ở đây, người ngoài cũng khó mà tìm thấy được.

Lại người nữa nói:

– Dĩ nhiên lão tâm kế sâu xa, không thì đã chẳng mang ngoại hiệu là Thiết Tỏa Hành Giang.

Lại nghe mọi người nhốn nháo xục tìm trong sơn động.

Trong động vốn chẳng có gì, mọi người lục lọi loạn xạ cũng chỉ thấy mấy thứ đồ vặt cũ nát bỏ đó.

Tiếp theo là tiếng cuốc xẻng đào đất vang lên, nhưng đáy động toàn đá rắn không đào xuống được.

Vạn Chấn Sơn nói:

– Nơi đây chẳng có gì để lại hết, chúng ta ra tìm bên ngoài coi.

Mọi người theo sự phụ đến bên một lạch nước nhỏ ở phía xa xa ngồi xuống tảng đá núi.

Địch Vân không muốn để bọn họ phát giác nên không tới gần.

Bọn tám người bàn chuyện nói nhỏ, nên chàng không nghe rõ.

Sau một lúc, tám người đứng dậy ra đi.

Địch Vân nghĩ thầm:

– Bọn họ bảo đến kiêm Liên Thành Quyết, hiện giờ họ chưa tìm thấy và ngờ cho Ngôn sư thúc nào đó lấy cắp đem đi rồi, chỗ ở cũ của sư phụ ta đã biến thành một tòa đại hạ. Lão cái lại nói là muốn tìm kiếm tụ bảo bồn gì đó... À! Phải rồi!

Phải rồi!

Một tia sáng lóe lên trong đầu, chàng tỉnh ngộ nghĩ thầm:

– Lão khất cái kia nói là tìm kiếm tụ bảo bồn mà thực ra là tìm Liên Thành Quyết, lão nhận định kiếm quyết đó lọt vào tay sư phụ ta, nhưng để che tai mắt mọi người, lão dựng lên tòa nhà nón và phao tin tìm kiếm tụ bảo bồn để bịp bọn nông dân ngu dốt.

Chương 38: Cuộc chiến giữa Ngôn Đạt Bình và Vạn Chấn Sơn

Địch Vân lại nghĩ tiếp:

– Ngày ấy Vạn sư thúc mở tiệc thọ Ở Kinh Châu, lão khất cái ngày đêm quanh quẩn dòm dỏ, hiển nhiên có chỗ dụng tâm, Ồ! Thầy trò Vạn Chấn Sơn tìm không thấy kiếm quyết, khi nào chẳng đến tòa nhà lớn tra xét? Không chừng bọn họ đến đây lâu rồi và đã tra xét từ trước. Vụ này hiển nhiên chưa kết thúc, ta về tòa nhà kia để coi náo nhiệt, Trong vụ này nhất định có điều ngoắt ngoéo, nhất định có điều ngoắt ngoéo.

Chàng tự hỏi:

– Còn sư phụ ta thì sao? Lão nhân gia đi đâu? Chỗ ở cũ của lão nhân gia bị người đến quấy nhiễu tựa trời long đất lỡ, chẳng hiểu lão nhân gia có biết không?

Lại sư muội ta nữa. Phải chăng nàng ở lại thành Kinh châu yên hưởng hạnh phúc của một vị thiếu nhưng nhưng? Những người ở Vạn Gia đến xục tìm trong nhà phụ thân nàng chắc họ không cho nàng hay, hiện giờ nàng đang làm gì?

Đến tối, trong đại ốc bốn mặt tường vách ánh lửa lập lòe, mười mấy người hương dân lại lấy thuổng cuốc đào đất.

Địch Vân cũng trà trộn vào đám này, chàng đã chẳng ra sức đặc biệt, mà cũng không lơ là, cứ làm vừa phải để người ta không chú ý đến mình là tốt rồi.

Đầu tóc chàng rối bù, râu không cạo, quá nửa mặt bị tóc tai che lấp, chàng lại bôi nhọ không lộ một chút bản tướng nào.

Trong khi mọi người đào đất ở mặt Bắc, lão cái vẫn tay chắp để sau lưng đi lui đi tới ở bên thổ huyệt.

Dĩ nhiên hiện nay lão hoàn toàn không giống lão khất cái, y phục rất hoa lệ tay trái đeo nhẫn bích ngọc, đai lưng cũng có viên hán ngọc rất lớn.

Đột nhiên Địch Vân nghe bên ngoài có tiếng bước chân lén lút đi tới, cả bốn mặt, Đông, Nam, Tây Bắc đều có người, nhưng người này còn ở đằng xa nên lão cái hiển nhiên chưa phát giác.

Địch Vân nghiêng mình liếc mắt dòm lã cái, lại nghe tiếng bước chân chậm chạp tới gần, chàng lẩm bẩm:

– Năm người... Sáu ngươi... bảy người... tám người, phải rồi đúng là Vạn Chấn sơn và bảy tên đệ tử.

Lão cái vẫn chưa phát giác mà tai Địch Vân đã nghe rõ mồn một tựa hồ ngay ở bên cạnh, chàng tưởng chừng lão cái tai điếc.

Năm năm trước Địch Vân kính trọng lão như vị thần linh, lão chỉ dạy chàng có ba chiêu kiếm pháp mà đánh cho tám tên đệ tử ở Vạn Môn đến tơi bời hoa lá, không còn đường đỡ gạt.

Chàng tự hỏi:

– Sao bây giờ võ công của lão cái lại sa sút đến thế? Chẳng lẽ không phải lão? Ta nhận lầm rồi chăng? Không có lý, quyết chẳng thể lầm được.

Địch Vân không nghĩ tới bản lãnh chàng hiện nay đã tiến bộ đến trình độ cao thâm tuyệt đỉnh, chàng có thể nghe rõ thanh âm mà người bên cạnh tuyệt không nghe thấy gì hết.

Tám người kia đi tới mỗi lúc một gần, Địch Vân rất lấy làm kỳ tự hỏi:

– Bọn này thật đáng tức cười, ta đã nghe rõ rồi mà họ còn rón rén cất bước, dấu đầu hở đuôi làm gì?

Tám người kia lại gần thêm mấy chục trượng, đột nhiên người lão cái run lên, lão lắng tai nghe động tịnh.

Địch Vân lẩm bẩm:

– Bây giờ lão mới nghe thấy, phải chăng lão bị bệnh điếc tai?

Thực ra lúc này tám người ki còn cách khá xa, vài năm trước đây Địch Vân ở trong trường hợp này cũng chưa phát giác được. Họ đến gần hơn nữa, chàng cũng không nghe tiếng bước chân.

Tám người kia càng đến gần càng thận trọng, chỉ đi mấy bước lại dừng chân một lần, hiển nhiên họ đề phòng người trong nhà phát giác nhưng lão cái đã biết rồi, lão xoay mình bước lại cầm lấy cây gậy dựng ở góc nhà.

Đây là một cây gậy bằng gỗ khá lớn một đầu chạm rồng.

Địch Vân tự hỏi:

– Lão dùng cây gậy này làm binh khí chăng?

Đột nhiên tám người kia đồng thời bước mau tiến vào bao vây bốn mặt.

Binh một tiếng vang lên, cửa lớn bị đẩy ra, Vạn Khuê xông xông vào trước tiếp theo là bọn Thẩm Thành, Bốc Viên...

Bảy người vừa bước qua cửa lớn đã tay cầm trường kiếm vây quanh lão cái.

Lão cái cười khanh khách nói:

– Hay lắm! Các chú đến cả rồi, Vạn sư ca! Sao sư ca không vào đi?

Lại nghe ngoài cửa có tiếng cười rộ, một người thủng thẳng bước vào chính là Ngũ Vân Thủ Vạn Chấn Sơn.

Lão cùng lão cái đứng cách nhau một cái huyệt hai người nhìn nhau một lúc, Vạn Chấn Sơn cất tiếng hỏi:

– Ngôn sư đệ! Năm năm nay không gặp nhau sư đệ phát tài chứ?

Mấy câu này lọt vào tai Địch Vân khiến đầu óc chàng hỗn loạn, tự hỏi:

– Sao? Lão cái này là... nhị sư bá Ngôn Đạt Bình ư?

Lại nghe lão cái đáp:

– Sư ca! Tiểu đệ có kiếm được chút đỉnh, còn sư ca năm nay làm ăn cũng phát đạt lắm phải không?

Vạn Chấn Sơn nói:

– Nhờ trời cũng khá.

Lão quay lại bảo bọn đệ tử:

– Này! Sao các ngươi còn chưa bái kiến sư thúc?

Bọn Lỗ Khôn liền quì xuống miệng hô:

– Bọn đệ tử xin khấu đầu bái kiến sư thúc.

Lão cái cười đáp:

– Thôi đi! Thôi đi tay cầm đao kiếm, dập đầu rất là bất tiện, miễn quách đi cho rồi.

Địch Vân nghĩ thầm:

– Nếu vậy lão cái quả là Ngôn sư bá, không còn nghi ngờ gì nữa.

Vạn Chấn Sơn hỏi móc:

– Sư đệ! Phải chăng sư đệ khai mỏ than ở chỗ này? Làm gì mà đào cái huyệt lớn thế?

Ngôn Đạt Bình cười khành khạch đáp:

– Sư huynh đoán trật lấc, tiểu đệ nhiều kẻ thù quá muốn ẩn lánh nơi đây nên phải đào cái huyệt sâu, tiện một công đôi việc, cừu nhân mà bị tiểu đệ giết chết thì chỉ việc hất xuống lấp đi, khỏi phải đào lỗ, bằng tiểu đệ bị người giết chết thì cái thổ huyệt này là nơi an táng tiểu đệ.

Vạn Chấn Sơn cười nói:

– Thế thì tuyệt diệu! Sư đệ nghĩ chu đáo quá, người sư đệ không to béo, ta tưởng đào sâu bấy nhiêu là đủ rồi, bất tất phải đào thêm nữa.

Ngôn Đạt Bình cũng mỉm cười đáp:

– Chôn một người thì dư rồi, nhưng chôn tám người thì e rằng chưa đủ.

Địch Vân thấy hai người vừa gặp nhau đã môi thương lưỡi kiếm châm chọc nhau, bất giác nhớ lại lời Đinh Điển, nghĩ thầm:

– Mấy vị sư huynh sư đệ hợp lực để giết chết sư phụ, đến ân sư truyền dạy võ nghệ mà cũng đánh giết thì giữa họ với nhau còn tình nghĩa gì nữa? Đinh đại ca còn nói sư huynh sư đệ họ đã đoạt được Liên Thành Kiếm Phổ mà chưa lấy được kiếm quyết. Pho kiếm quyết đó toàn thị số mục, chữ thứ một là số chữ thứ hai là số, chữ thứ ba là số, chữ thứ tư là số gì gì đó. Nhưng Đinh đại ca chưa đọc hết đã chết rồi, kiếm phổ chẳng đã lọt vào tay bọn họ rồi ư? Sao còn đến đây tìm kiếm?

Lại nghe Vạn Chấn Sơn nói:

– Hảo sư đệ! Chúng ta cùng một cửa đã lâu năm, sư đệ hiểu rõ lòng tiểu huynh mà tiểu huynh cũng rõ ruột sư đệ, vậy chúng ta còn nói lòng dòng làm gì?

Đưa đây!

Lão vừa nói vừa giơ tay ra.

Ngôn Đạt Bình lắc đầu đáp:

– Đã tìm thấy đâu? Thích lão tam tâm cơ thâm trầm, chúng ta không phải là đối thủ của y, tiểu đệ chẳng thể nào đoán ra y dấu kiếm phổ ở đâu.

Địch Vân trong lòng run lên tự hỏi:

– Chẳng lẽ ba vị sư huynh sư đệ cùng nhau hợp lực đoạt được kiếm phổ rồi sư phụ ta lại giữ riêng làm của mình? Nhưng mấy năm nay chẳng thấy động tĩnh gì? Phải rồi! Nhất định sư phụ ta hạ thủ cực kỳ xảo diệu khiến hai vị kia không phát giác ra được. Sư phụ đã không ở đây thì dĩ nhiên kiếm phổ lão nhân gia cũng đem theo đi, khi nào lại chôn dấu ở nhà này? Thế mà Ngôn sư bá lại đến đây khai quật xục tìm chẳng là ngốc lắm ư?

Nhưng chàng biết rõ cả Vạn Chấn Sơn lẫn Ngôn Đạt Bình quyết không phải là hạng ngu ngốc mà còn thông minh gấp mười chàng là ít, trong vụ này tất có cơ quan cực kỳ bí ẩn và âm mưu ghê gớm.

Vạn Chấn Sơn cười ha hả nói:

– Sư đệ còn đóng kịch nữa ư? Người ta bảo trong ba anh em mình thì Thiết Tỏa Trường Giang thủ đoạn lợi hại hơn hết, nhưng tiểu huynh lại cho là Nhị sư đệ mới thật ghê gớm! Đưa ra đi!

Lão lại giơ tay mặt ra phía trước.

Ngôn Đạt Bình vỗ túi đáp:

– Nếu tiểu đệ mà lấy được thì anh em mình dùng là của chung, sao còn có chuyện riêng tây? Chúng ta cùng rèn luyện để bổ sung cho nhau há chẳng hay ư?

Sư ca! Chẳng phải tiểu đệ nói khoe, giả tỷ tiểu đệ có lấy được thì một mình đối phó không xong, tất phải nhờ sư ca chủ trương đại cuộc. Còn tiểu đệ chỉ có thể đứng bên hiệp trợ để chia một chén canh mà thôi, nhưng lại chưa lấy được, chà chà! Môn hạ của sư huynh tuy nhiều, nhưng công phu còn non nớt quá tưởng nên nhường cho tiểu đệ góp vào một tay.

Vạn Chấn Sơn chau mày hỏi:

– Sư đệ đã lấy được vật gì ở sơn động bên kia?

Ngôn Đạt Bình hỏi lại:

– Sơn động nào? Gần đây có sơn động ư?

Vạn Chấn Sơn đáp:

– Sư đệ! Chúng ta đã là anh em mấy chục năm, sao đến lúc già còn để tổn thương hòa khí? Xin sư đệ hãy lấy ra để chúng ta cùng nghiên cứu. Từ nay anh em mình chung hưởng hạnh phúc, chia sẽ hoạn nạn nên chăng?

Ngôn Đạt Bình nói:

– Thế này thì kỳ thật! Sao sư ca lại nói đóng đanh là tiểu đệ lấy được rồi?

Nếu cái đó đã vào tay tiểu đệ thì con khai quật nơi đây làm gì?

Vạn Chấn Sơn đáp:

– Nhị đệ quỷ kế đa đoan, ai mà biết được sư đệ đào làm gì?

Ngôn Đạt Bình đáp:

– Sư ca! Cái gì của tam sư đệ, mình đâu có thể tìm được dễ dàng? Tiểu đệ xem chừng chắc không ở trong nhà, nếu đào thêm ba ngày nữa mà không thu lượm được kết quả cũng đành đình chỉ.

Vạn Chấn Sơn cười lạt nói:

– Hừ! tiểu huynh tưởng nhị sư đệ cứ đào thêm mười ngày hay nửa tháng nữa thì chuyện đóng kịch lại càng giống hơn.

Ngôn Đạt Bình đột nhiên biến sắc, đã toan trở mặt, nhưng lão nghĩ lại phải dằn nộ khí, hỏi:– Sư huynh! Sư huynh muốn thế nào mới tin tiểu đệ?

Lão nói rồi đặt cây gậy xuống cởi áo ngoài ra, nắm lấy vạt áo trong đổ dốc xuống, rung rung mây cái. Những tiếng loảng xoảng vang lên, mấy lạng bạc vụn và cái điếu hút thuốc đều rớt xuống.

Vạn Chấn Sơn nói:

– Khi nào nhị sư đệ lại ngu xuẩn đến thế? Lấy được rồi là cất đi, dù có để trong mình cũng để vào tận áo lót, khi nào lại để trong túi áo bào?

Ngôn Đạt Bình thở dài nói:

– Sư huynh đã không tin thì thử xục tìm coi.

Vạn Chấn Sơn đáp:

– Nếu vậy tiểu huynh đành cam đắc tội vậy.

Lão đưa mắt ra hiệu cho Vạn Khuê và Thẩm Thành.

Hai gã gật đầu tra kiếm vào võ, tiến lại bên Ngôn Đạt Bình.

Vạn Chấn Sơn lại nhìn Bốc Viên và Lỗ Khôn ra hiệu cho hai gã.

Hai gã liền đi quanh đến phía sau Ngôn Đạt Bình, tay nắm chặc đốc kiếm.

Ngôn Đạt Bình vỗ vào túi áo trong giục:

– Lục soát đi!

Vạn Khuê nói:

– Sư thúc! Đệ tử xin cam đắc tội.

Gã đưa tay lần túi áo, đột nhiên Vạn Khuê kêu thét lên, vội rụt tay về lùi lại một bước.

Dưới ánh đèn lửa mọi người ngó thấy một con rết lớn dài ba tấc đang bò trên mu bàn tay gã.

Vạn Khuê đau quá, dậm chân bình bịch, xoay tay đập xuống cạnh huyệt đánh chát một tiếng, con rết nát nhừ. Nhưng mu bàn tay gã đã trúng phải chất kịch độc sưng vù lên, gã muốn lên mặt anh hùng không chịu rên la, nhưng trán toát mồ hôi nhỏ giọt lớn bằng hạt đậu.

Ngôn Đạt Bình thất kinh la hoảng:

– Trời ơi! Vạn hiền điệt! Hiền điệt lấy đâu ra con trùng độc này? Thứ rết sặc sỡ độc dữ vô cùng, chứ không phải chuyện chơi.

Lão lại hỏi Vạn Chấn Sơn:

– Sư ca! Sư ca có thuốc giải không? Lẹ lên! Lẹ lên! Cứu chậm một chút là không được đâu.

Mu bàn tay Vạn Khuê đang đỏ biến thành màu tím rồi từ màu tím biến thành màu đen, một đường giây đỏ từ mu bàn tay đưa lên cánh tay.

Vạn Chấn Sơn biết là cạm bẫy của Ngôn Đạt Bình mà đành phải nín nhịn, lão đáp:

– Tiểu huynh chịu phục sư đệ rồi, phen này tiểu huynh xin thua, sư đệ lấy thuốc giải cho rồi chúng ta võ tay bỏ đi ngay, không gây chuyện gì với sư đệ nữa.

Ngôn Đạt Bình nói:

– Thuốc giải ư! Trước kia tiểu đệ cũng có, nhưng lâu ngày không biết bỏ đâu rồi, để mấy bữa nữa tiểu đệ thủng thẳng tìm coi, tìm thấy là may mà không thì tiểu đệ đến phụ Đại Danh kiếm được phương phối chế thuốc cho cũng được.

Vạn Chấn Sơn nghe nói tức như bể bụng, bị rắn rết độc cắn chỉ một giờ hay khắc đã chết người rồi, đường giây đỏ kia thông đến trước ngực là tắt thở chết liền.

Còn nói chi đến chuyện sau mấy ngày thủng thẳng tìm kiếm? Từ đây lên Phủ Đại Danh tỉnh Hà Bắc đường và ngạn dặm, đến đó tìm được phương chế thuốc thì đã mục xương rồi.

Nhưng lão thấy con cưng tính mạng nguy trong khoảnh khắc đành miễn cưỡng dẹp lửa giận, tự nhủ:

– Người quân tử trả thù sau mười năm cũng chưa muộn.

Lão liền đáp:

– Tiểu huynh chịu thua rồi, sư đệ muốn sao thì vạch đường ra.

Ngôn Đạt Bình đủng đỉnh mặc trường bào vào, vừa cài khuy vừa nói:

– Sư ca! Tiểu đệ làm gì có đường lối vạch ra cho sư ca? Sư ca muốn thế nào thì làm thế.

Vạn Chấn Sơn căm phẫn trong lòng, tự nhủ:

– Ngươi bức bách ta quá, không chịu nhượng bộ, rồi có ngày ngươi sẽ biết tay ta.

Lão đáp:

– Được rồi! Từ nay trở đi Vạn mỗ vĩnh viễn không nhìn mặt sư đệ nữa, Vạn mỗ mà còn nói gì với sư đệ thì không phải là người.

Ngôn Đạt Bình nói:

– Cái đó tiểu đệ không dám đâu, tiểu đệ chỉ yêu cầu sư ca nói một câu là pho Liên Thành Quyết thuộc quyền sở hữu của Ngôn Đạt Bình. Nếu tiểu đệ may mà kiếm được dĩ nhiên khỏi phải nói gì, trường hợp cuốn sách đó có lọt vào tay sư ca, sư ca cũng nên nhường cho tiểu đệ.

Vạn Khuê đã tê nửa người, khi độc dần dần đi vào trong ngực, đầu óc gã choáng váng người gã lảo đảo không tự nhủ được.

Lỗ Khôn la gọi:

– Sư đệ! Sư đệ!

Gã nâng đỡ Vạn Khuê, xé tay áo ra coi thì thấy đường giây đỏ đã đi qua dưới nách, gã liền quay ra nhìn Vạn Chấn Sơn la lên:

– Sư phụ! Sư thúc nói điều gì sư phụ cũng ưng chịu đi.

Ý gã muốn nói:

– Bữa nay mình lâm vào tình trạng nguy hiểm thì cứ ưng thuận bừa đi, ngày sau sẽ phản lại cũng không muộn.

Vạn Chấn Sơn liền đáp:

– Được rồi! Pho Liên Thành Kiếm Phổ đó coi như của sư đệ, cung hỷ! Cung hỷ!

Hai câu "Cung hỷ" lão rít hai hàm răng lại mà nói tỏ ra đầy vẻ oán độc.

Ngôn Đạt Bình nói:– Đã vậy tiểu đệ vào nhà tìm kiếm, không chừng tìm được thuốc giải cũng nên, cái đó còn tùy ở số phận ở Vạn hiền điệt.

Dứt lời lão trở gót đi vào trong nhà.

Vạn Chấn Sơn đưa mắt ra hiệu, Lỗ Khôn và Bóc Thương liền theo vào.

Sau một lúc lâu không thấy tin tức gì của ba người mà Vạn Khuê thì thần trí hôn mê, do Thẩm Thành nâng đỡ gã không cử động được nữa.

Vạn Chấn Sơn trong dạ bồn chồn, giục Phùng Thản:

– Ngươi vào coi thử.

Phùng Thản dạ một tiếng toan đi thì thấy Ngôn Đạt Bình trở ra vẻ mặt hân hoan, lão nói:

– May lắm! May lắm! Chẳng phải thuốc là gì đây?

Lão giơ cao cái bình sứ nhỏ lên nói tiếp:

– Thứ thuốc giải này trị rết độc hay lắm.

Lão tiến đến bên Vạn Khuê mở nắp bình đổ ra lòng bàn tay một chút thuốc tán màu đen, miệng nói:

– Vạn hiền điệt! Mạng của ngươi lớn lắm!

Lão trút thuốc xuống mu bàn tay Vạn Khuê.

Thứ thuốc giải này quả nhiên linh nghiệm, chẳng mấy chốc miệng vết thương ứa máu đen ra nhỏ giọt xuống đất, máu đen mỗi lúc chảy một nhiều.

Đường dây đỏ trên mu bàn tay Vạn Khuê dần dần thu lại.

Vạn Chấn Sơn thở phào một cái, trong lòng lão đã nhẹ nhõm, nhưng vẫn còn tức tối tính mạng của con lão bảo toàn được rồi, nhưng cuộc thất bại này khiến lão chưa nguôi giận, vì chưa động thủ lão đã bị người kiềm chế.

Sau một lúc nữa, Vạn Khuê mở mắt ra cất tiếng gọi:

– Gia gia!

Ngôn Đạt Bình đậy nắp bình lại cất vào bọc, lão cầm cây trượng khẽ chống xuống đất cười nói:

– Mời sư ca tùy tiện, miễn cho tiểu đệ khỏi tiễn chân.

Vạn Chân Sơn bảo Thẩm Thành:

– Kêu bọn chúng ra đây.

Thẩm Thành "Dạ" rồi đi vào phía sau lớn tiếng hô:

– Lỗ sư ca! Bốc sư đệ! Ra đây lẹ lên! Chúng ta đi thôi.

Chỉ nghe hai gã Lỗ, Bốc ú ớ mấy tiếng mà không thấy trở ra.

Tôn Quân và Thẩm Thành không chờ sư phụ sai bảo đã xông vào nâng đỡ Lỗ Khôn và Bốc Thương đi ra.

Hai gã này mặt không còn chút huyết sắc, một gã gẫy chân trái, một gãy gãy chân phải, dĩ nhiên chúng vừa mắc độc thủ của Ngôn Đạt Bình.

Vạn Chấn Sơn cả giận, bản ý của lão là muốn giết Ngôn Đạt Bình, bây giờ lão đã có cớ thì mối căm hờn này khi nào còn nhẫn nại, chịu để đến ngày khác?

Lão rút trường kiếm ra khỏi võ đánh "Soạt" một tiếng, ánh kiếm xanh lè đâm lẹ vào cổ họng Ngôn Đạt Bình.

Địch Vân chưa từng thấy qua bản lãnh của Vạn Chấn Sơn, bây giờ lão phóng kiếm đâm ra, chiêu thức tàn độc và trầm trọng, chàng lẩm bẩm:

– Nhát kiếm này dường như không có chỗ nào sơ hở.

Nên biết võ học của Địch Vân nay đã rất tinh thâm, tuy không người truyền thụ, nhưng chàng coi người khác lúc ra chiêu, dĩ nhiên nhìn ngay thấy chỗ sơ hở của đối phương.

Ngôn Đạt Bình nghiêng mình né tránh, tay trái lão chụp lấy đầu dưới cây trượng, tay mặt nắm chỗ đầu rồng rút ra, một tiếng "Xẹt" khẽ vang lên. Ánh bạch quang lóa mặt trong tay lão cầm thanh trường kiếm.

Nguyên cây trượng của Ngôn Đạt Bình đầu rồng tức là chuôi kiếm, lưỡi kiếm dấu ở trong cây gậy, thây cây dùng làm vỏ kiếm.

Ngôn Đạt Bình có kiếm trong tay rồi liền ra chiêu phản kích.

Những tiếng choang choảng vang lên không ngớt, hai vị sư huynh sư đệ khai diễn cuộc chiến đấu ngay trên miệng huyệt.

Sau khi trao đổi mấy chiêu, hai người cùng nhận thấy địa hình chật hẹp khó bề xoay xở, liền đồng thanh hô hào rồi nhảy cả xuống thổ huyệt.

Bọn hương dân thấy hai lão gây lộn miệng tiếng, trong lòng đã kinh hãi bây giờ xảy ra cuộc ác đấu họ càng khiếp sợ, xúm xít vào trong góc huyệt, chẳng ai dám nói câu gì.

Địch Vân cũng làm bộ úy kỵ co rúm lại, nhưng sư thực chàng chú ý theo dõi cuộc tỷ đấu của hai vị sư bá.

Mới coi bảy, tám chiêu chàng bất giác ngấm ngầm thở dài nghĩ bụng:

– Nội kình của hai vị sư bá hãy còn kém cỏi quá, tuy kiếm chiêu đều có chỗ độc đáo, nhưng nếu gặp phải đối phương nội lực cao hơn một chút, mà khí giới đụng nhau thì chỉ một chiêu đã hất bay trường kiếm đi rồi. Hai vị sư bá muốn cho võ công tiến triển tất phải rèn thêm nội lực, hiện giờ nội lực thiếu thốn quá chừng, chỉ trông vào chiêu pháp thì dù có lấy được Liên Thành Kiếm Phổ gì đó e rằng cũng chẳng ích gì, trừ phi kiếm phổ kia là một pho võ kinh để luyện nội công, nhưng đã gọi là kiếm phổ thì dĩ nhiên chỉ nói về kiếm pháp.

Chàng theo dõi thêm mấy chiêu rồi lẩm bẩm:

– Lưu Thừa Phong và Hoa Thiết Cán trong bọn Lạc Hoa Lưu Thủy, nội lực so với hai vị sư bá này còn cao thâm hơn nhiều, ta xem chừng võ công của hai vị khi rèn luyện đã đi vào tà lộ, chỉ chú ý đến chiêu số biến hóa để tranh thắng mà hoàn toàn không nghĩ gì tới chuyện phối hợp nội lực. Thế thì còn ra đạo lý gì nữa?

Ngày trước sư phụ dạy kiếm chiêu cho ta cũng theo đường lối tương tự, vậy cả ba vị Vạn, Ngôn Thích đều học kiểu này. Trường hợp gặp đối thủ võ công kém các vị thì dĩ nhiên chiếm hết thượng phong, nhưng chạm trán đối phương công lực mạnh hơn một chút là những chiêu kỳ quái, biến ảo đều chẳng dùng được việc gì sao các vị lại học kiếm theo kiểu này?

Địch Vân còn đang hoài nghi chưa hiểu thì thấy bọn Tôn Quân, Phùng Thản, Ngôn Khản ba gã chống kiếm tiến vào trợ chiến thành thế bốn người đánh một.

Ngôn Đạt Bình cười ha hả nói:

– Hay lắm! Hay lắm Đại sư ca! Đại sư ca càng ngày càng tiến bộ, chiêu tập một lũ lâu la kéo đến công vào đánh sư đệ.

Tuy lão làm bộ coi thường mà sư thực kiếm pháp đã bị trở ngại.

Địch Vân nghĩ bụng:

– Hai vị đều có chỗ sở trường về kiếm chiêu, Ngôn sư bá năm trước đã dạy ta ba chiêu "Thích Kiên Thức, Đã Nhĩ Quang, Khử Kiếm Thức" để đối phó với bọn để tự Vạn Môn rất được việc, nhưng đem ra đối phó với Vạn sư bá thì chẳng ích gì.

Địch Vân thở dài tự hỏi:

– Hỡi ơi! Chẳng lẽ các vị lại không hiểu chỉ học kiếm chiêu biến hóa mà không có nội lực phối hợp thì chẳng ích gì? thật là vô dụng! Thật là kỳ quái! Đạo lý thiển cận này đến ta là kẻ ngu dại còn biết thì sao các vị đều là những nhân vật tài trí thông minh lại không biết? Chẳng lẽ chính ta là kẻ hồ đồ?

Đột nhiên trong đầu óc chàng tựa hồ lóe lên một tia sáng chàng tự nhủ:

– Đinh đại ca cho ta hay về lai lịch pho Thần Chiếu Kinh, hiển nhiên sư tổ ta Mai Niêm Sinh đã hiểu rõ đạo lý này mà tại sao lão nhân gia không nói cho ba vị đệ tử hay? Chẳng lẽ... chẳng lẽ... chẳng lẽ...

Chàng nhẩm ba chữ "Chẳng lẽ" bất giác sau lưng toát mồ hôi lạnh ngắt, người chàng run lên.

Lão hương dân tuổi già đứng bên không ngớt miệng hô:

– A di đà phật! A di đà phật! Xin phật tổ phù hộ đừng để xảy ra áng mạng, tiểu huynh đệ! đừng sợ! Đừng sợ!

Lão thấy Địch Vân phát run tưởng là chàng lo sợ cuộc chiến đấu giữa hai lão, nên an ủi chàng mà thực ra trong lòng lão cũng cực kỳ kinh hãi.

Địch Vân trong thâm tâm đã hiểu rõ chân tướng, nhưng sự việc này thâm hiểm ác độc thái quá, chàng không muốn muốn nghĩ nhiều lại càng không muốn sự phỏng đoán của mình là đúng, có điều chàng đã tìm ra mấu chốt thì bao nhiêu việc nhỏ nhặt sẽ qui tụ vào một nơi.

Vạn Chấn Sơn, Ngôn Đạt Bình, Tôn Quân, Phùng Thản... Mỗi người đưa ra một chiêu đều khiến cho chàng thêm một ấn chứng về những điều đã nghĩ, chàng lẩm bẩm:

– Phải rồi! Phải rồi! Nhất định là thế, nhưng e rằng không đúng bậc làm sư phụ sao lại ác độc như vậy? Nhưng nếu không phải thế thì sao lại có trạng thái này? Thật là kỳ quái...! Thật là khó hiểu! Một bức họa đồ rõ rệt hiện ra trong đầu óc:

– Những năm trước kia, cũng ở nơi đây ta cùng sư muội Thích Phương luyện kiếm, sư phụ đứng bên chỉ điểm, sư phụ dạy ta một chiêu rất xảo diệu ta dụng tâm rèn luyện. Lần thứ hai ta hỏi đến thì sư phụ lại dạy không giống trước mà kiếm pháp vẫn xảo diệu như cũ, nhưng so với lần trước lại có chỗ bất đồng, khi ấy ta chỉ cho là kiếm pháp của sư phụ biến ảo khôn lường, nhưng bây giờ nghĩ lại thì chỗ bất đồng về hai lần dạy kiếm chiêu, đạo lý rõ ràng quá độ.

Đột nhiên chàng cảm thấy đau đớn trong lòng, bụng bảo dạ:

– Sư phụ ta cố ý dạy ta đi lầm đường, cố ý đưa ra kiếm pháp khác biệt, bản lãnh của ta hơn thế nhiều, nhưng sư phụ cố ý dạy ta những kiếm chiêu không bổ ích gì. Võ công của Ngôn sư bá và sư phụ chẳng chênh lệch nhau mấy, mà Ngôn sư bá dạy ta ba chiêu kiếm pháp so với những điều sở học ơ nơi sư phụ hãy còn cao minh hơn nhiều.

Chàng liên miên nghĩ tiếp:

– Tại sao Ngôn sư bá lại dạy ta ba chiêu kiếm pháp đó? Chẳng phải sư bá có lòng hảo tâm, mục đích của lão là dẫn dụ cho Vạn sư bá sinh lòng ngờ vực, rồi Vạn sư bá và sư phụ ta xẩy cuộc ác đấu... Vạn sư bá cũng vậy, bản lãnh lão nhân gia hoàn toàn bất đồng với bọn đệ tử của lão... nhưng tại sao lão lừa gạt cả con mình? Hỡi ơi! Lão chẳng thể dạy riêng cho con mà không dạy cho đệ tử khác, vì như vậy thì chỗ thâm hiểm sẽ bị bại lộ.

Ngôn Đạt Bình tay trái nắm kiếm quyết, tay mặt rung động mũi kiếm xoay liền bảy cái vòng tròn mau lẹ phi thường đâm vào trước ngực Vạn Chấn Sơn.

Vạn Chấn Sơn quét ngang thanh kiếm để phá vòng tròn, chênh chếch đâm tới, phá giải tận số bảy cái vòng tròn.

Địch Vân đứng bên nhìn thấy nghĩ thầm:

– Bảy cái vòng tròn này hoàn toàn là thừa, sao không phóng kiếm đâm thẳng vào mé tả trước ngực Vạn sư bá cho mau lẹ? Vạn sư bá đâm chênh chếch bảy nhát để phá giải bảy kiếm chiêu vòng tròn coi có vẻ xảo diệu, mà thực ra vụng về hết chỗ nói. Nếu xoay kiếm đâm thẳng vào bụng dưới Ngôn sư bá thì đã thắng rồi.

Trong đầu óc chàng lại hiện ra một màn ảnh:

– Chàng cùng Thích Phương sư muội luyện kiếm, Thích Phương phóng ra những chiêu kiếm thật nhiều kiếm hoa, chàng không nhớ rõ chiêu thức của sư phụ truyền dạy, có điều chân tay chàng luống cuống phải lùi hoài. Thích Phương đánh ba chiêu liên tiếp khiến chàng đầu nhức mắt hoa, chân tay luống cuống không sao địch nổi, chàng không thể nghĩ đến những kiếm chiêu của sư phụ truyền dạy, phải tiện tay đỡ gạt rồi xoay kiếm đâm lại...

Thích Phương đã dùng chiêu "Phủ Thích Văn Kình Phong, Liên Sơn Nhược Bố Đào" xoay kiếm vòng tròn để tiến đánh, còn kiếm chiêu của chàng hoàn toàn tự ý phát ra, không theo qui phạm của sư phụ, chiêu này của Thích Phương coi ngoạn mục mà không đỡ gạt được. Chàng phóng kiếm đâm thẳng vào bả vai sư muội.

Giữa lúc ấy chàng thu thế không kịp, sư phụ Ở bên nhảy ra tay cầm một cành cây đập đánh chát một cái làm rớt thanh kiếm trong tay chàng.

Chàng cùng Thích Phương sợ tái mặt.

Thích Trường Phát thống mạ chàng một chập, lão bảo chàng đâm bừa chém ẩu, không sử kiếm theo phương pháp của sư phụ truyền dạy là đồ bỏ.

Ngày ấy chàng đã tự hỏi:

– Ta không sử kiếm theo qui củ mà sao lại thắng?

Nhưng ý nghĩ này chỉ thoáng qua rồi mất biến, chàng tự trả lời:

– Đó là vì sư muội chưa luyện kiếm pháp được đến nơi, nếu gặp phải tay cao thủ là ta đâm bừa chém ẩu nhất định phải thất bại.

Ngày ấy chàng đâu có nghĩ đến:

Kiếm chiêu của ta tùy tiện phóng ra thực tình ly kỳ cổ quái hơn những điều học được của sư phụ, vì nó thực dụng hơn lối đánh chỉ làm cho ngoạn mục.

Chương 39: Báo ơn xưa cứu mạng ngôn gia

Hiện giờ chàng nghĩ lại thì nó hoàn toàn bất đồng, bản thân chàng ngày nay đã khiến chàng thấy rõ:

Vạn Chấn Sơn và Ngôn Đạt Bình đều sử dụng kiếm thuật có nhiều hoa chiêu vô dụng, Vạn Chấn Sơn truyền dạy kiếm pháp cho đệ tử và Thích Trường Phát dạy cho chàng cùng Thích Phương càng nhiều hoa chiêu vô dụng hơn.

Hiển nhiên sư tổ Mai Niệm Sanh đã trông thấy tâm thuật bất chánh của ba vị đồ đệ, nên khi truyền thụ võ công đã cố ý dẫn các vị vào kiếm thuật sai lầm.

còn Vạn Chấn Sơn và Thích Trường Phát khi dạy đồ đệ hoặc vô tình hay hữu ý đưa họ vào đường quẹo đi xa hơn nhiều.

Lúc lâm địch bất luận dùng kiếm pháp nào cũng phải bỏ cái vô dụng, vì nó đem cơ hội cho địch nhân chiếm mất thượng phong, tức là giao tính mạng mình vào tay địch nhân. Tại sao sư tổ cùng sư phụ đều thâm độc như vậy?

Chàng tự hỏi:

– Chẳng lẽ các vị thù hằn cả con trai, con gái mình? Chẳng lẽ các vị cố ý làm hại đồ đệ mình? Quyết không thể thế được, nhất định là vì nguyên nhân nào trọng đại hơn, nhất định có chỗ âm mưu rất khẩn yếu, chẳng lẽ chỉ vì cuốn Liên Thành Kiếm Phổ kia?

Hiện giờ Vạn Chấn Sơn và Ngôn Đạt Bình đang vì kiếm phổ mà sư huynh sư đệ định giết nhau, vì kiếm phổ mà sư bá cùng sư phụ chàng có thể giết cả sư tổ Mai Niệm Sanh.

Đúng thế! Hai vị đều muốn giết cho bằng được đối phương, cuộc tranh đấu trong thổ huyệt mỗi lúc một ráo riết.

Kiếm pháp của Vạn Chấn Sơn và Ngôn Đạt Bình không phân hơn kém, nhưng Vạn Chấn Sơn có bọn đệ tử giúp sức khiến cho Ngôn Đạt Bình hao tổn rất nhiều sức lực.

Cuộc đấu đang đến chỗ nan giải nan phân thì Tôn Quân phóng kiếm đâm vào sau lưng Ngôn Đạt Bình.

Ngôn Đạt Bình xoay kiếm lại gạt, tiện đà đâm tới.

Tôn Quân rú lên một tiếng:

– Úi chao!

Hổ khẩu gã bị thương, thanh trường kiếm tuột khỏi tay rớt xuống đất đánh "Keng" một tiếng.

Giữa lúc ấy, Vạn Chấn Sơn thừa cơ quét một kiếm rạch thành đường dài vào cánh tay mặt Ngôn Đạt Bình.

Ngôn Đạt Bình nhịn đau đưa kiếm qua tay trái, nhưng tay trái sử kiếm không quen, mà tay mặt bị thương khá nặng, máu tươi chảy ra ướt đẫm nửa người.

Đánh bảy, tám chiêu nữa, lão lại trúng kiếm vào vai bên trái.

Bọn hương dân thấy tình trạng này đều sợ tái mặt chỉ muốn trốn ra mà không ai dám nhúc nhích.

Vạn Chấn Sơn quyết tâm hạ sát cho bằng được sư đệ, lão đưa ra những kiếm chiêu càng ác liệt.

Sột một tiếng! Ngôn Đạt Bình lại trúng kiếm nơi trước ngực.

Xem chừng chỉ mấy chiêu nữa là Ngôn Đạt Bình phải chết về tay sư huynh, nhưng lão chỉ nghiến răng, nhịn đau tắm máu gắng gượng chiến đấu, không nửa lời van xin, lão đã học nghệ với vị sư huynh này mười mấy năm sau khi rời khỏi sư môn lại tranh đấu hoặc ra mặt hoặc ngấm ngầm mười mấy năm nữa nên hiểu rõ tâm can rồi. Lão có đưa lời năn nỉ cũng chỉ rước lấy cái nhục nhã vào mình chứ chẳng ích gì.

Địch Vân tự nhủ:

– Năm trước lúc ta đến nhà Vạn sư bá ở Kinh Châu, Ngôn sư bá đã liệng bát cơn giúp ta đánh lui tên đại đao Lữ Thông, lại dạy ba chiêu kiếm pháp để khỏi bị bọn đệ tử Vạn môn khinh khi, tuy bá bá co chỗ dụng tâm, nhưng ta đã chịu ơn huệ của bá bá thì chẳng thể để bá bá chết uổng được.

Chàng liền giả vờ run bần bật không ngớt, tay cầm xẻng xúc đầy đất vào.

Bỗng thấy Vạn Chấn Sơn lại phóng kiếm đâm vào bụng dưới Ngôn Đạt Bình.

Ngôn Đạt Bình người lảo đảo không né tránh được, Địch Vân tay cầm xẻng đất khẽ rung lên một cái, cục đất vàng khè bắn đi.

Cục đất này đem theo nội lực rất mãnh liệt, Vạn Chấn Sơn bị luồng kình lực xô vào, chân đứng không vững ngã ngửa người ra.

Mọi người không để ý, nên chẳng ai biết cục đất này từ đâu bay đến.

Địch Vân lại xúc mấy xẻng đất hất ra trúng vào những ngọn đèn dầu và đuốc thông làm cho tắt ngấm, nhà đại sảnh tối om. Mọi người đều bật tiếng la hoảng.

Địch Vân tung mình vọt lên ôm lấy Ngôn Đạt Bình chạy đi.

Địch Vân ra ngoài rồi cõng Ngôn Đạt Bình lên vai, chàng thi triển khinh công chạy về phía sau núi.

Khinh công chàng đã cao minh lại quen thuộc địa thế nên cứ vào nẻo đường hoang vắng khó đi trên núi cao mà chạy.

Ngôn Đạt Bình nằm phục trên lưng chàng, bên tai nghe tiếng gió vù vù, người lão khác nào đằng vân giá vụ tưởng chừng đang ngủ mơ.

Lão là người lịch duyệt giang hồ mà không tin trên thế gian này lại có người võ công cao thâm đến thế!

Địch Vân càng chạy càng lên cao, sau lên đến đỉnh núi cao nhất.

Sườn núi đã cao lại dốc, người thường quyết chẳng thể nào lên được, Địch Vân cũng chưa trèo lên đỉnh núi này bao giờ. Ngày trước chàng cùng Thích Phương thường thường ngửa mặt lên nhìn mà thôi, bữa nay vì cứu người chàng mới phải trèo lên đó.

Địch Vân đặt Ngôn Đạt Bình xuống hỏi:

– Bá bá có thuốc dấu không?

Ngôn Đạt Bình liền phục xuống vừa lạy, vừa hỏi:

– Tôn tính đại danh ân công là gì? Bữa nay Ngôn Đạt Bình này nhờ ân công cứu mạng, ơn đức thâm trọng không biết lấy gì báo đáp cho vừa.

Địch Vân tuy không muốn tiết lộ thân thế mình, nhưng cũng không thể nhận lạy của sư bá, chàng vội quì xuống đáp lễ nói:

– Tiền bối bất tất phải đa lễ, khiến tại hạ phải tổn thọ, tại hạ là kẻ vô danh, chút việc nhỏ mọn này có chi đáng kể mà tiền bối phải nói chuyện đến đền đáp?

Ngôn Đạt Bình cố ý hỏi tên họ, Địch Vân không biết bịa đặt tên giả, chàng liền lẳng lặng không đáp.

Ngôn Đạt Bình đã biết trên chốn giang hồ rất nhiều cao thủ mai danh ẩn tích, thấy chàng không chịu nói, lão cũng không hỏi nữa.

Ngôn Đạt Bình lấy thuốc dấu trong bọc ra rịt vào vết thương, lão sờ ba chỗ kiếm thương trong long kinh hãi nghĩ bụng:

– Y mà ra tay chậm một chút nữa thì bây giờ ta không còn sống ở thế gian nữa.

Địch Vân nói:

– Tại hạ có mấy điều nghi nan muốn hỏi tiền bối Ngôn Đạt Bình vội đáp:

– Ân công đừng nhắc tới hai chữ tiền bối nữa, ân công có điều gì muốn hỏi mà Ngôn Đạt Bình hiểu được xin sự thực trình bày, quyết chẳng dám mảy may dấu diếm.

Địch Vân hỏi:

– Thế thì hay lắm! Xin hỏi tiền bối tòa nhà lớn này có phải tiền bối dựng lên không?

Ngôn Đạt Bình đáp:

– Phải rồi!

Địch Vân lại hỏi:– Tiền bối đào huyệt để tìm kiếm Liên Thành Kiếm Phổ, không hiểu đã tìm thấy chưa?

Ngôn Đạt Bình trong lòng run lên nghĩ bụng:

– Ta tưởng gã vì hảo tâm mà giải cứu ta, té ra gã cũng dòm dỏ pho Liên Thành Kiếm Phổ.

Lão đáp:

– Lão phu hao phí rất nhiều tâm huyết mà đến nay vẫn chưa được chút manh mối nào, ân công hiểu cho lão phu thực không dám nói dối. Nếu Ngôn Đạt Bình này tìm được rồi thì lập tức dâng ân công ngay, tính mạng Ngôn mỗ đã được ân công giải cứu, khi nào dám tiếc những cái thân ngoại chi vật?

Địch Vân xua tay lia lịa nói:

– Tại hạ không phải là muốn lấy kiếm phổ, chẳng dấu gì tiền bối bản lãnh tại hạ tuy tầm thường nhưng tự tin rằng Liên Thành Kiếm Phổ gì gì đó vị tất đã hữu dụng cho tại hạ.

Ngôn Đạt Bình đáp:

– Đúng thế! Bản lãnh của ân công xuất nhập hóa đã thành thiên hạ vô địch, cuốn Liên Thành Kiếm kia bất quá là một thứ đồ phổ về kiếm pháp, vì nó là công phu của bản môn nên anh em Ngôn mỗ coi trọng. Còn đối với người ngoài, cái đó rất tầm thường.

Địch Vân tuy chẳng có thành kiến gì, nhưng cũng biết lão không thật tâm, có điều chàng không muốn nói ra. Chàng lại hỏi:

– Tại hạ nghe nói chỗ tòa nhà đó nguyên trước lệnh sư đệ là Thích tiền bối cư trú, Thích tiền bối mang ngoại hiệu là Thiết Tỏa Hoành Giang không hiểu ý nghĩa thế nào?

Chàng ở với sư phụ từ thuở nhỏ cho tới khi khôn lớn, vẫn tưởng sư phụ là ông lão nhà quê trung hậu thành thực, nhưng sau nghe Đinh Điển nói lão là người tâm kế sâu xa, nên chàng hỏi lại lão này thử xem có đúng với lời nhận xét của Đinh Điển không, hay chỉ là tiến đồn vô căn cứ.

Ngôn Đạt Bình đáp:

– Ngoại hiệu của tệ sư đệ là Thiết Tỏa Hoành Giang vì ai cũng bảo y nhiều mưu kế, đối phó với người bằng thủ đoạn thâm độc, khác nào đường dây xích sắt phong tỏa mặt sông, khiến cho thuyền bè đi lại muốn lên chẳng được, xuôi xuống không xong.

Địch Vân trong lòng bứt rứt khó chịu nghĩ thầm:

– Lời nói của Đinh đại ca quả nhiên không lầm, sư phụ ta đã là nhân vật như vậy nên ta bị lừa gạt ngay từ thuở nhỏ, thủy chung lão nhân gia vẫn chẳng lộ chân tướng với ta, nhưng lão nhân gia đối đãi với ta rất từ ái, thì dù lão có dối gạt cũng không sao.

Trong lòng vẫn còn một tia hy vọng, chàng hỏi:

– Những thứ ngoại hiệu trên chốn giang hồ chưa chắc đã tin được, có khi Thích tiền bối bị kẻ thù bôi nhọ, tiền bối đã học nghệ với lệnh sư đệ dĩ nhiên hiểu tính tình Thích tiền bối rõ rệt hơn. Sư thực tính nết của Thích tiền bối ra sao?

Ngôn Đạt Bình thở dài đáp:

– Chẳng phải Ngôn mỗ vạch áo cho người xem lưng, nhưng ân công hỏi đến Ngôn mỗ không dám dấu diếm, tệ sư đệ bề ngoài coi ngớ ngẩn thực thà mà tâm cơ cực kỳ linh xảo, nếu không thế thì sao y lấy được Liên Thành Kiếm Phổ.

Địch Vân gật đầu, chàng lại hỏi:

– Tại sao tiền bối biết Liên Thành Kiếm Phổ đã lọt vào tay Thích tiền bối?

tiền bối đã trông thấy chăng?

Ngôn Đạt Bình đáp:

– Tuy không phải chính mắt Ngôn mỗ trông thấy, nhưng đã suy xét kỹ thì nhất định kiếm phổ lọt vào tay y rồi.

Địch Vân hỏi:

– Tại hạ nghe người ta nói tiền bối hay giả làm khất cái, có đúng thế không?

Ngôn Đạt Bình lại một phen kinh ngạc, nghĩ thầm:

– Gã này lợi hại thật! Cả chuyện riêng của mình gã cũng biết rõ.

Lão đáp:

– Nguồn tin của ân công rất linh thong, hành vi Ngôn mỗ chẳng điều gì dấu được ân công, ban đầu tại hạ tưởng cuốn Liên Thành Kiếm Phổ nếu không ở trong tay Vạn sư ca thì lọt vào tay Thích sư đệ, vì thế Ngôn mỗ giả làm khất cái qua lại vùng Tương Tây, Ngạc Tây để dò la động tĩnh.

Địch Vân hỏi:
– Tại sao tiền bối lại đoán là kiếm quyết lọt vào tay một trong hai vị đó?

Ngôn Đạt Bình đáp:

– Lúc lâm tử gia sư giao kiếm phổ cho ba em Ngôn mỗ...

Địch Vân nhớ tới lời Đinh Điển thuật lại chuyện đêm hôm ấy ba người, Vạn, Ngôn, Thích hợp lực mưu sát hại sư phụ là Mai Niệm Sanh trên sông Trường Giang, chàng hắng đặng một tiếng rồi hỏi:

– Lệnh sư trao tay cho các vị hay sao? E rằng... e rằng... không đúng thế, lệnh sư đã chết rồi phải không?

Ngôn Đạt Bình nhảy bổ lên trỏ vào mặt chàng ấp úng hỏi:

– Các hạ là.. là... Đinh... Đinh Điển... Đinh đại gia phải không?

Nên biết việc Đinh Điển an táng cho Mai Niệm Sanh về sau bị tiết lộ ra ngoài, Ngôn Đạt Bình vừa nghe Địch Vân phanh phui cái tội giết thầy của lão, nên lão đoán ngay là Đinh Điển.

Địch Vân hững hờ đáp:

– Tại hạ không phải là Đinh Điển, Đinh đại ca ghét kẻ ác như kẻ thù, y trông thấy ba vị sư huynh sư đệ hợp lực hạ sát sư phụ, nếu tại hạ là Đinh đại ca thì bữa nay đã chẳng phải giải cứu tiền bối, mà để tiền bối chết về lưỡi kiếm của Vạn Chấn Sơn.

Ngôn Đạt Bình rất đỗi kinh nghi hỏi:

– Nếu vậy ân công là ai?

Địch Vân đáp:

– Tiền bối bất tất phải biết tại hạ là ai, nếu muốn người ta không biết thì đừng làm, các vị hợp lực hạ sát sư phụ đoạt lấy Liên Thành Kiếm Phổ rồi sau ra làm sao?

Ngôn Đạt Bình giọng nói run run hỏi:

– Điều gì ân công cũng biết rồi thì còn hỏi làm gì?

Địch Vân nói:

– Tại hạ biết được một chút nhưng cũng còn nhiều điều chưa hay, xin tiền bối nói thực cho nghe, nếu không đúng thì rồi tại hạ cũng điều tra được.

Ngôn Đạt Bình vừa kinh hãi vừa sợ sệt đáp:

– Khi nào Ngôn mỗ dám lừa dối ân công? Ba anh em Ngôn mỗ lấy được Liên Thành Kiếm Phổ rồi, sau mới phát giác lấy được kiếm phổ mà không có kiếm quyết cũng bằng vô dụng, liền mở cuộc điều tra kiếm quyết...

Địch Vân nghĩ thầm:

– Đinh đại ca đã nói kiếm quyết này có liên quan đến một chỗ đại bảo tang, hiện giờ Mai Niệm Sanh, Lăng tiểu thư, Đinh đại ca đều đã qua đời, trên thế gian chẳng còn ai biết kiếm quyết nữa mà mấy ông này hãy còn mơ mộng.

Lại nghe Ngôn Đạt Bình nói tiếp:

– Ba anh em tại hạ người nọ coi chừng người kia, người kia coi chừng người nọ, đêm nao cũng ngủ chung trong một gian phòng. Cuốn kiếm phổ đó để trong hộp sắt khóa lại, bọn Ngôn mỗ liệng chiếc chìa khóa hộp sắc xuống sông Trường Giang, còn cái hộp thì cất vào ngăn kéo bàn, trên hộp sắt lại còn ba sợi giây xích sắt nhỏ chia ra buộc vào tay ba người để người nọ cử động là hai người kia phát giác ngay.

Địch Vân thở dài nói:

– Cách phòng bị như vậy thật là cận mật.

Ngôn Đạt Bình nói:

– Ngờ đâu lại xảy ra có kẻ trộm.

Địch Vân hỏi:

– Vụ trộm làm sao?

Ngôn Đạt Bình đáp:

– Đêm hôm ấy ba anh em ngủ với nhau trong phòng, sang sớm hôm sau, Vạn Chấn Sơn bỗng la lên:

– Kiếm phổ đâu rồi? Kiếm phổ đâu rồi?

Ngôn mỗ giật mình nhảy bổ lên thì thấy ngăn kéo bàn rút ra rồi không đẩy vào, cái hộp sắt cũng mở nắp, bộ kiếm phổ đã không cánh mà bay. Ba người bọn lão phu hốt hoảng tìm kiếm nhưng chẳng thấy đâu, vụ này thật là kỳ! Cửa ngõ trong phòng vẫn còn đóng và cài then sắt y nguyên chưa ai động đến. Vì thế mà nhất quyết là không phải người ngoài vào lấy cắp kiếm phổ, nếu chẳng phải Vạn sư ca thì nó lọt vào tay Thích sư đệ.

Địch Vân hỏi:

– Đúng thế thật, nhưng sao người lấy sách lại không nhân lúc đêm tối mở cửa sổ ra bỏ ngỏ làm như người ngoài lẻn vào?

Ngôn Đạt Bình thở dài đáp:

– Tay ba người đã buộc dây lòi tói khóa liền với nhau, lén lút đứng lên rút ngăn kéo bàn, mở hộp sắt thì có thể được còn đi xa hơn để mở cửa thì dây xích không đủ dài.

Địch Vân hỏi:

– Té ra là thế! Vậy các vị làm thế nào?

Ngôn Đạt Bình đáp:

– Lấy được kiếm phổ không phải là chuyện dễ, dĩ nhiên bọn tại hạ chẳng chịu bỏ qua, ba người cãi lộn nhau ỏm tỏi một hồi, nhưng chẳng ai đưa ra được chứng cứ gì, đành chia đường tìm kiếm...

Địch Vân hỏi:

– Có một điều tại hạ nghĩ không ra, muốn thỉnh giáo tiền bối, số là lệnh sư đã có pho kiếm phổ như vậy chẳng sớm thì muộn, rồi cũng truyền thụ cho các vị, chẳng lẽ lão nhân gia giữ mãi để rồi bỏ vào trong quan tài? Việc gì các vị phải hạ độc thủ toan hạ sát sư phụ để sang đoạt?

Ngôn Đạt Bình đáp:

– Hỡi ơi! Gia sự.. thật là hồ đồ, lão nhân gia nhận định ba người sư huynh sư đệ trong bọn tại hạ đều tâm thuật bất chính thủy chung lão không dạy kiếm pháp trong pho kiếm phổ đó. Tại hạ coi chừng lão muốn truyền thụ cho người khác, thậm chí lão còn đem cả võ công bản môn truyền cho người ngoài, bọn tại hạ không nhẫn nại được mới phải hạ thủ.

Địch Vân hỏi:

– À thì ra thế, về sau sao tiền bối lại quyết đoán là kiếm phổ lọt vào tay lệnh sư đệ?

Ngôn Đạt Bình đáp:

– Ban đầu Ngôn mỗ ngờ cho Vạn Chấn Sơn lấy cắp vì y la lên trước vụ mất sách, hô hoán mất trộm nên đáng ngờ hơn. Ngôn mỗ ngấm ngầm theo dõi hành tung, chẳng bao lâu liền biết là không phải y, vì chính y lại đi dò la Thích sư đệ.

Chương 40: Vào vạn gia trùng hội thích phương

Ngôn Đạt Bình nói tiếp:

– Nếu kiếm phổ đã lọt vào tay Vạn Chấn Sơn thì y đã chẳng đi truy người khác mà lập tức đến ẩn tại một nơi hương thôn hẻo lánh hay trong hang núi hoang vu để luyện kiếm. Mỗi lần lão phu ngấm ngầm đến gặp y thì chỉ thấy y nghiến răng nghiến lợi, tỏ ra nóng lòng thống hận về vụ chưa tìm được kiếm quyết, vì thế mà lão phu thay đổi đường lối đi tìm kiếm hành tung Thích Trường Phát.

Địch Vân hỏi:

– Lão gia có tìm được manh mối gì không?

Ngôn Đạt Bình lắc đầu đáp:

– Thích Trường Phát tâm địa rất thâm hiểm, tuyệt không lộ hình tích, lão phu từng coi lén y dạy đồ đệ và con gái luyện kiếm, y giả vờ ngớ ngẩn, đem những chiêu kiếm bằng đường thi đổi đi nghe chẳng thông chút nào, thực khiến cho người ta phải cười đến trẹo quai hàm. Nhưng y càng giả bộ bao nhiêu lão phu càng nhận ra y giả dối, lão phu theo dõi ba năm liền mà thủy chung y không sơ hở chút nào, những lúc y ra ngoài, lão phu đã mấy lần mò vào trong nhà xục tìm rất kỹ mà chẳng thấy Liên Thành Kiếm Phổ đâu, ngay một cuốn sách tầm thường mà cũng không có, chà! Vị sư đệ này thật là tâm kế sâu xa.

Địch Vân hỏi:

– Rồi sau sao nữa?

Ngôn Đạt Bình đáp:

– Sau Vạn Chấn Sơn đột nhiên mở tiệc thọ phái đệ tử đi mời Thích Trường Phát đến Kinh Châu, dĩ nhiên tiệc thọ là chuyện giả trá, thám thính hư thực của sự đệ mới là chuyện thật. Thích Trường Phát đưa con gái đi, lại còn một tên đồ đệ ngớ ngẩn tên gọi Địch Vân gì đó cũng đi theo. Đang dự tiệc Địch Vân cùng tám tên đệ tử ở Vạn gia xảy cuộc ẩu đả, Địch Vân tiết lộ ba chiêu kiếm tinh diệu khiến cho Vạn Chấn Sơn sinh lòng ngờ vực... Ân công! Ân công có biết tại sao không?

Địch Vân lắc đầu.

Ngôn Đạt Bình lại nói:

– Vạn Chấn Sơn mời Thích sư đệ vào thư phòng đàm luận, y buộc cho Thích sư đệ đã lấy được kiếm phổ Vương Kiếm và truyền dạy cho Địch Vân, hai người khích bác nhau, trở mặt thành thù Thích Trường Phát phóng kiếm đâm thương Vạn Chấn Sơn rồi chạy trốn. Lạ quá! Thật là quái lạ!

Địch Vân hỏi:

– Điều gì quái lạ?

Ngôn Đạt Bình đáp:

– Từ ngày ấy Thích Trường Phát mất biến không còn thấy đâu nữa, chẳng hiểu y ẩn mình xứ nào? Khi Thích Trường Phát đến Kinh Châu quyết không đem theo cuốn kiếm phổ đã lấy cắp, nhất định y chôn dấu ở một nơi bí ẩn nào đó, lão phu tưởng y đả thương Vạn Chấn Sơn còn trở về vùng này ngay đêm để lấy kiếm phổ rồi mới xa chạy cao bay, nên lúc vừa xảy ra biến cố, lão phu lập tức cỡi khoái mã đến chờ trước để dò xem y để kiếm phổ nơi đâu và sẽ tùy cơ hạ thủ. Nhưng lão phu chờ hoài thủy chung vẫn không thấy y xuất hiện, mấy năm trôi qua rồi, xem chừng vĩnh viễn y không trở lại, lão phu chẳng nể nang gì nữa ở đây phá quấy đến trời long đất lở mong đào tìm kiếm phổ, nhưng chỉ tốn công vô ích, chẳng thu lượm được kết quả nào. Nếu không có ân công ra tay cứu viện thì Ngôn mỗ đã bỏ mạng rồi. Chà chà! Vạn sư ca của Ngôn mỗ cũng là tay đáo để.

Địch Vân hỏi:

– Theo sự phỏng đoán của lão gia thì lệnh Thích sư đệ hiện giờ ở đâu?

Ngôn Đạt Bình lắc đầu đáp:

– Cái đó Ngôn mỗ không đoán ra được, có điều lưới trời lồng lộng thưa mà không lọt, không chừng y mắc bẫy ở chỗ nào rồi, có khi y gặp việc gì ra ngoài sự tiên liệu, tỷ như bị sài lang hổ báo ăn thịt.

Địch Vân thấy lão nguyền rủa sư phụ gặp tai họa, lại lộ vẻ hân hoan, trong lòng thật chán ghét, nhưng chàng lại nghĩ thầm:

– Sư phụ chẳng có tin tức gì, không chừng đã gặp điều bất hạnh thực sự.

Chàng liền đứng dậy nói:

– Đa tạ lão gia đã cho tại hạ biết hết chẳng dấu diếm gì, bây giờ tại hạ xin cáo từ.

Ngôn Đạt Bình kính cẩn xá ba xá nói:

– Đại đức của ân công, Ngôn Đạt Bình này vĩnh viễn không bao giờ dám quên.

Địch Vân đáp:

– Chút việc nhỏ mọn này có gì đáng kể? Lão gia bất tất phải bận tâm, ngày trước lão gia đã đến đây dưỡng thương mà Vạn Chấn Sơn kiếm không ra thì nay lão gia cũng cứ vững dạ.

Ngôn Đạt Bình cười nói:

– Hiện giờ chắc y đang nóng ruột như kiến bò trên nồi rang không tưởng đến chuyện kiếm lão phu nữa.

Địch Vân lấy làm kỳ hỏi:

– Tại sao vậy?

Ngôn Đạt Bình mỉm cười đáp:

– Con rết độc của Ngôn mỗ cắn tay con y bị thương phải liên tục rịt thuốc mười lần mới hết được độc tính, nay mới rịt một lần đã ăn thua gì?

Địch Vân kinh hãi hỏi:

– Vậy tính mạng Vạn Khuê không bảo toàn được ư?

Ngôn Đạt Bình đắc ý đáp:

– Thứ rết sặc sỡ này không phải tầm thường, nó là một loài rết khác lạ từ đất Hồi Cương bên Tây Vực đưa tới, hay ở chỗ Vạn Khuê không chết ngay, gã còn rên rỉ kêu la đủ một tháng mới hết đời. Ha ha! Thế mới tuyệt diệu!

Địch Vân nói:

– Nếu sau một tháng mới chết thì chẳng cần vội vã gì, gã đi kiếm lương y rồi cũng tìm ra được cách giải độc.

Ngôn Đạt Bình đáp:

– Ân công có điều chưa rõ là giống rết độc này do tiểu lão chăn nuôi, từ lúc nó còn nhỏ tiểu lão đã cho chúng ăn những thứ giải dược, nên những thuốc giải tầm thường nó quen cả rồi, không còn hiệu nghiệm nữa, những y sinh y thuật cao đến đâu cũng chỉ dùng thuốc thông thường trị độc ăn thua mẹ gì? Độc môn thuốc giải mà giống rết này chưa ăn ở trên đời này, ngoài tiểu lão, không còn người thứ hai nào biết đường phối chế. Ha ha!

Địch Vân liếc mắt nhìn lão nghĩ bụng:

– Lòng dạ Ngôn sư bá ác độc như vậy thật là đáng sợ, lần sau có khi lão cho rắn độc cắn mình cũng chưa biết chừng, Đinh đại ca thường nói mình đã bôn tẩu giang hồ thì không có lòng hại người là phải, nhưng chẳng thể không đề phòng người bất trắc. Chi bằng ta hỏi lão lấy ít thuốc giải để phòng sẵn trong mình cho khỏi lo về sau.

Chàng liền nói:

– Bình thuốc giải của lão gia cho tại hạ quách!

Ngôn Đạt Bình đáp:

– Dạ!

Nhưng lão chưa lấy ra ngay đưa cho Địch Vân mà còn hỏi lại:

– Không hiểu ân công lấy thuốc này để làm gì?

Địch Vân đáp:

– Rết độc của lão gia cực kỳ lợi hại! Lỡ ra tại hạ bất cẩn để nó cắn trúng, trong mình phải có bình thuốc giải mới yên tâm được.

Ngôn Đạt Bình bẽn lẽn cười nói:

– Ân công đã có ơn cứu mạng tiểu lão, khi nào tiểu lão lại dám gia hại? Ân công thật khéo đa nghi.

Địch Vân xòe tay ra nói:

– Không dùng đến nhưng để trong mình đề phòng sẵn cũng không hề gì.

Ngôn Đạt Bình lại "Dạ" mấy tiếng rồi lấy bình thuốc ra đưa cho Địch Vân.

Địch Vân xuống núi trở về tòa nhà rộng lớn quan sát lại thấy hương dân đã giải tán cả rồi, quản gia cùng cai thợ không biết đi đâu. Trong nhà quạnh quẽ không một bóng người.

Địch Vân bụng bảo dạ:

– Sư phụ chết rồi, sư muội đi lấy chồng, từ đây sắp tới không bao giờ ta trở lại chốn này nữa.

Sau chuyến này chàng lủi thủi một mình, không khỏi bâng khuâng trong dạ.

Địch Vân đến ngoài Kinh Châu hỏi dò tin tức, biết là Lăng Thoái Tư vẫn còn làm tri phủ ở đây, chàng liền bôi mặt mũi lem luốc để che dấu chân tướng rồi mới vào thành.

Ý niệm đầu tiên của chàng là muốn coi xem tình hình Vạn Khuê phải đau khổ thế nào? Chứng độc thương của hắn có trị khỏi được chưa?

Chàng cũng không hiểu hắn đã về nhà chưa hay còn ở lại Hồ Nam điều trị.

Địch Vân cất bước đến của Vạn gia, chàng ngó thấy Thẩm Thành đang lật đật từ trong cổng lớn đi ra, gã lộ vẻ rất hoang mang.

Địch Vân bụng bảo dạ:

– Thẩm Thành đã ở đây thì chắc Vạn Khuê cũng về nhà rồi, ta hãy chờ đến đêm sẽ lần lại dò thám xem sao.

Chàng nghĩ vậy rồi đi về phía vườn hoang.

Khu vườn này cách Vạn gia không xa mấy, ngày trước Đinh Điển giết Chu Kỳ, Cảnh Thiên Bá và Mã Đại Minh rồi y qua đời ở đó.Người xưa cảnh cũ, bây giờ chàng thấy khắp nơi cỏ dại mọc đầy cùng những đống gạch ngói vỡ ngổn ngang, phong cảnh chẳng có gì khác trước.

Địch Vân chạy đến gốc mai già vuốt ve thân cây chỗ lồi chỗ lõm, miệng lẩm bẩm:

– Ngày trước Đinh đại ca từ giã cõi đời ở dưới gốc mai này cây mai vẫn còn y nguyên như cũ mà Đinh đại ca đã biến thành gói cốt hôi.

Chàng ngồi dưới gốc mai nhắm mắt dưỡng thần rồi ngủ đi.

Đến canh hai, Địch Vân tỉnh giấc, lấy lương khô trong bọc ăn lót dạ rồi rời khỏi khu vườn hoang đi thẳng tới Vạn gia.

Chàng quanh ra cổng sau vượt tường vào trong.

Chàng tới hậu viện không khỏi đau lòng, lẩm bẩm:

– Ngày trước ta bị trọng thương ẩn trong phòng chứa rơm khô, củi khô, sư muội chẳng cứu ta thoát nạn đã là độc địa, mà còn kêu trượng phu đến giết ta, mới thật tàn nhẫn!

Chàng toan cất bước tiến về phía trước, đột nhiên thấy bên hồ nước có ba chấm lửa thấp thoáng, liền dừng bước lại.

Địch Vân ẩn mình sau gốc cây nhìn về phía có ánh lửa, chàng chú ý nhận ra ba chấm lửa này là ba cây hương ở trong lò cháy đã gần tàn, lò hương đặt trên cái ghế nhỏ, trước ghế có hai người đang quì vừa lạy vừa ngẩng đầu lên nhìn trời.

Địch Vân lại thấy rõ hai người này là Thích Phương và một đứa con gái nhỏ tuổi, con nàng tên gọi Không Tâm Thái.

Chàng lắng tai nghe thấy Thích Phương miệng lâm râm cầu chúc:

– Tuần hương đầu cầu hoàng thiên phù hộ cho phu quân của tiện nữ thoát khỏi tan nạn, giải thương khử độc, không bị nọc rết làm đau khổ nữa.

Nàng lại giục con gái:

– Không Tâm Thái! Ngươi khấn đi! Cầu đức bồ tát phù hộ cho gia gia mau lành bệnh.

Con nhỏ nói:

– Phải rồi! Má má! Cầu đức bồ tát phù hộ cho gia gia hết đau, đừng kêu la nữa.

Địch Vân tuy đứng cách xa nhưng mẹ con nàng nói gì chàng đều nghe rõ hết, chàng biết Vạn Khuê sau khi trúng độc quả nhiên vẫn còn đau khổ, trong lòng cũng lấy làm mừng cho kẻ hiểm ác phải chịu quả báo, nhưng chàng phẫn nộ Thích Phương đối với trượng phu tình thâm nghĩa trọng như vậy.

Lại nghe Thích Phương khấn:

– Tuần hương thứ hai tiểu nữa cầu đức hoàng thiên phù hộ cho gia phụ bình yên, tai nạn qua khỏi, mau chóng trở về.

Đoạn nàng giục Không Tâm Thái cầu đức Bồ Tát bảo hựu ngoại công sống lâu trăm tuổi.

Con nhỏ nói:

– Ngoại công! Ngoại công mau trở về! Sao ngoại công không trở về?

Thích Phương nói:

– Ngươi cầu đức Bồ Tát phù hộ cho ngoại tổ đi!

Con nhỏ đáp:

– Đức Bồ Tát đã bảo vệ cho gia gia lại bảo vệ cho ngoại công nữa.

Trước nay nó chưa gặp Thích Trường Phát, bây giờ má má bảo nó cầu đảo, trong lòng nó liền nhớ tới tổ phụ và phụ thân.

Thích Phương dừng lại một lát rồi khấn:

– Tuần hương thứ ba cầu hoàng thiên bảo vệ cho y được bình yên, mọi sự như ý, sớm lấy được hiền thê và sinh quí tử...

Nàng khấn tới đây thanh âm không khỏi nghẹn ngào, đưa tay áo lên lau nước mắt.

Con nhỏ hỏi:

– Má má! Má má lại nhớ đến cữu cữu rồi ư?

Thích Phương giục:

– Con nói đi! Cầu đức hoàng thiên phù hộ cho Không Tâm Thái cữu cữ được bình an...

Địch Vân nghe lời cầu chúc này trong lòng rất lấy làm kỳ tự hỏi:

– Nàng cầu chúc cho ai đây?

Chàng nghe nàng nói đến năm chữ "Không Tâm Thái cữu cữu" tai chàng bất giác ù đi, miệng chàng lẩm bẩm:

– Nàng đang nói đến ta! Nàng đang nói đến ta!

Con nhỏ hỏi:

– Má má mong nhớ Không Tâm Thái cữu cữu, đức Bồ Tát bảo vệ cho cữu cữu, cung hỷ phát tài, mua cho Không Tâm Thái một con búp bê lớn, cữu cữu là Không Tâm Thái, hài nhi cũng là Không Tâm Thái. Má má ơi! Không Tâm Thái cữu cữu đi đâu sao không thấy trở về?Thích Phương đáp:

– Không Tâm Thái cữu cữu đi xa lắm, cữu cữu bỏ má má, nhưng má má ngày nào cũng nhớ cữu cữu...

Nàng nói tới đây bồng đứa con nhỏ đứng lên áp mặt vào ngực nó rảo bước về nhà.

Địch Vân tiến đến bên lò hương nhìn ba chấm sáng lấp loáng như ngây như dại, ba nén hương cháy hết thành than, chàng vẫn đứng yên không nhúc nhích.

Trời sáng rồi, Địch Vân từ trong hậu viện ở Vạn gia đi ra, đầu óc bâng khuâng chàng đi quanh quẩn trong thành Kinh Châu.

Bỗng nghe mây tiếng loảng xoảng vang lên, một thầy lang dạo vừa đi vừa lắc nhạc bán thuốc rong trên đường phố.

Địch Vân động tâm, chàng muốn mắt nhìn Vạn Khuê xem tình trạng rên la đau khổ như thế nào, liền lấy ra mười lạng bạc để mua cái rương thuốc cùng bộ quần áo của lão.

Thầy lang rất lấy làm kỳ, nhưng những đồ của lão chẳng có gì đáng tiền nhiều lắm chỉ năm lạng là cùng, lão thấy Địch Vân trả đắt gấp đôi liền vui lòng bán cho chàng ngay.

Địch Vân trở lại khu vườn hoang thay đổi mặc y phục của thầy lang, chàng vắt nắm cỏ lấy nước bôi lên mặt, lại dán một lá cao vào phía dưới mi mắt phía bên trái cho gương mặt khác hẳn đi rồi lầm lũi quanh ra trước cửa Vạn gia.

Địch Vân vừa lắc nhạc vừa đi tới, miệng chàng rao:

– Chuyên trị bệnh chứng nguy nan, da dẻ sưng tấy bị trùng độc cắn, công hiệu tức khắc.

Chàng qua lại ba lần thì thấy một người từ trong cổng lớn lật đật đi ra vẫy tay nói:

– Này thầy lang! Lại đây! Lại đây!

Địch Vân nhận ra gã này là Ngô Khảm, năm trước gã đã hớt đứt ngón tay của chàng.

Địch Vân đã hóa trang khác hẳn ngày trước, dĩ nhiên Ngô Khảm không nhận ra được.

Chàng còn sợ gã nhận ra thanh âm nên hạ thấp giọng xuống hỏi:

– Bệnh nhân có dặn gì không? Phải chăng y mắc tạp chứng nghi nan và người sưng lên?

Ngô Khảm "Ủa" một tiếng rồi đáp:

– Thầy lang coi lại tại hạ xem có giống người trúng phải chất độc rồi sưng lên không? Này! Tại hạ hỏi thầy lang bị rết độc cắn có trị được chăng?

Địch Vân đáp:

– Những giống rắn độc như Thanh Trúc Xà, Xích Luyện XÀ, Kim Cước Đới, Thiết Sạn Đầu, tức là những thứ rắn độc nhất thiên hạ, tại hạ đều có thuốc trị, còn con rết ư? Hà hà! Cái đó phỏng có gì đáng kể?

Ngô Khảm nói:

– Thầy lang đừng nói khoác vội, giống rết này không phải rết thường, bao nhiêu danh y thành Kinh Châu đều lắc đầu mà thầy chữa được khỏi ư?

Địch Vân chau mày đáp:

– Có giống rết lợi hại như vậy sao? Những rết trong thiên hạ bất quá là Hồi Mai Yết, Kim Tiền Yết, Ma Đầu Yết, Hồng Vỹ Yết, Lạc Đại Giảo Nương Yết, Bạch Cước Yết...

Chàng kể ra hai mươi mấy thứ rết, rồi nói:

– Nọc rết độc mỗi thứ một khác vậy thuốc điều trị cũng không giống nhau, dù là danh sư mà không hiểu hết chưa chắc đã chữa được.

Ngô Khảm thấy thầy lang mặt mũi xấu xa, hủ lậu, quần áo lam lũ đã có ý coi thường, tuy chàng kể ra hàng tràng rết độc, nhưng miệng nói ấp úng không được lưu loát, rõ ràng, nên gã vẫn chưa tin là người có bản lãnh, liền nói:

– Đã vậy, thầy thử vào coi xem, không chừng ngựa chết chữa được ngựa sống, hay lợn lành chữa ra lợn què.

Địch Vân gật đầu theo gã tiến vào Vạn Phủ.

Chàng vừa bước qua cổng liền nhớ tới ngày trước đi theo sư phụ cùng sư muội đến đây bái thọ, khi đó chàng còn là một gã thiếu niên quê mùa mới lên thành thị, thấy cái gì cũng mới lạ, chàng cùng sư muội nhìn ngang nhìn ngửa, chỉ trỏ rối rít, nhưng tâm tình bữa nay không giống trước nữa.

Địch Vân theo Ngô Khảm qua hai cái sân đến trước tòa lầu ở mé đông.

Ngô Khảm ngửa mặt lên lớn tiếng gọi:

– Tam sư tẩu! Có vị lang trung chuyên trị rết độc tới đó, tam sư tẩu có để y vào coi cho sư ca không?

Cánh cửa lầu mở ra, Thích Phương thò đầu qua cửa sổ đáp:

– Hay lắm! Đa tạ Ngô sư đệ! Bữa nay lệnh sư ca đau quá! Mời tiên sinh lên lầu.

Ngô Khảm nhìn Địch Vân bảo:

– Tiên sinh lên đi!

Gã toan rút lui.

Thích Phương nói:

– Ngô sư đệ cũng lên đây giúp dùm.

Địch Vân lên lầu liền ngó thấy mốt cái bàn lớn kê cửa sổ chính giữa, trên bàn có đủ giấy bút mực và mười mấy cuốn sách, lại có cả một cái áo trẻ con đang đan dở.

Thích Phương từ trong phòng tiến ra nghênh tiếp, mặt nàng không hoa phấn, dung nhan rất tiều tụy.

Địch Vân ngó nàng một cái rồi sợ nàng nhận ra mình, không dám nhìn lâu, cất bước tiến vào.

Trên giường lớn, một người nằm quay mặt vào phía trong miệng không ngớt rên la, chính là Vạn Khuê.

Đứa con gái nhỏ ngồi trên ghế cạnh giường đang đấm chân cho gia gia, nó thấy Địch Vân mặt mũi lem luốc, hình dong cổ quái la lên một tiếng kinh hãi rồi ẩn vào sau lưng mẫu thân.

Ngô Khảm nói:

– Tại hạ thấy sư ca bị rết độc cắn thương mà độc tính thủy chung không tiêu tan hết, dường như có điểm khác lạ.

Địch Vân hỏi:

– Thế ư?

Lúc còn ở ngoài cổng chàng nói chuyện với Ngô Khảm vẫn giữ được vẻ tự nhiên, nhưng bây giờ ngó thấy Thích Phương, trái tim đập thình thịch, chàng cảm thấy mặt nóng bừng môi miệng khô ráo, nói không nên lời.

Chàng đi tới trước Trung Nguyên giường khẽ vỗ vai Vạn Khuê.

Vạn Khuê từ từ xoay mình lại dương mắt lên nhìn Địch Vân bất giác trong lòng hơi kinh ngạc.

Thích Phương nói:

– Tam ca! Tiên sinh đây là một vị lang trung do Ngô sư đệ tìm được, tiên sinh... tiên sinh có linh dược để trị thương cho tam ca.

Giọng nói của nàng thực ra không tin tưởng mấy ở thầy lang.

Địch Vân nhìn mu bàn tay Vạn Khuê sưng lên và tím đen một quầng coi rất kỹ, liền cất tiếng ấm ớ nói:

– Đây là giống rết độc sặc sỡ ở giải Nguyên Lăng miền Tương Tây cắn phải, tại Hồ Bắc chúng ta không có giống rết này.

Thích Phương và Ngô Khảm đồng thanh đáp:

– Đúng thế! Đúng thế! Y bị rết độc ở Nguyên Lăng cắn đó.

Thích Phương lại nói:

– Tiên sinh đã biết lại lịch giống rết này, chắc là chữa được.

Giọng nói của nàng lúc này chứa chan hy vọng.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau